CHIÊU HỒI NGÔN TỪ
Tâm
Thanh
Người
tỵ nạn ra đi không mang theo hành lư nào ngoài chút di sản tinh thần,
trong đó có ngôn ngữ. Trong gia đ́nh, ta vẫn nói tiếng Việt, suy
nghĩ như người Việt, và v́ lư do nọ lư do kia, vẫn tiếp xúc với
tiếng Việt nơi quê cũ. Người yêu tiếng Việt và để ư một chút các
hiện tượng ngôn ngữ, sẽ đau ḷng thấy tiếng Việt nơi đất Việt xuống
dốc thê thảm. H́nh bên cho thấy 10 người làm văn hóa tại Việt Nam
tươi cười giữa màu đỏ chói cách mạng dưới khẩu hiệu “bánh trưng”.
Một lỗi chính tả như thế trước hằng trăm (hay ngàn?) con mắt mà
không ai thấy, tố cáo sự ngu dốt, nhưng ngu dốt không phải là một
tội lỗi. Coi thường di sản tinh thần dân tộc mới là tội lỗi. Ráng
vận động cho Vịnh Hạ Long được liệt vào hàng kỳ quan thế giới, trong
khi bỏ bê tiếng mẹ đẻ, là phô trương cái cành mà hủy lấp cái gốc của
văn minh – tiếng nói. Họ cử cán bộ ra ngoại quốc mở lớp Việt ngữ
cho con em “Việt kiều”, trong khi cán bộ nói tiếng Việt sai, ngọng,
chứng tỏ họ không định bảo tồn tiếng Việt, mà chỉ để đầu độc con nít.
Mục đích
của bài này là tŕnh bày sự bê bối của tiếng Việt tại Việt Nam bây
giờ; sau đó, đặt vấn đề nên ứng xử như thế nào, trong đó tôi chủ
trương “chiêu hồi” – không vất bỏ những chữ ta quen đóng dấu là “từ
Việt cộng”, mà trả chúng về vị trí ngôn ngữ nguyên thủy của chúng,
và sử dụng chúng một cách đúng đắn.
Nhưng trước
hết những chữ nào đă bị đóng dấu lầm?
1. NHỮNG TỪ NGỮ BỊ ĐÓNG DẤU LẦM
Tôi chọn
bảng “Đối chiếu từ ngữ VC và từ ngữ VNCH” (trong bài Nỗi
buồn tiếng Việt sau 1975, Diễn đàn Điện tử Việt Nam) của tác giả
Trần Văn Giang, làm khởi điểm bàn luận, v́ nó phong phú nhất, tác
giả là người nghiên cứu và viết nhiều về văn hóa, chính ông đă kêu
gọi góp ư cho bảng đối chiếu công phu của ông.
Đôi khi tôi
bắt chước ông, dùng chữ “VC” và “VNCH”. Nhưng tôi thích ư niệm
“miền ngôn ngữ” hơn – để chỉ một bên là tiếng Việt, bên kia là
đặc ngữ XHCN. Tôi cũng xin cáo lỗi trong phần chú thích ngoại ngữ
tôi dùng tiếng Na-uy là tiếng quê hương mới của tôi, nhưng để độc
giả ở xứ khác cũng thông cảm, tôi thêm tiếng Anh là tiếng tôi biết
lơm bơm.
Trong hơn
200 cặp từ ngữ của ông TVG, tôi trích 25 cặp gồm 10 cặp đầu tiên,
sau đó nhặt t́nh cờ :
Từ
ngữ VC Từ ngữ
VNCH
ấn tượng
đáng ghi nhớ, đáng nhớ
bác sỹ,
ca sỹ bác sĩ, ca sĩ
bang tiểu bang
bảo quản
che chở, giữ ǵn
bài nói
diễn văn
bèo
rẻ tiền
bóng đá
túc cầu
bổ sung
thêm, bổ túc
bồi
dưỡng (hối lộ?) nghỉ ngơi, săn sóc, chăm nom, ăn uống đầy
đủ
bức xúc
dồn nén, bực tức
bất ngờ
ngạc nhiên
cách ly
cô lập
cảnh báo
báo động, lưu ư
chất xám
trí tuệ, thông minh
chế độ
quy chế
động
thái động lực
động năo
vận dụng trí óc, suy luận, suy nghĩ
hoành
tráng nguy nga, tráng lệ, đồ sộ
huyện
quận
lư giải
giải thích (explain)
nâng cấp
nâng hoặc đưa giá trị lên
nhà khách
khách sạn
nhất
quán luôn luôn, trước sau như một
thị phần
thị trường
xác tín
chính xác
Nhận xét:
“Ấn
tượng”: tiếng của hai miền. Từ hồi c̣n
nhỏ, tại Sài G̣n, tôi đă đọc, nghe “trường phái ấn tượng, ấn
tượng c̣n đậm trong trí cô Tư, bản nhạc gây ấn tượng quê hương”.
Cái khác là ngày nay trong nước dùng “ấn tượng” vừa như danh từ vừa
như động từ. Ngày xưa ta nói “Bản nhạc gây ấn tượng”, ngày
nay người trong nước nói “Bản nhạc ấn tượng”, chỉ bớt đi chữ “gây”!
“Đáng ghi nhớ, đáng nhớ” không phải là tiếng Việt tương
đương cho “ấn tượng”
“Bác sỹ”:
viết y-dài là sai, nhưng – cũng như trường hợp “bánh trưng” –
không phải nhà cầm quyền chủ trương như vậy. Cứ giở sách báo hai
miền ra đọc, ta sẽ thấy cả hai miền đều nhiều người viết đúng, ít
người viết sai.
“Bang”:
Ta quen nghe “tiểu bang” khi nói về state của Mỹ, nên
thấy không thuận tai khi nghe người Hà Nội gọi tắt là “bang”.
Nhưng “bang” (đứng một ḿnh) đă được dùng ngay từ thời Trạng
Tŕnh – “Sấm động nam bang / Vũ quá bắc hải”.
“Bảo
quản”: Việt Nam Tự điển Lê Văn
Đức,“bảo-quản đt (Pháp): Bảo thủ và quản xuất, giữ sổ bộ, đăng kư,
điền thổ, cải chính và cấp phát bản sao”
“Bài nói”:
Tôi gặp “bài nói chuyện, bài tham luận, bài phát biểu” ở cả
hai miền, mà chưa gặp “bài nói” đứng một ḿnh bao giờ (nhưng
tôi tin rằng tác giả TVG có gặp nên mới chép vào bảng đối chiếu).
Ngược lại, chữ “diễn văn” tôi thấy nhan nhản trên báo chí
Việt cộng, VNCH và hải ngoại. Như vậy “diễn văn” là chữ Việt thông
dụng ở mọi miền.
“Bèo”
là nói tắt thành ngữ dân gian “rẻ như bèo”, tiếng lóng, chưa
thấy trong văn bản chính thức của CS. Và tất nhiên “rẻ” được
dùng rộng răi ở cả hai miền ngôn ngữ.
“Bóng đá”:
Đào Đăng Vỹ, trong Pháp Việt Từ điển, dịch football là:
môn bóng tṛn, túc cầu, đá bóng, đá banh. Vậy nói “bóng đá”
không sai, nhưng ngày nay trong nước dùng thay cho “túc cầu”.
“Bổ
sung” ta cũng dùng rất thường trong
Nam – “bổ sung quân số”, “lần tái bản này đă được bổ sung”.
Vậy “bổ sung” và “bổ túc” được dùng ở cả hai miền ngôn
ngữ.
“Bồi
dưỡng” được dùng ở cả hai miền (Miền
Nam, xin coi Việt Nam Tự điển Lê Văn Đức, chẳng hạn). Cán bộ cs nói
“kỳ hè giáo viên đi bồi dưỡng” nghe kỳ cục, nhưng nếu nói
“bồi dưỡng chính trị” th́ về phương diện ngữ pháp, không có ǵ
sai cả. Tác giả TVG có lư khi cho rằng “tẩm bổ” là từ tương
đương; những chữ c̣n lại (nghỉ ngơi,
săn sóc, chăm nom, ăn uống đầy đủ)
là mô tả chi tiết chứ
không phải danh từ tương đương với “bồi dưỡng”.
“Bất
ngờ” và “ngạc nhiên” đều được
dùng ở cả hai miền. Nhưng hai chữ có ư nghĩa khác nhau hoàn toàn.
“Bức
xúc” là tiếng đặc thù trong xă hội VN
bây giờ. Nhưng ông TVG đưa hai chữ “dồn nén” và
“bực tức” làm chữ tương ứng của VNCH, th́ không đúng.
“Cách ly”
và “Cô lập” đều được dùng ở cả hai miền ngôn ngữ. Việt Pháp
Từ điển Đào Đăng Vỹ: “cách ly, cách biệt: séparé l’un de
l’autre”. “Cách ly” và “cô lập” không đồng nghĩa hoàn toàn với nhau,
thí dụ trong câu sau, c̣n nghịch nhau là đàng khác: “Cần cách ly
bệnh nhân này, nhưng đừng cô lập họ”.
“Cảnh
báo” và “báo động” được dùng ở
cả hai miền. Thí dụ Miền Nam: Việt-Pháp Từ điển Đào Đang Vỹ viết“Cảnh
báo” : signaler, avertir. Tân Đại Tự điển Việt Anh Nguyễn
Văn Tạo: “Cảnh báo: alarm”. Chính xác hơn, cảnh báo là
báo trước nguy cơ có thể tới để đề pḥng; báo động là báo khi nguy
cơ bắt đầu xảy ra để tránh thoát.
“Chất
xám” vẫn được dùng tại Miền Nam (môn vạn vật lớp đệ tứ và đệ nhị)
với cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng (trí thông minh) Cả hai đều được
dùng tại VNCH. Bảo “chất xám” chỉ được VC dùng, là sai.
“Chế độ”
và “quy chế”: cả hai được dùng tại Miền Nam, với ư nghĩa khác
nhau. “Chế độ”: thể chế chính trị,
ăn theo chế độ, chế độ cũ/mới, chế độ thuế khóa. “Quy chế”:
quy chế công chức, quy chế nghiệp đoàn. Không hiểu căn cứ vào đâu mà
bảo rằng chữ “chế độ” của VC có nghĩa tương đương với “quy
chế” của VNCH.
“Động
thái” và “động lực” hoàn toàn
khác nhau, nhất là trong lănh vực tâm lư, một đàng biểu lộ ra, một
đàng tiềm tàng bên trong. “Động thái” hay “tác phong”:
(Anh: behavior, Na-uy: atferd): hành vi biểu lộ ra bên ngoài quan
sát được; ta có chữ “trường phái tâm lư học động thái/ tác phong”
(behaviorism). Động lực: (Anh: motive; Na-uy: motiv) là sức
ngầm thúc đẩy hành vi. Td: “Cảnh sát chưa t́m ra động lực của vụ
giết người”. Cả hai chữ đều được dùng tại Miền Nam; nếu chúng
không được phổ biến, là v́ chúng thuộc lănh vực chuyên môn chăng.
“Động
năo” cũng là danh từ quen thuộc tại Miền Nam (ít nhất trong môn
tâm lư sư phạm). “Vận dụng trí óc”
gần đúng với “động năo”, nhưng không phải là chữ của Miền Nam
thay cho “động năo”. C̣n “suy luận, suy nghĩ” đều được
dùng ở cả hai miền, với nghĩa hơi khác với “động năo”.
“Hoành
tráng” theo Tự điển Lê Văn Đức đồng
nghĩa với “hoành lệ” nghĩa là “rộng lớn, đẹp đẽ” (đúng
như ông TVG hiểu). Như vậy “hoành tráng” thuộc kho tàng ngữ
vựng Việt Nam, không nên hiến cho VC độc quyền. (Tại sao ta có
khuynh hướng dị ứng với chữ này và nhiều chữ khác, tôi sẽ có vài
ḍng giải thích ở phần hai).
“Huyện” và “quận”
là danh từ chỉ đơn vị hành chánh qua bốn thời đại, Pháp, Quốc gia (Bảo
Đại), VNCH và VN XHCN. Thời Pháp huyện nhỏ gọi là “huyện” (đứng
đầu là tri huyện), huyện lớn
gọi là “phủ” (đứng đầu là
tri phủ hay đốc phủ sứ). Thời Bảo Đại, tương tự. Thời
VNCH tất cả đều gọi là “quận”, không phân biệt lớn hay nhỏ,
thành thị hay nông thôn, đứng đầu là “quận trưởng”. Ngày nay
dưới chế độ CS, ở thành thị đơn vị hành chánh này gọi là “quận”,
ở nông thôn gọi là “huyện”
“Lư giải”
và “giải thích”: Cả hai đều được
dùng từ lâu ở cả hai miền. Hai chữ có nghĩa khác nhau.
Giải thích là cắt nghĩa.
Lư giải là giải nghĩa tường tận cho ra lẽ.
“Nâng
cấp” đúng là từ ngữ riêng của VC và
phần nào có nghĩa là “nâng/ đưa giá trị lên” như tác giả TVG
nói. Nhưng chữ tương đương phía Việt Nam th́ tùy trường hợp – nếu
VC nói “nâng cấp cái ô tô” ta nói “trùng tu cái xe hơi”;
VC nói “nâng cấp đường xá”, ta nói “tu bổ đường xá”;
VC nói “nâng cấp khuôn mặt” ta nói “sửa mặt”. Tóm
lại linh động là một đặc tính của tiếng Việt; máy móc là một đặc
tính của tiếng VC.
“Nhà
khách” đối với “khách sạn”:
điều này tôi miễn bàn, độc giả tự nhận thấy ngày nay c̣n bao nhiêu
hotel tại VN được gọi là “nhà khách”. Hơn nữa, theo qui ước
ngành du lịch, “nhà khách” hay “nhà trọ” có tiêu chuẩn
thấp hơn “khách sạn”.
“Nhất
quán” không phải là từ ngữ riêng của VC, và “luôn luôn,
trước sau như một” không phải chữ tương ứng của VNCH. Ông Lê Văn
Đức định nghĩa rất chính xác, gọn mà thâm thúy: “Nhất quán: một
lẽ mà suốt cả mọi lẽ. Thí dụ: lư thuyết nhất quán”. Chữ “nhất
quán” quư lắm, không thể bán rẻ cho VC được!
“Thị
phần” theo các nhà kinh tế trong nước
ngày nay là bách phân mà VN chiếm được trên thị trường thế giới, thí
dụ họ nói “Cà phê Việt Nam có thị phần rất nhỏ trên thị trường
thế giới”. Theo sự hiểu biết nông cạn của tôi, VNCH không có chữ
“thị phần”. C̣n chữ “thị trường” được phổ biến ở cả
hai miền.
“Xác tín”
là tin chắc , “chính xác” là đúng y, hai chữ không liên quan
ǵ tới nhau, và được dùng đề huề ở cả hai miền (thậm chí có thể Miền
Nam dùng “xác tín” nhiều hơn Miền Bắc). Miền Nam c̣n dùng
“thâm tín” nữa.
Kết luận:
Rất nhiều
từ ngữ mà chúng ta cho là của VC, thực ra là của Việt Nam.
Vậy tiếng
nào là tiếng VC?
2. ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ XHCN
Nhiều vị
coi đảo ngữ là một đặc tính của ngôn ngữ XHCN. Tôi không đồng ư, bởi
v́ Cụ Nguyễn Du đă đảo ngữ (“Nay hoàng hôn đă lại mai hôn hoàng”);
Tự lực Văn đoàn đảo ngữ nhiều hơn; Sáng Tạo đảo ngữ nhiều và độc đáo.
Tác dụng của đảo ngữ là thay đổi nhịp điệu và cả ư tứ nữa. Không
hoàn toàn giống nhau giữa “đơn giản” và “giản đơn”,
giữa “bảo đảm” và“đảm bảo”, giữa “thành
h́nh” và“h́nh thành”, giữa “mến yêu” và “yêu
mến”. Trong khi đó “Úc châu” hay “Châu Úc” không
khác nhau lắm về tác dụng ngữ học (tôi đoán họ viết Châu Úc
v́ cho rằng trong tiếng Việt, chủ ngữ đứng trước thuộc ngữ. C̣n ta
viết ngược lại là theo trật tự Hán Việt). Tôi cũng không thấy người
cộng sản nói tắt nhiều hơn chúng ta. Họ nói “căng” thay v́
“căng thẳng”, ta cũng nói “gay” thay cho “gay go”,
“ganh” thay cho “ganh tị”. Cũng không phải v́ thấy một
số người trong nước viết “Mỹ” thành “Mĩ” mà ta khẳng
định viết i-ngắn là VC! Y-dài i-ngắn c̣n trong ṿng tranh căi chưa
ngă ngũ ở cả hai miền, ta tạm gác qua.
Tóm lại,
i-ngắn y-dài, đảo ngữ và nói tắt, không c̣n là tiêu chuẩn thực sự
phân biệt ngôn ngữ hai miền. Vậy cái ǵ có thể giúp ta nhận ra những
dấu hiệu của ngôn ngữ xă hội chủ nghĩa?
Phát xuất từ chủ nghĩa xă hội
Những danh
từ sau đây là chính cống cộng sản, nhưng nhiều chữ không bị đóng dấu
v́ người ta coi là một đương nhiên – khi nói về chủ nghĩa xă hội th́
phải dùng từ ngữ kinh điển XHCN:
Đấu
tranh giai cấp, bóc lột, giá trị thặng dư,
tư bản, tư sản, phong kiến, tích cực, tiêu cực, tồn tại,
đề cương, phương án, phương tiện sản xuất, làm chủ tập thể, cải tạo
công thương nghiệp, tập trung cải tạo v.v.
Cộng sản
chủ nghĩa cũng mượn nhiều ngữ vựng từ Hegel như biện chứng, đề,
phản đề, hợp đề, tư duy... và thay đổi đi, thí dụ duy vật
biện chứng
Chữ “quá
độ” là đặc biệt nhất của cộng sản. Nó bao hàm cái ǵ hơn chữ
“giao thời” hay “chuyển tiếp” mà ta quen dùng.
Chữ
“vong thân” là một đặc ngữ cộng sản. Rất may nó xuất hiện trong
danh từ triết học từ trước, nên nó là Việt.
Chữ
“giải phóng” là một trong những chữ bị lạm dụng nhiều nhất. Tôi
không nói sự lạm dụng chính trị, v́ “giải phóng” kiểu Quốc tế
Cộng sản, tự nó là một sách lược (trong đó chiêu bài và phỉnh lừa
coi như vũ khí tất yếu), như “giải phóng Miền Nam”. Tôi muốn
nói họ máy móc dùng “giải phóng” cho cả những thứ lặt vặt.
Đĩa cứng trong máy vi tính đầy quá, ta “xóa bớt”, họ gọi là “giải
phóng”; ta nói “giải tỏa một khu gia cư để làm đường”, họ
nói “giải phóng...”; bớt việc cho một công nhân để họ đi tăng
cường cho chỗ khác, họ gọi là “giải phóng lao động cơ hữu...”
* Trên
đây là chữ XHCH chính cống, không nhầm lẫn vào đâu được. Có bao
nhiêu ngàn chữ loại này, tôi không rơ.
Lai Tầu
Hồ Chí Minh
ôm tập Luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc
địa, mà khóc tại Paris, được huấn luyện tại Nga, nhưng thực tập
áp dụng tại Tầu. Trọn bộ chữ nghĩa như đấu tố, quy thành phần,
xét lại, trăm hoa đua nở, cách mạng văn hóa, hộ khẩu, hộ chiếu, biên
chế, điểm và diện, tam cùng, cục, phân cục, chủ nhiệm, sự cố, khắc
phục v.v. đều là sao chép chữ tiếng Tầu.
Đến một lúc
họ nhớ ḿnh là ngườiViệt, bớt chữ Hán. Nhưng họ chỉ Việt hóa những
chữ liên quan tới “địch”, như “máy bay lên thẳng”, “lầu năm góc”,
“Nhà Trắng”. Ngược lại, trong nội bộ Đảng th́ ngôn ngữ càng ngày
càng lệ thuộc Trung quốc vỹ đại nhiều hơn.
Sự ấp úng
giữa tiếng Tầu và tiếng Việt đưa tới hiện tượng ngôn ngữ lai căng –
“cơ cấu lại vốn”, trong đó “cơ cấu” là Hán, “lại” và “vốn” là
Nôm.
Cùng ư niệm
kinh tế này, Miền Nam đă dùng năm âm tiết toàn Hán, nhưng quen thuộc,
“tái tổ chức tư bản”. Miền Nam lại theo nguyên tắc tự do, cả
trong ngôn ngữ, do đó một ư niệm có thể có nhiều cách phát biểu, như
có thể nói“xếp đặt lại vốn liếng”, ai cũng hiểu cả.
* Vậy
một đoạn văn tràn ngập chữ Tàu, là dấu hiệu đáng nghi văn Việt cộng
Lai Tây
Các học
sinh Marie Curie hay Jean-Jacques Rousseau, khi gặp nhau, xổ tiếng
Tây, là chuyện thường. Các kư giả, trí thức gặp nhau bên tách cà phê,
nói “toa toa moa moa” cũng là thường. Nhưng tại Miền Nam ít khi ta
viết tiếng Tây trên sách báo. Trái lại báo chí và cả sách giáo khoa
cộng sản VN đầy dẫy đầu Ngô ḿnh Sở:
-
Lô-gích (tiếng Pháp logique = luận lư): “Cơ cấu lại
nền kinh tế: Lô-gích hành động và cách tiếp cận” (trích báo
trong nước). Viết như vậy để ḷe thiên hạ chứ không phải để cho
người ta hiểu.
- Gu
(tiếng Pháp goût = khiếu): “Thử thách gu thẩm mỹ
style mix trùng họa tiết” (trích báo trong nước). Ba đế quốc Tầu,
Tây, Mỹ hiện diện trong một câu… thần chú, người thường không hiểu
ǵ cả.
- Mô típ
(tiếng Pháp motif = đối tượng): “Mô típ trong nghệ thuật kiến
trúc Chăm” (trích báo trong nước)
- Boa
(tiếng Pháp pourboire = tiền tặng, tiền thưởng): “Xù tiền boa,
khách nhậu bị đâm đứt cổ” (trích báo trong nước)
- Sô
vanh nước lớn (Chauvin: tên người lính “yêu nước” của Napoléon)
- Đixcua
(Pháp: discours, có hai nghĩa 1: lời, 2: bài diễn văn): các nhà
ngữ học VN XHCN lấy nghĩa thứ nhất để nói về ư niệm “câu đơn”
Có vẻ như ở
VN, ai không nhét vào bài viết của ḿnh được một vài tiếng Tây bồi,
không phải trí thức xă hội chủ nghĩa. Nhưng tôi ngạc nhiên tại sao
họ không viết thẳng discours? Kỳ cục hơn nữa, tên riêng họ
cũng phiên âm mà không kèm theo chữ gốc, Thấy một bản văn có
“Humphây, Xitavit, Xtôntenbe, Cặctơ” ta chẳng biết ai vào ai, nhưng
ta biết ngay ai là tác giả.
Biến
chứng của căn bệnh lai Tây là... dịch!
Điển h́nh
nhất là chữ “kịch tính” dịch từ “dramatic”.
Nhân mùa bầu cử tổng thống Mỹ, một tờ báo Việt Nam viết,“Cuộc
tranh cử đầy kịch tính giữa Clinton và Obama”. Hai chữ “kịch
tính” khiến ta h́nh dung ra hai tay hề lố bịch trên sân khấu
chính trị. Tiếng Việt trong sáng sẽ nói ‘cuộc tranh cử gay cấn...’,
đâu có cần dịch một cách nô lệ chữ dramatic của Tây Mỹ.
Nhân Ngày Giới trẻ Thế giới 2008, Giám mục Bùi Văn Đọc, trả lời
phỏng vấn của Vietcatholic, mô tả ĐGH Benedicto XVI là “Ngài
không xuất hiện trước giới trẻ một cách đẹp đẽ và kịch tính như vị
Giáo hoàng trước, nhưng...” Tội nghiệp, ĐGH Gioan Phaolô, tuy
hồi c̣n trẻ thích kịch nghệ, viết kịch và đóng kịch, nhưng không bao
giờ Ngài mang bộ mặt kịch tính với bất cứ ai. Cái nguy hiểm
là một người nói sai, cả nước nói sai theo, cả Đài BBC cũng nói sai
theo. Một trận đấu bóng đá sôi động quư ông bà Ban Việt ngữ
BBC cũng nói “đầy kịch tính”!
* Viết
như me tây đầu thế kỷ 20 là một dấu hiệu ngôn ngữ XHCN.
Nói phét
Nói phét –
hay hoa ngôn – là bệnh của từng cá nhân cán bộ, chung của Đảng, lan
sang dân, làm hỏng ngôn ngữ:
- “Siêu
sao chân dài”, “bánh đa siêu mỏng”, “máy siêu cao kỹ”, “tầu siêu tốc”
-
Tiếng Việt có nhiều chữ để diễn tả sinh hoạt
lư trí: trí khôn, thông minh, tinh thần, trí tuệ. Trí tuệ là
tŕnh độ cao nhất. Phật giáo coi trí tuệ là bước tới tuệ giác. Người
cộng sản đại ngôn, cái ǵ cũng choảng trí tuệ vào
“Chủ
nghĩa Mác Lê-nin đỉnh cao trí tuệ loài người”.
“Tṛ
chơi trí tuệ tại Hội chợ Đà Lạt”
“Con chó
trí tuệ”
“Game
trí tuệ”
- Muốn diễn
tả cái ǵ siêu việt hơn nữa, bắt buộc họ phải leo lên Trời (nơi họ
không tin là có)
“Đảng
thần thánh”
“Cuộc
chiến đấu thần thánh của nhân dân ta”
-
Tôi muốn nói hơi dài về chữ “hoành tráng”. Nó đă bị đóng dấu
oan. Thực ra nó là Việt Nam rặt. Như phần một đă nói, “hoành
tráng (như hoành lệ) là rộng lớn đẹp đẽ”. B́nh thường hoành
tráng thích hợp cho một dăy núi hùng vĩ, một cảnh hoàng hôn rực rỡ,
lâu đài Taj Mahal diễm lệ. Nhưng tại sao quư vị và tôi cảm thấy khó
chịu khi nghe hai chữ đó? Đơn giản lắm – v́ nó được dùng bừa băi
trong nhu cầu khoa trương, thí dụ một câu quảng cáo thương mại
“Hoành tráng trong chiếc váy đầm”! Người nói tiếng Việt, cao
hứng lắm, cũng chỉ dám nói “lộng lẫy” là cùng.
- Trước khi
Đảng Cộng sản ra đời, nhiều nhà cách mạng đă viết “Toàn dân tranh
thủ độc lập”. Chữ “tranh thủ” không phải do các ông Minh
Đồng Giáp chế ra. Nhưng người nói tiếng Việt cảm thấy tức cười khi
nhận được một thư xin tiền từ Việt Nam mở đầu, “Cháu tranh thủ
viết thư thăm chú thím”.
-
“Digital signal processing” mà dịch là “xử lư tín hiệu số”,
không phải là dở. Nhưng chữ “xử lư” trở thành lố bịch khi
người ta bỏ nó vào tô phở. Người chạy bàn trong một tiệm phở tại Hà
Nội đă hô cho nhà bếp như sau: “Xử lư hai bát phở tái nước trong!
Khẩn trương lên!”
-
Chữ “bức xúc” không lai Tàu, không lai
Tây, tượng thanh, tượng h́nh, có thể là một chữ hay. Nhưng nó đă
“hư” ngay từ khi người ta nói “Ai bức xúc th́ khẩn trương đi ỉa”.
Đây là một chữ thượng thời đại, loại như “nổi cộm”, “trăn trở”.
Nhiều chữ
khác mà người Việt hải ngoại chúng ta nghe thấy khó chịu, thật ra đă
xuất hiện trước khi mấy anh du kích cộng sản biết nói. Nhưng ta khó
chịu v́ họ dùng sai chỗ và dùng dao mổ trâu giết ruồi.
* Tóm
lại, khắc phục, bồi dưỡng, tranh thủ, động
viên, đột xuất, khẩn trương, tự giác v.v. nguyên thủy là tiếng
Việt Nam thuần túy và hay ho, bỗng biến thành lố bịch, bỗng nhiên
làm người Việt b́nh thường chừng mực ngại dùng.
Đây là loại từ ngữ thượng hạng VC.
Nói sảng
-
Trong học thuyết cộng sản có hai ư niệm đối
nghịch “chất” (quality) và “lượng” (quantity).
Ai đi tù cải tạo đều phải học câu mác-xít “Lượng biến thành chất”.
Nay người cộng sản ghép “chất” và “lượng” để nói về “phẩm
chất” (quality). Một củ khoai lang ngon ta nói “củ khoai ngon”,
người trong nước nói “củ khoai chất lượng”.
- “Lợi
nhuận” đúng ra là “lợi tức trừ chi
phí”, c̣n gọi là “lợi tức thuần” hay “lợi tức ṛng”
(Quỳnh Lâm, Từ điển chính trị, hành chánh, kinh tế, pháp luật).
Nhưng từ ngày cộng sản chiếm trọn nước, người ta dùng “lợi nhuận”
để chỉ lợi tức. Họ thường nói, “Chế độ tư bản chỉ biết
chạy theo lợi nhuận”. Nhưng tư bản xanh hay đỏ đều chạy theo lợi
lộc, chứ có bao giờ vừa chạy vừa làm tính trừ chi phí đâu!
- “Biện
lư” có nghĩa là bảo vệ công lư; “Biện lư cuộc” hay
“công tố viện” là cơ quan thay mặt xă hội truy tố người vi phạm
luật pháp. Hai danh từ luật pháp đầy đủ ư nghĩa như vậy của Chính
quyền Quốc Gia (Bảo Đại) và VNCH, đă bị thay thế bằng chữ “viện
kiểm sát nhân dân”. Hai chữ “kiểm sát”, trong ngữ cảnh
luật pháp, không nói được ǵ cả.
- “Heo
dân tộc”: tránh nói “heo mọi” là một cố gắng đáng khen,
nhưng nhắm mắt lấy công thức “người dân tộc” để áp dụng cho
con heo núi, là xúc phạm đồng bào thiểu số thượng du.
* Trong
khi tật đại ngôn làm mất giá những chữ hay sẵn có, th́ sự dốt nát
sanh ra những chữ mới vô nghĩa.
Nói vẹt
Học thuộc
ḷng và lập lại như con vẹt là chiến lược sống yên trong xă hội cộng
sản. Lá bùa “Nhờ ơn Bác và Đảng” ngày nay không c̣n được dán
nhiều trên cửa miệng người dân, nhưng vẫn gián tiếp lấp lóe trên các
cơ quan tuyên truyền. Nhưng c̣n nhiều công thức khác rất vô nghĩa:
- Kinh
tế tương đối (có tiền)
- Có
tŕnh độ (tŕnh độ học thức cao)
- Nói
chung: câu mở mồm của 90% người Việt trung b́nh trong nước. Câu
buồn cười nhất mà tôi được nghe và đă cho vào một truyện ngắn là
“Nói chung tôi không có cha mẹ”
- Nhất
định (nào đó): “khả năng nhất định”
- Hạn
chế (thiếu sót): “năm ấy bộ đội Bác Hồ c̣n hạn chế”
- Chủ
yếu (chính) “Bữa ăn cải thiện chủ yếu là khoai ḿ”; “Chủ tịch
Nước tham quan Châu Âu chủ yếu là Pháp”; “Bà ta lấy chồng ngoại, chủ
yếu để đi nước ngoài”
Nói đểu
Dưới một bề
mặt b́nh yên giả tạo, Việt Nam ngày nay thực chất là một xă hội đại
loạn – loạn chính, loạn pháp, thương luân
bại lư và loạn ngữ. Nói nhẹ nhàng là nói đểu.
H́nh bên
ghi nhận một phong thái ĂN và NÓI dưới chế độ cộng sản. Nói đểu, nói
xách mé, chửi thề, nói tục tĩu và nói dối... tuy không phải do chỉ
đạo công khai từ Trung ương Đảng, nhưng Đảng – “người lănh đạo độc
nhất và thần thánh” – có trách nhiệm hoàn toàn về sự sa đọa ngôn
ngữ của đảng viên và toàn dân. Trên thế giới không một dân tộc nào
suốt ngày đem mẹ ra mà đụ, địt liên miên, trong công sở, ngoài đường,
ngoài chợ, trong trường học, như xă hội Việt Nam ngày nay. Không một
nước nào mà con người – từ đứa bé bán vé số tới Tổng Bí thư Đảng và
cơ quan truyền thông, báo chí – có thể nói trắng thành đen, nói đen
thành trắng, như tại VN.
Chữ đểu
cáng nhất trong ngôn từ cộng sản là chữ “ngụy”. Trong
chiến tranh hai bên có thể chửi mắng nhau thậm tệ – Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm gọi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam là “Mặt trận
côn đồ”, ngược lại Hà Nội gọi Việt Nam Cộng Ḥa là “ngụy”.
Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, người cộng sản đă báo thù “nợ máu”
bằng tước bỏ quyền công dân, hành quyết, giam cầm, đày ải, tịch thu
tài sản, cướp vợ, hiếp con người chiến bại, nhân danh bản án “ngụy”;
thế là đểu, cái đểu của những tên ăn cướp. Nay họ rêu rao chính sách
ḥa hợp ḥa giải, nhưng vẫn coi người của chế độ VNCH là “ngụy”; mỗi
ngày 30.4 họ lại khơi dậy t́nh thần thù ghét “ngụy”. Mà “ngụy” là
ǵ? Là theo Mỹ. Bây giờ họ cầu cạnh Mỹ hơn VNCH – thế có phải chữ
“ngụy” là đểu ngay từ đầu không?
* Dùng
ngôn ngữ như khí cụ che đậy chân lư hoặc lừa đảo, là đặc tính tệ hại
nhất cùa văn hóa và ngôn ngữ cộng sản.
3. THÁI ĐỘ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU TIẾNG MẸ
Phục hồi vốn ngữ vựng bị dùng sai
Gia tài của
tiền nhân để lại, không lẽ ta để cho CS phá hoại? Vậy trước hết đừng
né tránh những chữ người cộng sản dùng sai, mà phải sửa lại và dùng
đúng hơn họ.
Người cộng
sản (rồi bây giờ cả nước) dùng các chữ khẩn trương, động viên,
khắc phục, tranh thủ, yêu cầu... một cách lệch lạc:
- Họ viết
sai: “Các yêu cầu của một nền kinh tế bền vững”
Ta sửa
lại: “Các điều kiện của một nền kinh tế bền vững”.
Và ta
viết lại chữ “yêu cầu” trúng cách: “Yêu cầu Nhà Nước
ngưng bán nước!”
- Họ viết
đại ngôn, “Khẩn trương đi cầu xí”
Ta sửa lại “Mau mau đi cầu!”
Và ta viết
lại chữ “khẩn trương” trúng cách: “T́nh h́nh Trường Sa
Hoàng Sa rất khẩn trương!”
Hănh diện v́ kho ngữ vựng phong phú của dân Việt và
VNCH
Chúng ta biết
chắc điều này: về phương diện ngôn ngữ và văn hóa, Miền Nam Việt
Nam là ḍng chính. VNCH giữ sự liên tục từ Chữ Nôm đến chữ Quốc
Ngữ, từ Alexandre de Rhodes tới Trương Vĩnh Kư, tới Tự lực Văn đoàn,
tới Sáng Tạo, Bách Khoa, những viện đại học, những viện nghiên cứu
độc lập, những tổ chức văn hóa, ngôn ngữ, hằng chục tờ báo ngày độc
lập, hằng trăm tập san... Và trên hết, nền tự do tư tưởng và ngôn
luận. Trong khi đó Bắc Việt độc tôn Stalin-Mao, trù dập trí thức,
bách hại Nhân văn Giai phẩm, phủ nhận công lao Alexandre de Rhodes,
cấm đoán Tự lực Văn đoàn, vào Nam đốt sách giam học tṛ. Ngày nay họ
đă cho in lại TLVĐ để kiếm tiền và nhận vơ, mở lại Trường Luật,
nhưng lỗ hổng văn học lớn c̣n đó, văn hóa và ngôn ngữ trước sau vẫn
chỉ là khí cụ tuyên truyền. Trí thức Miền Bắc nhiều người lần đầu
tiên đọc Nhân dân Giai phẩm là khi vào Nam sau năm 75!
Trên 5000 danh
từ chuyên môn luật pháp, chính trị, kinh tế, tài chánh của Miền Nam
đă được một nhóm cựu luật sư và thẩm phán chế độ cũ thu thập thành
cuốn Từ điển Pháp luật (Nhà XB KHXH Hà Nội, 1992).
Sau 25 năm
không có hoạt động tư doanh, không có đại học tự trị, không có phân
khoa luật, không có nghề luật sư và thẩm phán chuyên nghiệp... Muốn
xây dựng một quốc gia (ít nhất bề ngoài) có quy củ, họ phải dùng lại
toàn bộ ngữ vựng của VNCH.
Một vài thí dụ
trong số trên 5000 danh từ nói trên:
- “Cảnh
sát” thay thế “công an”
- “Trương
mục” đă được xếp trước “tài khoản” trong tự điển và sử
dụng nhiều hơn trong thường nhật. Nhưng dường như họ không phân biệt,
“trương mục” là một cái túi vô h́nh trong ngân hàng để ta bỏ tiền,
trong khi “tài khoản” là số tiền nằm trong đó; tài khoản c̣n là số
tiền dành cho một khoản chi/thu trong ngân sách.
- State
(Mỹ) được dịch là “tiểu bang” trong tự điển tuy báo chí vẫn
dùng “bang”
- Trong cơ
cấu tổ chức chính quyền, họ vẫn dùng “Viện kiểm sát nhân dân”,
nhưng ư niệm “công tố” đă được khôi phục trong từ điển nói
trên.
- Dần dần
trong nước đă dùng “bảo hiểm” thay cho “bảo hành”
Ngoài các
danh từ chuyên môn về luật pháp, kinh tế, hành chánh, ngôn ngữ
thường nhật cũng đổi giọng:
- “Máy
bay trực thăng” đă thay thế “máy
bay lên thẳng”
- “Hàng
không mẫu hạm” được dùng song song với
“tàu sân bay”
- “Hoa
Kỳ” thay “Mỹ”. Người cộng sản lạ lắm – thời Thế chiến II,
khi cần nịnh Mỹ th́ họ gọi “Hoa Kỳ” (“đèn Hoa Kỳ” là dấu tích
một mở màn bang giao không thành giữa Mỹ và Việt Minh); khi thù ghét
th́ họ gọi “Mĩ”; bây giờ một điều “Hoa Kỳ” hai điều “Hoa Kỳ”. Trong
chế độ cộng sản, chữ nghĩa thay đổi theo bạn thù, mà bạn thù thay
đổi theo quyền lợi Đảng, chứ không phải quyền lợi Tổ Quốc hay nhân
dân.
Không phải mọi chữ mới đều là chữ VC
Vào năm
1975 cả Miền Nam chỉ có dăm ba máy vi tính (một tại Phủ Thủ tướng,
một tại Bộ Tổng Tham mưu, một của USAID, một của hăng IBM. Có thể
nhiều nơi khác có, tôi không biết). Giới hữu trách chuyên môn có
soạn ra một cuốn ngữ vựng Anh-Việt, nhưng chỉ giải thích ư niệm,
không tạo từ nhiều. Các chuyên viên và nhân viên làm
việc trao đổi với nhau bằng tiếng Anh, tiện hơn.
Ngày nay,
v́ nhu cầu giáo dục, người ta cố gắng tạo từ. “Người ta” đây
có thể là các chuyên gia trong nước, có thể là các chuyên gia người
Việt ở hải ngoại, đă và đang chế ra các danh từ chuyên môn. Dù lúc
đầu bỡ ngỡ, ta nên công minh xét, chữ nào hay và đúng, ta dùng, chữ
nào sai ta điều chỉnh. Tôi thấy không có ǵ sai hay lố bịch, thí dụ,
trong các chữ dao diện, hiển thị, kích hoạt,
phần cứng, phần mềm... Liên quan tới danh từ kỹ thuật, tôi lấy
thí dụ “thông số” hay “biến số” (variables) là hai chữ
có từ trước, nhưng “biến số” được dùng nhiều trong sách giáo
khoa Miền Nam nên trở thành quen thuộc hơn. Ngày nay trong nước dùng
“thông số”; nếu bảo là “từ VC” th́ oan cho nó.
Trong trào
lưu toàn cầu hóa, danh từ chuyên môn hay là chữ nào có nội dung
chính xác (lột ư), nhưng h́nh thức của nó giúp ta đoán ngay được
tiếng tương đương trong Anh, tiếng Pháp, tiếng Na-uy. “Cứng/mềm”
hay “cương/nhu”, chữ nào giúp ta liên tưởng tới“hard/soft”
nhanh hơn? Tùy người. Nhưng chữ Việt và chữ Hán cũng là
một yếu tố cần cân nhắc. Danh từ chuyên môn dài ḷng tḥng cũng
không tiện.
Có người
cho “nguyên tử” là chữ Việt, “hạch tâm” là chữ VC. Tôi
cho rắng cả hai là chữ Việt, “nguyên tử” để dịch “atomic”,
“hạch tâm”: “nuclear”. Có đủ danh từ Việt tương đương
với từng danh từ quốc tế, là một điều cần thiết cho việc giao dịch,
trao đổi, giảng dạy và dịch thuật.
Chữ “căn
hộ” Trường Sinh ngữ Sài G̣n trước 75 đă dùng rồi, nhưng không
phổ biến rộng, v́ ta không có nhu cầu (h́nh thức gia cư này chỉ hạn
chế ở vài nơi như Cư xá Thanh Đa, Chung cư Nguyễn Văn Thoại, Chung
cư Nguyễn Thiện Thuật). Nay chúng ta nghe “căn hộ” th́ cho là
“từ VC”, nhưng có lẽ chúng ta chưa có chữ nào hay hơn để dịch “apartment”.
“Căn chung cư” không ổn v́ có nhiều apartment không nằm trong
chung cư. “Căn nhà” càng không ổn, v́ đă được dùng để chỉ
“house” tiếng Anh, “hus” tiếng Na-uy.
Chữ
“thông tin” không mới mẻ ǵ và được dùng ở cả hai miền. Nhưng ở
hải ngoại nhiều người dị ứng với chữ thông tin trong câu sau: “Muốn
biết thêm thông tin xin liên lạc với Sở Di trú”. Bề ngoài ta
lư luận rằng “thông tin” là động từ, không được dùng như danh từ.
Nhưng nguyên do thực là ta không thích dùng cái ǵ Việt cộng mó tay
vào. Thông dịch viên đành sửa lại “Muốn biết thêm chi tiết…”
hoặc “Muốn biết thêm tin tức…”. Nhưng trong bụng anh thông
dịch viên nghĩ rằng chữ nào phải ra chữ đó – details: chi tiết,
news: tin tức và information: thông tin . Anh ta cũng
dư biết rằng chữ thông tin có thể vừa dùng làm danh từ vừa làm động
từ.
Trước khi bác bỏ một chữ dở, nên đề nghị một chữ hay
hơn
Cloning
là một lănh vực khoa học mới mẻ. Trong nước dịch cloning:
nhân bản vô tính. Thật khó hiểu, phải ngồi phân tích một hồi mới
vỡ lẽ ra là: làm ra nhiều bản sao, không qua đường truyền giống.
Nhưng có lẽ các nhà chuyên môn trong nước sao chép chữ Tầu, nên bốn
chữ thành tối om, chưa kể nhiều người giật ḿnh khi nghe nhóm chữ
“nhân bản vô tính người”. V́ chữ “nhân” trong tiếng Việt có ít
nhất hai nghĩa: người và làm ra nhiều, người hán không rộng phải bỡ
ngỡ mấy phút tự hỏi – lấy con người làm gốc mà lại không có tính
người, là thế nào? Một chữ gây bối rối không cần thiết là một chữ
không đạt.
Khi cảm
thấy một chữ dịch không hay, tôi thường thử tự dịch lại trước khi
phê b́nh. Trường hợp cloning, tôi dịch thử là “sao sinh
vật”. Từ đó ra “human cloning: sao người”, Dolly
là một con “cừu sao - cloned sheep”. Hiện trên thế
giới chưa có “người sao” v́ chưa được phép “sao
người”.
“Processing”
(Na-uy: behandling) là một chữ tôi chịu thua không dịch được
nếu không dùng chữ “xử lư”. Text processing: trong nước dịch
“xử lư văn bản”, chưa có chữ nào hợp hơn. Có người đề nghị
“soạn thảo văn bản”, nhưng soạn thảo là viết ư ra lời, c̣n đưa
lời lên chữ và tŕnh bày trên máy vi tính, là việc khác. Vấn đề phức
tạp hơn nữa khi ta cần diễn tả bằng một danh từ chung cho cả một
tiến tŕnh – lấy thí dụ nghề mộc – bào, đánh bóng, quang dầu một tấm
ván mà tiếng Na-uy gọi là behandle và tiếng Anh treat,
th́ có lẽ không tránh được chữ “xử lư”. Một số tự điển dịch
là “chế biến”, tôi thấy có lúc hợp, có lúc không. Không hợp
trong trường hợp “Inmate Processing Center” không thể dịch là
“Trung tâm chế biến tù nhân” được.
Cá nhân tôi
đă dùng chữ “xử liệu” thay cho các trường hợp phải dùng
“xử lư” (như khoa học, cơ khí, hành chánh). C̣n thường ngày, chữ
“liệu” là tuyệt nhất, thí dụ vợ nói với chồng “Anh cứ lo
đưa con đi học đi, cơm để em liệu”.
Một chữ
khác, “kế toán sự nghiệp” trong nước dùng để chỉ kế toán của
các tổ chức bất vụ lợi. Tôi thấy khó hiểu nhưng không hiểu ư chữ
“sự nghiệp” muốn nói ǵ, nên không dám phê b́nh.
Thái độ với tiếng lóng
Cũng cần
vài hàng cho tiếng lóng. Mỗi thời, mỗi môi trường xă hội có cách ra
dấu riêng với nhau, v́ thế có tiếng lóng. Vài tiếng lóng điển h́nh
của thời đại kinh tế tư bản theo định hướng xă hội chủ nghĩa là:
đại gia, đồ khủng, hàng độc, đồ đểu, chân dài (lấy cái
cẳng để đo toàn diện nhan sắc – một điều vô lư, nhưng tiếng lóng
không có lư luận, nó được quăng vào một môi trường, thích hợp th́
tồn tại), máu (mê), phết (ra phết), bèo (rẻ như
bèo). Với tiếng lóng, ta không cần khen chê, bởi v́ không có tiêu
chuẩn khách quan.
“Bảo tồn tiếng Việt – không dùng chữ VC”
Tôi hoàn
toàn tán đồng vế thứ nhất – bảo tồn tiếng Việt là một sứ mạng cao cả
của những người may mắn được hưởng tự do tư tưởng và phát biểu.
Chính ta phải tránh những cái sai của người cộng sản, viết và nói
một thứ tiếng Việt chuẩn và đẹp. Quảng bá sách vở và tư tưởng truyền
thống Việt Nam và thế giới nhân bản. Cho con em học tiếng Việt nơi
trường lớp Việt Nam. Tránh xa những sinh hoạt do cơ quan lănh sự
Việt cộng chủ trương (ta không lường được tác hại của một lớp tiếng
Việt, một khóa học làm đèn trung thu hay một trại hè do đại sứ quán
Việt cộng tổ chức).
Nhưng tôi
muốn cẩn thận với vế thứ hai: hầu hết những chữ ta tưởng là chữ XHCH
đều là tiếng Việt thuần túy. Ta không nên tránh né những tiếng họ đă
dùng sai, mà cần “chiêu hồi” những ngôn từ ấy.
Đó là một
hành vi yêu nước trong tầm tay của chúng ta.

Oslo, mùa
đông 2011
Tâm
Thanh
--------------------------------------------------------------------------------
Em la lớn...
Mới đóng xong cửa, định quay đi, chợt thấy tít lớn trên tờ báo Aften
Posten, trước nhà bên cạnh, tôi đọc lướt qua: ”Regjeringen leter
etter kompromis” (Chính quyền t́m kiếm một sự thỏa hiệp). Tôi nhủ
thầm, nếu đúng thế th́ quả là điều tốt ..và trong ḷng gợn nhẹ một
xúc động.
Ngày thứ năm 13.01 vừa qua, trên truyền h́nh , đài NRK phát h́nh về
trường hợp một cô gái sẽ bị trục xuất ra khỏi Na Uy trong thời gian
ngắn sắp đến. H́nh ảnh một cô gái bị thúc ép phải rời nhà vào buổi
tối ngày thứ tư ...rồi sau đó có h́nh ảnh người con gái này trả lời
phỏng vấn của các kư giả...và h́nh như cô ta đoạt được giải thưởng
ǵ đó. Cảm tưởng chợt đến với tôi là lấy làm lạ với trường hợp của
cô. Bị bắt như một trường hợp tội phạm gây cấn, nhưng khi tiếp xúc
với báo giới, cô ta có vẻ tự tin ...
đến nỗi có lúc đă có vẻ hơi mỉm cười với những câu hỏi đă được nêu
ra.

Cuộc biểu
t́nh hổ trợ cho
Maria
Amelie
trước dinh thủ tướng Nauy
Tiếp theo buổi tối hôm đó, truyền h́nh đưa thêm những tin về trường
hợp cô gái này. Trông mặt cô gái rất sáng. Có vẻ lanh lợi. Đôi lúc
có nét cương quyết. Cô gái tên là Maria Amelie nhưng thoáng nghe tôi
tưởng là ”Em la”!....
Ngày thứ sáu, một vài báo Na Uy nói rơ hơn. Tờ Klassekampen (cơ quan
ngôn luận của đảng Lao động –Arbeid party-), mặt ngoài của trang
chính tờ báo, nêu câu nói của người yêu cô Amelia, ư rằng, cô ấy
hoàn toàn không phải là tội phạm, tại sao cô phải ngồi trong tù vào
buổi tối”. Bên trong trang 7, bài viết anh ta nói rơ hơn. Maria (tên
gọi của cô ta) sống tại Na Uy từ năm 16 tuổi. Cô đă có một cuộc sống
tốt, tuy không được bảo vệ bởi luật pháp. Cô có nhiều bạn người Na
Uy, là trưởng nhóm du hành của một trong những nhóm lớn nhất tại Na
Uy, làm việc với vài lễ hội lớn nhất ...và đă lấy bằng Thạc sĩ. Cô
có thể tiếp tục sống an ổn tại Na Uy với giấy tờ giả, cô có thể tiếp
tục sinh tồn như hàng ngàn người sống không giấy tờ khác, không có
sự an toàn, không được sự chăm sóc sức khoẻ, không cơ hội để đóng
thuế, không được giấy phép làm việc hay là những giấy tờ chứng minh
lư lịch bản thân.
Eivind Trædal - người yêu của Maria- viết tiếp, dù thế, cô ấy đă can
đảm, đứng ra đại diện hàng ngàn người khác cùng trường hợp và đă gửi
một đơn xin được cư ngụ tại Na Uy, riêng cho bản thân của cô, không
phải là con của cha mẹ cô ta. Đơn đă bị bác mà không cho cô ta có cơ
hội giải thích trường hợp của ḿnh tại các cơ quan di trú.
Đảng Cơ đốc Đại chúng (KrF) và Đảng tả phái (SV) đă phản ứng rất
mạnh với hành động cùa cảnh sát trong vụ bắt giữ Amelie. Cùng phản
ứng đó, có Giáo hội Na Uy (Den norske kirke) và các tổ chức như Hội
ân xá Quốc tế, Hội giúp đỡ người dân (Norsk Folkehjelp) Hội Văn bút
Na Uy và Ủy ban Helsing (Helsingforskomite). Ngoài ra, những cuộc
biểu t́nh đă xảy ra tại các thành phố lớn và phản trên trang mạng
Facebook đă thâu thập được khoảng 25.000 chữ kư.
Stine Renate Håheim, Ủy ban Tư pháp của Đảng Lao Động, nói với báo
Klassekampen rằng, ông ta đồng ư với Lønseth (1) về việc giống nhau
trong luật pháp là nguyên tắc cơ bản quan trọng. Nhưng Na Uy đă đưa
ra một chính sách cứng rắn hơn các quốc gia Liên Âu (EU), liên quan
đến việc những người đă sống lâu trên đất nước này. Chúng ta cần
những giải pháp tốt hơn cho những người không giấy tờ sống tại Na
Uy, vừa có sự quan tâm đến xă hội và đến những người có liên quan
đến việc này.
Tore O.Sandvik, người đầu tỉnh Sør-Trøndelag, thuộc Đảng Lao Động,
viết trên blogg rằng, sự việc Maria Amelies phải được cứu xét giống
nhau so với những sự việc tương tự. Nhưng cô ấy phải được lưu trú
tại Na Uy. Cô ta cần giấy tờ để hiện hữu, như cô ấy mong muốn và cô
nên ở lại đây. Cô đến đây khi c̣n vị thành niên, lớn lên và trưởng
thành. Như thế đă đủ. Nếu luật pháp không có những điều khoản về
việc này, đó không là luật.
Báo Aften Posten, trang chính phần A-magasinet, đưa h́nh cuộc biểu
t́nh trước dinh Thủ tướng. Bên trong, h́nh được phóng to hơn, kèm
theo phần đối thoại với Sjeggestad, Giám đốc UNE (Utlendingsnemnda –
Cơ quan thẩm định của Bộ nhập cư). Rồi, trong đoạn phỏng vấn Petter
Eide, trước Giáng sinh vừa qua là nhân viên của Norsk Folkehjelp,
bây giờ đứng phía trước đám biểu t́nh và phát biểu như là người
phát động cuộc vận động. Có đoạn hơi buồn cười như sau:
-
Việc bắt giữ cô ta tạo nên những cảm t́nh mạnh mẽ, trong khi những
người khác trong cùng trường hợp tương tự?
-
Đây không phải là một người đẹp nổi tiếng nhận được quyền bảo vệ,
trong khi những người đàn ông để ria trên mép, đến từ Phi Châu hay
Trung Đông không nhận được quyền này. Nhưng đồng thời điều quan
trọng là làm sáng tỏ sự không hợp lư qua những trường hợp cá nhân
khác.
Trang trong của tờ báo này, phần Kultur, viết đại ư, chính quyền đă
tự vẽ lên ḿnh một góc tối. Chúng ta sẽ nhận thêm những trường hợp
bị trục xuất nếu một quyết định lớn hơn không được mở ra cho những
trường hợp cá nhân khác. Amelie đến đây như một đứa trẻ, và có sự
ràng buộc với Na Uy hơn cả đất nước gốc của ḿnh. Nếu cô bị gửi trả
về, đó là một phá sản của xă hội này.
Trang bên, một h́nh hí họa, vẽ ra toà nhà Nansen, có bóng ông này
với câu hỏi là, những người (8 cảnh sát) bận đồ như Ninja (kiểu áo
của hiệp sĩ Nhật thời xưa -hay giống lối áo của người đàn bà
Muslim-, chỉ trừ đôi mắt không bị bịt kín) đến bắt Amelie, có nghe
nói ǵ về Nansenpass?. Tếu hơn là cạnh đó có h́nh Krekar, có dấu hỏi
trên đầu, ngụ ư không biết 8 người đó đang làm ǵ. (Krekar là người
phía bắc Irak, đă xin được tị nạn chính trị tại Na Uy. Dù tin t́nh
báo của Mỹ cho rằng Kreka có nhiều liên lạc với những nhóm khủng bố
cực đoan, Na Uy vẫn không trục xuất người này). Đảng Cấp Tiến (Frp)
hỏi về việc tại sao Krekar được thong dong đây đó trong khi Maria
Ameile bị bắt bởi 8 cảnh sát.
À!..th́ ra các đoàn thể Na Uy dính líu đến vụ này, không chỉ v́ cô
gái này đẹp người mà c̣n nổi tiếng (đă viết sách) mà c̣n v́ Bộ tư
Pháp là người chịu trách nhiệm tổ chức mừng ngày Nansen (2). Trước
khi hai tuần kỷ niệm trôi qua, người tị nạn từ Kaukasus (Amelie),
sau khi đọc bài thuyết tŕnh tại ngôi trường Nansen này, đă bị bắt.
Và sẽ bị trục xuất.
Câu chuyện bắt đầu cách nay khá lâu. Ba mẹ và Maris đă nhiều năm t́m
cách trốn thoát khỏi Liên Xô. Từ Kaukasus, qua Moskva đến Phần Lan.
Họ sống tại đó 16 tháng trước khi được thông báo sẽ bị cảnh sát trục
xuất về lại Liên Xô.
Năm 2004, Maria vào học Đại học NTNU. Vừa học cô vừa nhận việc lau
quét để có tiền học.Cô học nói tiếng Na Uy rất trôi chảy, hoàn thành
Videregående với điểm tốt, tốt nghiệp Cử nhân về môn Xă hội nhân
chủng học, lấy bằng Tiến sĩ về kỹ thuật và khoa học. Tất cả điều đó
không qua quyền được học tập, không có số người (personnummer) tiền
mượn học hay trương mục ngân hàng.
Trong những năm sống tại đất nước này, cô ấy không mong muốn nêu lư
lịch hoặc quốc tịch của ḿnh. Cô cũng không nói sâu xa hơn về lư do
tại sao ba mẹ cô ta phải rời khỏi Liên Xô. Maria Amelie được diễn tả
đơn giản như một Anne Frank thời buổi mới. Ít ai biết cô là ai trước
khi cô viết cuốn: ”Ulovlig norsk”, một cuốn sách dựa trên nhật kư,
blogger và những ghi nhớ hàng ngày như một người nhập cư bất hợp
pháp. Cuốn sách được viết năm ngoái (2010) nhưng cô đă có quyết định
về việc này từ năm 2004, khi chính quyền Na Uy quyết định rằng, cô
và gia đ́nh là cư dân bất hợp pháp và sẽ bị trục xuất khỏi Liên Xô.
Lúc ấy, Maria đứng ra nhận những phỏng vấn và viết những bài b́nh
luận trên báo Aften Posten. Cuốn sách được giải ”Người Na Uy trong
năm” của đặc san Ny Tid.

Cuốn sách tự thuật với nhan đề
"Ulovlig norsk" của
Maria
Amelie
Trong phần A-magasinet của Aften Posten vào mùa thu năm ngoái, cô ấy
nói rằng, cuộc sống của tôi là sự chuyển đổi giữa phiêu lưu và sự
thật tàn nhẫn.
Đó là sự trộn lẫn bởi v́ tôi lạc quan và tôi phải sống sót. Tôi mong
muốn, mặc dù phải trải qua tất cả, thật sự đă phải trải qua, chỉ
mong giữ được giá trị và sự hội nhập của tôi. Khi tôi không chịu
được nữa những điều đó, cuốn sách là con đường thoát duy nhất để
sống với sự hội nhập c̣n nguyên vẹn.
Nói về người yêu của ḿnh. Eivind viết, Maria tin vào những điều tốt
đẹp của con người. Con người có t́nh thương người, tốt đẹp và có
tính giúp đỡ, là những điều cô đă có kinh nghiệm sau những sự giúp
đỡ to lớn và hỗ trợ từ những người Na Uy, suốt trong 8 năm qua. Ḷng
tin sâu xa đến nỗi ngay cả khi cô ấy bước vào Bộ tư pháp và đặt trên
giá sách của Knut Storberget, Bộ trưởng Tư pháp. Và xem –ông ấy gửi
một thiệp cám ơn và thông báo rằng đó là một câu chuyện tốt. Tối hôm
nay, thứ tư 12.01, ông ấy nhận thông báo rằng Maria đă bị bắt. Có
thể ông ấy cũng nghĩ rằng đó là điều tốt.
Thủ Tướng, Jens Stoltenberg nói với đài Truyền h́nh NRK là, ông ta
biết sự việc này sẽ tạo nên những phản ứng. (nói tiếp) công việc của
tôi đảm bảo rằng, chúng ta đưa ra một chính sách tạm dung và tị nạn
công bằng. Điều đó cần thiết như thế để giải quyết giống nhau giữa
mọi người, và rằng, ai cần sự che chở có thể sẽ lưu lại đất nước
này, trong khi những người không bị theo dơi và không cần sự che
chở, không thể ở lại.
Tối thứ sáu, trong phần phát tin của Đài truyền h́nh, h́nh ảnh một
hàng người đứng dọc trên đường đi vào cung Vua, có tấm bảng với hàng
chữ “Skam deg” (Nhục nhă cho anh) được dương cao, khi xe của Thủ
Tướng Na Uy chạy ngang qua. Có phải đó là phản ứng đối với phụ đề,
bên cạnh h́nh ảnh đoàn biểu t́nh đốt đuốc (trên báo Aften Posten,
A-magasinet, phát hành vào buổi sáng) với ư cho rằng Stoltenberg đă
phủi bỏ tất cả những chỉ trích.)
Theo UDI (Cơ quan nhập cư) xét việc trục xuất cô ta v́ cô đă phạm
luật nhập cư của Na Uy, qua những điểm sau:
-
Cho lư lịch giả
-
Đă cư trú lâu bất hợp pháp
-
Đă làm việc ”
đen” (không đóng thuế)
Peter Eide, người vận động cuộc đốt đuốc trước dinh làm việc của Thủ
Tướng cho rằng, Maria Amelie sẽ trở thành một gánh nặng về chính
sách tị nạn của chính quyền. Chúng ta hiểu câu nói này là, nặng v́
phải kiếm một cách giải quyết tương đối tốt (trước mắt) cho trường
hợp Amelie và sau đó, có thể điều chỉnh lại luật tị nạn.
Nhưng, v́ lư do nào gia đ́nh Amelie rời Liên Xô đến Na Uy tị nạn?
Cha của Amelie là thương gia rất giàu tại Nord-Ossetia. Ông điều
hành một xưởng chế tạo vật dụng nội thất, xưởng chế biến rượu Vodka
và một nhà hàng. Năm 1994, ông ấy là thành viên Hội đồng quản trị
thành phố Vladikavkaz, Liên Xô. Năm 1998, kinh tế Liên Xô sụp đổ.
Đảng CS lại thắng cuộc bầu cử. Một nhóm bao quanh những kẻ thắng cử
muốn tịch thu tài sản của cha Amelie. Những kẻ đầu tư vào công việc
làm ăn của ông ta tức giận ông ấy. Cảnh sát Liên Xô nói với ông ấy
là, cách duy nhất là dùng bạo lực đối trả lại bạo lực.
Họ đến nhà bà con ở Moskva. Thấy cũng không yên ổn, mùa thu 2000, cả
ba đến Odessa (Ukraina), rồi đến Phần Lan, để xin tị nạn. Đơn bị
bác. Họ đến Na Uy năm 2002. Năm 2003, đơn tị nạn bị bác. Năm 2004,
Amelie vào học tại NTNU và cũng năm này, cha Amelie có mặt tại Ṭa
án Oslo (Oslo byrett). (Về gia đ́nh, Amelie viết lời khai cho người
cha trong sự vụ này. Ngoài ra, trong cuốn “Ulovlig norsk”, cô ấy
cũng có đề cập đến hoàn cảnh gia đ́nh, như nói trên)
Amelie có thể bị trục xuất, nhưng cha mẹ của Amelie, hiện nay ra
sao? Họ vẫn c̣n sống đâu đó tại Na Uy này, như những người sống
không có giấy tờ khác. Theo tin tức của chính quyền, con số đó hiện
nay lên đến 3.000 người.
Hôm Thứ ba 18.01.11, báo Na Uy cho tin, Amelie đă được thả.
Nhưng việc trục xuất vẫn c̣n hiệu lực; có nghĩa là, đương sự, trước
đây đă được thông báo qua Luật sư là sẽ bị tống ra khỏi nước vào Thứ
hai hay thứ ba này, nhưng nay, t́nh trạng đó chưa xảy đến. Tuy nhiên,
được thả không có nghĩa là việc trục xuất được băi bỏ.
Đọc chuyện người, nghĩ lại chuyện của ta.
(1)
Dân tộc VN bất hạnh v́ đă có một đảng phái du nhập chủ thuyết
CS và xem nhẹ nhân phẩm của người dân.
Chuyện kư Hoà ước để Pháp trở lại miền Bắc VN là chuyện quá lâu.
Chuyện Nhân văn giai phẩm là chuyện mà thế hệ được sinh ra vào năm
1975 cũng không biết được rơ ràng.
Nhưng, nhiều ít, họ có thể đă được cha mẹ, anh em kể lại về việc
“Cướp ngày là quan” tại VN từ năm 1975, trở về sau. Cha mẹ Amelia bị
tịch thu gia sản là một trường hợp cá biệt tai địa phương họ ở. Dù
xảy ra hàng loạt tai địa phương đó, đấy chỉ là trường hợp mà ta gọi
là nạn “Cường hào ác bá” tại một phần lănh thổ của quốc gia Liên Xô.
Tại VN, cướp tài sản người dân là chủ trương của Bộ chính trị Trung
ương Đảng, giao cho Đỗ Mười thực hiện.
Ông ta là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương
nghiệp Xă hội chủ nghĩa vào năm 1977.
Sau năm 1975, việc đổi tiền làm t́nh trạng xă hội bị san bằng một
cách độc đoán.
Nhưng, việc đó chỉ gây tai hại cho người dân thường. Bọn cán bộ cấp
trung, cao, qua việc đổi tiền, đă trở nên giàu có.
Sau 1975, với chủ trương mà chúng gọi là “Đánh tư sản, mại bản”,
chúng tịch thu không biết bao nhiêu vàng, bạc của người dân. Nói là
“Đánh tư sản mại bản”, thật ra, một công chúng làm được hai việc.
Chúng tràn vào nhà những người mà chúng đă liệt vào “sổ đen”, với
lực lượng Công an Phường, Phường đội. Có nơi, chúng sử dụng kết hợp,
hoặc Công an, hoặc Phường đội, cùng làm việc với những lực lượng từ
thanh, thiếu niên trong đoàn Thanh niên CS Hồ chí Minh; những thành
phần hăng say, cuồng tín, hoặc tưởng rằng với việc làm của họ, họ
thể hiện được ḷng trung kiên với Đảng. Bọn này, với vũ trang súng
đạn, như truy lùng kẻ địch. Những gia đ́nh trong “sổ đen” đó là
những gia đ́nh mà chúng t́nh nghi đă, đang hoặc sẽ có những hành
động chống đối sự tàn ác của chúng.
Không giấy tờ xét nhà của Toà án. Không có một lệnh lạc nào bằng
giấy tờ cụ thể. Hành động của bọn này, chỉ khác bọn cướp là v́ chúng
nhân danh là người của chính quyền nhân dân. Không một nơi nào không
bị gỡ, cậy, xục xạo. Chúng mở xem từng lá thư. Chúng chất vấn từng
bức h́nh (nếu c̣n) của gia đ́nh, hỏi xem ai là những người được chụp
và gia đ́nh có liên hệ với những người đó như thế nào. Chúng hỏi,
chúng quát, chúng la lối, đôi khi dùng cả vơ lực đồi với gia đ́nh đó.
Một cảnh tượng chắc chắn không xảy ra tại các nước phương Tây. Tất
cả những tài sản chúng thâu góp được, được chuyển đến nơi nào?. Ai
là người chia chác những chiến lợi phẩm đó?. Hỏi tức trả lời v́ các
việc đó được làm theo chính sách của Trung ương.
Người dân, khi không c̣n con đường nào để mong sống c̣n…hoặc cảm
thấy cuộc sống không khác hơn thú vật, chỉ biết đến cái ăn (c̣n chưa
đủ no), họ t́m đường trốn ra khỏi nước. Amelie tại đất nước Na Uy
này có thể cũng nằm trong trường hợp đó. Nhưng, khi đi trốn, nếu gia
đ́nh này bị bắt lại, họ bị nhốt tù là cùng. C̣n dân VN, khi t́m cách
vượt trốn, họ bị gán tội Phản quốc.
Tội PHẢN QUỐC là tội lớn hơn mọi loại tội phạm. Ai ở dọc theo bến
Phạm thế Hiển, quận 8, vào những năm từ 1979 đến 1982, ít nhiều nghe
nói về việc Công an thành phố đă bắn xối xả vào chiếc ghe chở những
người đi vượt biên. Bắn ngay ban ngày, buổi chiều và ngay trong ḷng
thành phố. C̣n những nơi xa xôi khác, các bến băi hoang vu trước đây
chưa từng có người đặt chân tới, tại ngoài khơi, trong hải phận VN,
có biết bao cảnh tàn ác, dă man đă xảy ra?!....
C̣n bọn cầm quyền, ngày nay trở thành Tư bản “đỏ”, tài sản do tham
nhũng, do làm ăn bất hợp pháp mà có, ai sẽ “Đánh tư sản, mại bản”
bọn Mafia “đỏ” này?....
Chuyện bọn cường hào ác bá tại các địa phương, qua nh́ều cách thế,
mưu mô, đă chiếm đoạt nhà cửa, ruộng vườn của người dân, việc này đă
bị chúng làm ngơ một cách khéo léo. Biết bao người, theo đuổi việc
kiện, hết từ địa phương, đến thành phố …hết thành phố, ra đến Trung
Ương. Rồi cứ nằm chờ …chờ dài dài. Có người đợi đến cả năm mà vẫn
chưa biết kết quả đến đâu.
Bọn cầm quyền ngày nay, xem đất nước như tài sản riêng, đem bán cho
nước ngoài, tội này c̣n lớn hơn tội phản quốc. Thật trớ trêu buồn
cười, v́ nhóm người vượt biên, nếu là cái tội, quá lắm là cái tội v́
nghèo đói, bỏ nước ra đi. C̣n bọn cầm quyền, qua tham nhũng, qua bao
việc bất chánh, của cải dư thừa, lại đem bán lănh hải, lănh phận của
quốc gia (chúng gọi là “Tiền rừng, bạc biển) cho nước ngoài, tội đó
bị xử bắn là nhẹ!....so với việc đi vượt biên của người dân.
Chuyện bán nước không thể nào được người dân quên được.
C̣n chuyện thường ngày trong sinh hoạt chính trị của đất nước, người
dân có thể làm ngơ không biết?
Nhượng cho bọn Trung quốc khai thác hàng trăm mẫu rừng, giáp ranh
biên giới Trung Quốc, với thời gian quá dài, rồi cho chúng khai thác
quặng Bauxit ở Cao nguyên Trung Phần ....vụ Vinashin, toàn là những
việc làm sai trái của bọn cầm quyền. Khi người dân phản đối, chúng
bắt nhốt, không xét xử. Hoặc xét xử với tội trạng vu vơ, theo kiểu "luật
rừng", tự chúng đề ra. Hết giam ...rồi quản chế. Hết quản chế, đưa
về Công an Phường làm việc. Nhốt tại đó một hai ngày tùy ư. Với
người bị câu lưu là nữ giới, không cho sử dụng băng vệ sinh, khi họ
có tháng. Qua vụ Amelie, khi bị đưa về nơi tạm giam những người sẽ
bị trục xuất, bị khám xét thân thể như bao vụ khám xét khác mà bị
dân chúng phản đối dữ dội. May cho cô này!...
(2)
Thế nào gọi là nhân đạo, thế nào gọi là văn minh?
Chúng ta thường nghe nói, người dân Na Uy có tính nhân đạo. Không
phải chỉ v́ hàng năm họ có chiến dịch quyên tiền giúp đỡ dân tộc các
quốc gia khác. Không phải chỉ v́ mỗi khi dân tộc các quốc gia khác
gặp thiên tai, họ gây chiến dịch quyên tiền khắp nước. Không phải v́
Bộ Viện trợ của chính quyền trợ giúp nhiều cho các quốc khác, đến
nỗi các cơ quan, kể cả truyền thông cứ đ̣i cắt giảm …mà chúng ta cho
rằng đó là nhân đạo.
Trong cuộc sống hàng ngày, khi tại nạn xảy ra tại một địa phương nhỏ
nào đó, người dân (không phải chỉ là thân nhân người bị tai nạn) tập
trung lại, đem bông, đèn cầy đến nơi đó để tưởng niệm. Chuyện này
được các đài Truyền h́nh trong nước gần như phát h́nh mỗi lần, khi
có những tai nạn xảy ra. Ḷng thương mến về cuộc sống của người đă
mất, của người dân ở đây là chuyện phổ biến, khiến nó trở nên b́nh
thường quá đổi!....
Cách nay mười năm, một buổi chiều tháng giêng, một
thiếu niên 15 tuổi, tên là Benjamin Hermansen bị đâm đến chết, bởi
hai thanh niên kỳ thị chủng tộc (nynazist), khu vực Homlia. Thiếu
niên bị đâm đă không làm ǵ gây sự khó giải quyết của bọn kỳ thị.
Tội mà thiếu niên bị giết duy nhất là v́ có màu da sậm trên người
(3).
Vài giờ sau, cảnh sát bắt được nhiều thiếu niên khác,
thuộc thành phần kỳ thị chủng tộc. Chúng bị đưa ra ṭa, xử một cách
nghiêm khắc, với lư do cái chết không do gây hấn và có động cơ kỳ
thị. Đây là vụ án đầu tiên trong lịch sử xử án của Na Uy, về một vụ
giết người có động cơ kỳ thị chủng tộc.
Sự kiện đă tạo nên sự thu hút đặc biệt nơi giới truyền
thông. Khoảng 40.000 người đă cùng nhau rước đuốc ở Trung tâm phố,
trong một tối mùa đông giá lạnh, nhiệt độ âm trừ rất thấp. Tất cả
đại diện
cơ quan công quyền đến tham dự và bày tỏ sự ghê tởm đối với sự tàn
nhẫn đă xảy ra.
Bạn bè của nạn nhân tham gia tích cực vào việc chống lại
sự kỳ thị và sự sợ hăi người nước ngoài. Một trong những bài hát
được họ làm ra, “Song to Benjamin”, sau đó được ghi âm bởi những
nhạc sĩ trong nhóm Noora Noor và Briskeby. Trong điă nhạc
“Invincible” của Michael Jackson, vua nhạc Pop, một sự cám ơn đặc
biệt được dành cho Benjamin.
Năm 2002, một giải có tên “Benjaminprisen”, sẽ được trao
mỗi năm nhân ngày kỷ niệm Holocaust, (ngày người Do Thái bị Đức quốc
Xă giết hàng loạt tại các trại tập trung -27.01-). Giải được trao
đến các trường đă tích cực trong việc chống lại sự phân biệt và kỳ
thị chủng tộc, có giá trị 100.000 Kr. Thêm vào đó, hàng loạt các tổ
chức có mẹ của Benjamin nằm trong Ban giám khảo.
Cái chết đó làm Na Uy tỉnh thức. Điều đó chấm dứt thời
kỳ các tổ chức kỳ thị chủng tộc triển công khai. Nhiều tổ chức đă
ghi danh vào tổ chức chống kỳ thị chủng tộc như “Kỳ thị chủng tộc
SOS” (SOS Rasisme). Tên Benjamin Hermansen sẽ luôn được gắn liền với
điều tệ hại nhất trong tâm hồn người Na Uy, nhưng đồng thời đó h́nh
thức gắn kết, tham gia và chống đối với sự kỳ thị chủng tộc tốt nhất.
Tóm lại, nhân dân và chính quyền
Na Uy
đă làm hết khả năng của ḿnh, dù tốn bao tiền của và thời gian, để
tạo nên cuộc sống an vui trong cộng đồng của họ. Dù rằng, đây là một
cộng đồng có sự hoà nhập của hơn trăm sắc dân khác nhau.
Nhắc lại sự kiện đó để thấy sự bất hạnh của dân Việt Nam
là quá lớn.
Chỉ v́ chạy xe qua đèn giao thông
xanh, đỏ mà một cặp nam, nữ sinh viên bị chận lại, và người thanh
niên bị bắn vào đùi. Đừng nói đến việc người dân biểu t́nh trong
giáo phận của họ, phản đối chính quyền địa phương chiếm đất. Bị bắn
là chuyện b́nh thường. Hơn nữa, cán bộ địa phương c̣n tuyên bố thẳng
thắn là, sẽ làm mọi việc để bảo vệ chế độ. Việc này đă xảy ra tại VN,
một nơi có nhiều xă, ấp, phường mà các nơi đó đều mang tên khu vực
địa phương, kèm với hai chữ “văn hoá”.
Thế mà, khi ngư dân VN, bị tàu Trung quốc tàn sát, tạo
nên sự biểu t́nh phản đối của sinh viên th́ họ lại bị ngăn chận bằng
mọi đ̣n phép. Một chính quyền, sẵn sàng dùng lực lượng quân đội,
công an đàn áp người dân của ḿnh, lại sợ hăi không dám làm ǵ để
phản đối lại hành động hung bạo của tàu chiến Trung quốc…như thế đă
làm tṛn trách vụ của ḿnh đối với người dân chưa.
Chính quyền (kể cả địa phương) chưa làm ǵ thể hiện được
tính nhân đạo của ḿnh,
ngay cả đối với người dân của ḿnh, làm sao có thể đạt được tính văn
hoá và cao hơn nữa là văn minh?!.
Vụ Amelia, đến nay, Thứ bảy 22.01.11, vẫn chưa bị trục
xuất khỏi Na Uy. Nhưng, “Em la lớn” (Amelie) ..
đi, dù sẽ bị trục xuất hay không. Em hăy sống
như em đă từng viết trong sách “Ulovlig norsk” và qua phỏng vấn của
báo Aften Posten “…cuộc
sống của tôi là sự chuyển đổi giữa phiêu lưu và sự thật tàn nhẫn.
Đó là sự trộn lẫn bởi v́ tôi lạc quan và tôi phải sống sót. Tôi mong
muốn, mặc dù phải trải qua tất cả, thật sự đă phải trải qua, chỉ
mong giữ được giá trị và sự hội nhập của tôi. Khi tôi không chịu
được nữa những điều đó, cuốn sách là con đường thoát duy nhất để
sống với sự hội nhập c̣n nguyên vẹn”.
Trong những ngày gần đây, dân Tunisia, đă dám la lớn rằng họ không
chấp nhận cách cai trị lâu nay của chính quyền nên đă thành công, và
họ sẽ có quyền sống một cuộc sống xứng đáng với giá trị làm người.
Người dân Việt, trong tương lai, nếu biết la lớn sự phản kháng của
họ đối với chính quyền, họ cũng sẽ có một cuộc sống xứng đáng.
Đặng quang Chính
Oslo 22.01.2011
16:47
Ghi chú:
1.
Pål K. Lønseth (Ap) cố vấn trong Bộ tư Pháp nhấn mạnh rằng,
phải giống nhau trong vấn đề luật pháp, và thêm rằng, tất cả người
nước ngoài, sống bất hợp pháp tại Na Uy, phải tính đến việc bị trả
về nước. Amelie đă làm rơ một cách công khai là cô ta không mong
muốn t́nh nguyện trở về. Do đó, người ta phải đi theo đường lối đó.
2.
Nansen được xem như là Cao Ủy tị nạn đầu tiên của Liên hiệp quốc đầu
tiên. Từ ngày sinh của ông đến nay đă được 150 năm. Năm 1922, ông
báo cáo rằng, đă đưa được 427.866 tù nhân trở lại 30 quốc gia khác
nhau. Ông cũng là người tạo ra giấy thông hành, có tên gọi là “Nansenpasset”.
Xem thêm trong ”Viktigst i Nansen-året”, Aften Posten, phần Kultur,
trang 05.
3.
Báo Klassekampen, Fredag “livet”, side
28
Nordmenn, høflighet og kunsten å omgås fremmede
ANH NGA LONGVA
Er nordmenn blitt sosiale kløner? Det har gått tilbake med tidligere
tiders omgangsformer og høflighetsformer i vårt land. Utlendinger
som i dag slår seg ned hos oss stusser over fraværet av de små
vennlighetsritualer som i andre samfunn letter omgang mellom
mennesker. Anh Nga Longva , sosialantropolog ved Universitetet i
Bergen, gir en ikke udelt behagelig beskrivelse av hvordan vi
oppfattes utenfra, og har prøvd å finne ut hvorfor vi oppfører oss
som vi gjør.

Anh Nga
Longva, født 1949 i
Saigon, Vietnam. Hun er en norsk-vietnamesisk
sosialantropolog
ALLE
MENNESKERS ERFARING
med et nytt land
og en ny kultur avhenger av hva vi har med oss fra før i vår egen
kulturelle bagasje. Mitt møte med Norge er farget av den sammensatte
bakgrunnen jeg har fra en omflakkende barndom i Vietnam og Midtøsten
og et liv som ung voksen i ulike europeiske land. Fra min primære
sosialisering fra Vietnam har jeg ervervet et dypt forankret syn om
mellommenneskelige relasjoner som en arena hvor høflighet spiller en
naturlig og viktig rolle. Faktisk hadde jeg lært at det til en viss
grad er evnen til å opptre høflig mot sine medmennesker som gjør et
individ til en moralsk person. Med dette verdensbildet som ballast
ankom jeg Oslo en januardag i 1972, nygift og klar til å slå meg ned
i dette fjerne, eksotiske land.Velmenende venner fra forskjellige
hjørner i verden hadde advart meg mot kulden og de mørke
vintermånedene, ulv og isbjørn. Men ingen hadde fortalt meg om
nordmenns forhold til høflighet: menn som smeller døren rett i ditt
ansikt; voksne og barn på busser og trikker hvis ordforråd ikke ser
ut til å romme ordene "unnskyld" og "takk"; menn, kvinner og
ungdommer som dulter hemningløst i deg med sine ryggsekker eller
tråkker på dine tær og bare fortsetter videre, tilsynelatende
uvitende om det de hadde gjort. Det lille uttrykket please, s'il
vous plaît, por favor, brukes svært sjelden i det norske språk, og
nordmenn tyr til forskjellige verbale omsvøp og ikke-verbale
signaler for å oppnå den samme effekten som engelskmenn oppnår med
et enkelt please; ofte lar de simpelthen være.
BLANT
UTLENDINGER
bosatt i Norge er
nordmenns "manglende høflighet" et yndlingstema. Noen få er dypt
sjokkert og føler seg krenket, de fleste er bare forundret over at
dette stort sett vennligsinnede folk, med et høyt gjennomsnitt
utdanningsnivå, og som lever i velstand og fred, tilsynelatende har
et så nonchalant forhold til vanlig folkeskikk. Min egen interesse
for dette temaet, som i utgangspunktet var bunnet i min personlige
bakgrunn, økte etterhvert som jeg innså at det dreier seg om mye mer
enn et rent spørsmål om folkeskikk. Nordmenns komplekse forhold til
høflighet er som et vindu: gjennom det får vi innblikk i norske
forestillinger om en rekke grunnleggende relasjoner og om det som er
moralsk og riktig i livet. Første gangen jeg fornemmet at det lå noe
viktig bak nordmenns forhold til høflighet, var da flere norske
venner, uavhengig av hverandre, kom med den samme bemerkningen om
amerikanerne og deres væremåte. Høsten 1972 - det samme året jeg
ankom Norge - hadde jeg anledning til å tilbringe tre måneder i New
York.
Etter nesten ett
år i Oslo, hvor jeg for første gang opplevde at å etablere sosiale
kontakter kan være en umåtelig vanskelig oppgave, ble jeg overveldet
av amerikanernes åpenhet, vennlighet og, ikke minst, høflighet.
Eieren av den lille matbutikken ved hjørnet hilste alltid på meg med
et vennlig "Hi, how are you today", og han smilte og takket pent når
han tok imot betalingen. Det samme gjorde kvinnen i aviskiosken, som
alltid ga tilbake vekslepenger med ønsket "Have a nice day". Folk
unnskylder seg bare de passerer i nærheten av deg, og første gangen
jeg trillet min babydatter i den lokale parken, ble jeg venner med
en amerikansk mor på min alder. Etter Oslo ble jeg imponert over at
amerikanerne hadde så lett for å slå av en prat med ukjente
mennesker og at samhandlinger i en by som var både stor og kjent som
voldelig, kunne virke så lett og uanstrengt. Kontrasten til
fredelige, men mutte Oslo var stor. Tilbake i Norge fortalt jeg
begeistret om mine erfaringer og om de vennlige amerikanerne som
aldri vegrer seg for å oppnå kontakt med totalt fremmede mennesker.
Til mine entusiastiske beskrivelser hadde mine norske venner den
samme korte kommentar: "Men de mener det ikke".
TRUSSEL
MOT DET KJENTE OG DET ETABLERTE.
Jeg har, siden den
gang, hørt mange bemerkninger, kommentarer og historier som ga
uttrykk for den samme skeptisisme og som viser at nordmenn har et
stort sett negativt syn på det som i andre land oppfattes positivt
som høflig opptreden. Jeg har selvsagt også truffet nordmenn som
deler mitt syn og som ønsker seg mer "utenlandske" tilstander i
norsk sosialt liv. Men de er klart i minoritet. Det virker som om
evnen til å opptre høflig og vennlig overfor fremmede ikke er blant
de sosiale egenskapene nordmenn verdsetter mest.I alle kulturer og
til alle tider fremstår den fremmede som et usikkerhetsmoment og en
trussel mot det kjente og det etablerte.Dette har gitt opphav til
tradisjonen med omfattende gjestfrihet overfor fremmede, som preger
flere middelhavssamfunn. Gjestfrihet kan i dette tilfellet sees på
som et "forebyggende" tiltak for å avvæpne den potensielt farlige
fremmede. Tidlig etnografisk materiale fra tradisjonelle samfunn
rundt omkring i verden beskriver en rekke kulturelle mekanismer hvis
hensikt det er å ufarliggjøre fremmede ved å plassere dem i en
strukturell posisjon hvor de blir bundet av moralske forpliktelser
overfor vertskapet og dermed er fratatt muligheten til å skade
vertssamfunnet.
Dagens
amerikaneres høflighet føyer seg inn i denne tradisjonen.Når
usikkerheten rår, er det viktig å ta i bruk et universelt repertoar
som er lett å tolke, med tegn som signaliserer fredelige og vennlige
intensjoner: et smil, utvekslingen av korte rituelle hilsener, eller
et spontant "unnskyld" når man dulter borti noen. Slike signaler er
med på å hindre konflikter og lette eventuelle spenninger. Disse
små, tilsynelatende ubetydelige høflighetsformler er som oljen i det
sosiale maskineriet: De bidrar til at møter mellom fremmede i det
offentlige rom foregår glatt og problemfritt. Det viktigste ved dem
er ikke deres innhold, men deres form, og at de finner sted i det
hele tatt. KULTURELL
KODE.
Demografiske faktorer forklarer til en viss grad hvorfor nordmenn i
sin omgang med andre nordmenn i Norge ikke trenger å forholde seg
til høflighet som oljen i det relasjonelle maskineriet. Det norske
maskineriet smøres nemlig av noe annet: en relativt homogen
kulturell kode.Jeg tror ikke noen vil bestride det norske synet om
at amerikanerne "ikke mener det" når de ønsker deg en god dag. Og
ingen tror at mannen bak kjøttdisken er genuint interessert i min
helsetilstand når han spør "How are you today?". Men mens jeg synes
det er hyggelig at vi utveksler disse små, "meningsløse" setningene
mellom oss i den korte stund vi har med hverandre å gjøre, ser mine
venner og andre nordmenn på dette som et tegn på falskhet. De feller
en moralsk dom overfor amerikanerne fordi de sier ting "de ikke
mener". Nordmenn opplever ubehag når de befinner seg i posisjonen
som mottagere av slike "meningsløse" budskap. Første gangen jeg fikk
høre dette, reagerte jeg med forbauselse. Det var vanskelig for meg
å begripe at høflighet kan tolkes så negativt. Avstanden mellom
nordmennenes reaksjoner på høflighet og min egen reaksjon på dem har
vært svært tankevekkende for meg. Den har tvunget meg til å sette
spørsmålstegn ved mitt eget syn på høflighet, og å spørre meg selv
hvorfor den egentlig er så viktig i den konfusiansk-buddhistiske
kulturen jeg hadde vokst opp i.
Det ble etterhvert
klart for meg at høflighet vektlegges i Vietnam som et sentralt
element i opprettelsen og vedlikeholdet av den sosiale, og dermed
den kosmiske, harmoni. Med andre ord, vietnamesere verdsetter
høflighet, ikke som filosofen verdsetter moralske dyder, men som
ingeniøren verdsetter likevekt i et byggverk: for dens systemiske
funksjon.Mens det viktigste for meg i høflighetsformlene er deres
funksjon, leter mine norske venner etter formlenes mening. De går
bak ordene, veier dem, og spør hva som egentlig ligger i dem. De
"dypleser" utsagnene og fokuserer på det som blir sagt ("hvordan har
du det i dag?") på bekostning av samhandlingskonteksten (møtet
mellom to totalt fremmede mennesker i en stor, fremmedgjørende by).
Og når de oppdager at teksten er uten dybde - dens mening ligger
utelukkende i dens form - trekker nordmenn en forbindelseslinje
mellom mangelen på dybde i uttalelsen og uttalerens (fraværende)
intensjoner.
EKTE OG
DERFOR UHØFLIG?
Hvis slike "tomme"
utsagn er kjernen i høflighet, så er høflighet lik uekthet eller
falskhet. Snur vi situasjonen og prøver selv å "dyplese" den norske
adferd i det offentlige rom, kan vi hevde at nordmenn, ved å oppføre
seg "uhøflig", har til hensikt å vise at de ikke nærer falske
intensjoner overfor andre. Budskapet er: "Jeg er ekte, derfor er jeg
uhøflig".Et tema som er like populært blant utlendinger bosatt i
Norge som nordmenns antatte uhøflighet, er nordmenns økonomiske bruk
av verbal kommunikasjon generelt. Den polsk-fødte kulturforskeren
Nina Witoszek (2001) benytter uttrykket "kommunikativ gjerrighet"
for å beskrive den. Den norske uttrykksmåte er preget av
underkommunisering heller enn overkommunisering. Ofte vil
underkommunisering rett og slett kunne bety taushet, særlig overfor
fremmede.I Norge betraktes bare de relasjonene som bygges langsomt
over tid som "ekte" vennskap. Da jeg, etter et par år i Norge,
klaget over at det tok altfor lang tid å bli kjent med nordmenn, ble
det svart: "Kanskje, men når du endelig lykkes i å knytte
vennskapsbånd med en nordmann, vet du at du har fått deg en venn for
livet." Det er ingen snarvei i den norske sosiale verden når det
gjelder mellommenneskelige relasjoner! En slik kulturell tradisjon
er lite egnet til å håndtere overfladiske relasjoner som oppstår
under korte møter med fremmede, særlig når disse har en annen
kulturell bakgrunn. Her fungerer taushet fra starten av som et
mektig hinder.Den funksjonelle tolkningen av høflighet, som oljen
som får det sosiale maskineriet til å fungere problemfritt, synes
ikke å bli godtatt av nordmenn flest. Sett i et norsk perspektiv er
høflighet overfor fremmede kritikkverdig, fordi den er både tom for
mening og villedende. Den bekrefter nordmenns mistenksomhet overfor
verbal kommunikasjon og det talte ord. Den norske kulturelle
tradisjonen kommer til kort når det gjelder overfladiske former for
sosial omgang, særlig med fremmede i det offentlige rom.
Kilde:
www.aftenposten.no/meninger/kronikker
(Anh
Nga Longva (født 1949 i
Saigon, Vietnam) er en norsk-vietnamesisk
sosialantropolog)
--------------------------------------------------------------------------------------
Anh Nga
Longva - Ekspertblikk på nordmenn
Folkeskikk er hett tema
om dagen, og nordmenn oppfattes lett som uhøflige. Sosialantropolog
Anh Nga Longva ser store forskjeller mellom Norge og andre land når
det gjelder høflighet.
AVHILDE
BJØRHOVDE
Etter at hun
giftet seg med en nordmann i 1972, har Longva, som opprinnelig er
fra Vietnam, hatt rik anledning til å drive "feltstudier" på
nordmenns væremåte.- Min antropologiske bakgrunn har hjulpet meg til
å forstå hvorfor nordmenn oppfører seg som de gjør.Nordmenn sier
ikke "vær så snill", "unnskyld" og "takk" i det offentlige rom, slik
folk fra andre kulturer er vant til, og oppfattes derfor lett som
uhøflige. - Til gjengjeld takker nordmenn for maten, noe som er
ekstremt høflig, sier Longva. Hun mener nordmenn er opptatt av å
være så autentiske som mulig og ikke si noe de ikke mener oppriktig.
Det synes de på en måte er falskt og overfladisk.- Men
høflighetsfraser og å smile og si takk er oljen som får maskineriet
til å gå rundt. Det er helt funksjonelt og gjør at alle ting glir
lettere, sier Anh Nga Longva, som skrev artikkelen "Nordmenn,
høflighet og kunsten å omgås fremmede" i Norsk Antropologisk
Tidsskrift.
Ikke
hennes tema
Hun er førsteamanuensis i
sosialantropologi ved Universitetet i Bergen og presiserer at Norge
og nordmenn ikke er hennes hovedforskningstema. Midtøsten-spørsmål
og det norske sosialdemokratis forhold til kjønn og etnisitet er
hennes felt.- Men som antropolog kan man ikke la være å se på landet
man lever i, sier Anh Nga Longva. Hun er gift med ambassadør Hans
Wilhelm Longva, og representerer til stadighet Norge i utlandet.
Ektefellene møttes under studier i Genève, der hun studerte for å
bli tolk for internasjonale organisasjoner. Å lære norsk gikk som en
lek for den språkmektige kvinnen, som blant annet behersker flytende
fransk, engelsk, spansk og arabisk.- Etter at jeg hadde lært
arabisk, var norsk veldig lett, sier Longva. Tyrkisk lærte hun seg i
fjor, da hun hadde et års permisjon fra Universitetet i Bergen for å
være ambassadørfrue i Ankara. Da hadde hun nettopp gjort seg ferdig
med syv måneders feltarbeid i Beirut, for å se hvordan identiteten
til de forskjellige religiøse grupperingene reproduserte seg sosialt
etter borgerkrigen.
Internasjonal
Kunnskaper om høflighet
og omgangsformer kommer godt med når hun beveger seg i diplomatiske
kretser og er vertinne ved ambassademottagelser.- Vi pleier å starte
med laks, det er noe som passer for alle, ler Anh Nga Longva.De to
voksne barna lærte seg tidlig folkeskikk.- De er flinke til å føre
seg etter konteksten. Som barn oppførte de seg hundre prosent norske
i Norge og skjønte hvordan de skulle te seg sammen med
besteforeldrene fra Vietnam.I min familie er vi veldig høflige. Mine
foreldre må være tålmodige med sine svigersønner. Alle vi fire døtre
er gift internasjonalt, og vi har alle typer kulturer når vi samles.
Vi er en internasjonal familie bosatt i hele verden, sier Longva.
Som ikke kan dy seg for å ha et antropologisk blikk på familien når
de samles til juleselskap.
----------------------------------------------------------------------------
Liu Xiaobo (Lưu
Hiểu Ba) - Tôi không có kẻ thù
Dưới đây là trích lược
lời phát biểu của ông Lưu Hiểu Ba, nhà hoạt động nhân quyền
Trung Hoa, đồng tác giả của Hiến chương 08, phổ biến tại phiên toà
ngày 23/12/2009. Tháng Hai năm nay, toà kháng cáo giữ y án tù 11
năm.

Liu Xiaobo
Bài phát biểu ngắn này đă phản ảnh
khí phách một người dân chủ tại một xứ độc tài toàn trị. Trao tặng
Lưu Hiểu Ba giải Nobel Hoà B́nh 2010, Uỷ Ban Nobel Hoà B́nh đă thay
mặt công luận thế giới, ghi nhận tầm cỡ của một khí phách, v́ ông
Lưu là một biểu tượng lớn của phong trào dân chủ và nhân quyền tại
Trung Hoa, nói riêng, và tại các quốc gia khác c̣n đang chịu đựng sự
đàn áp con người, nói chung.
Tháng Sáu 1989 là bước ngoặt lớn
của cả cuộc đời 50 năm của tôi. Trước kia, tôi từng là một sinh viên
trong lứa đầu tiên được tuyển sinh vào trường đại học vừa mở cửa lại
sau Cách Mạng Văn Hoá; đường học của tôi diễn tiến êm ả từ cấp cử
nhân lên cao học rồi Tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp, tôi được giữ làm
giảng viên trường Đại Học Bắc Kinh.
Trên bục giảng, tôi là một thầy
giáo được nhiều sinh viên biết đến. Tôi cũng là một trí thức của
công chúng: những năm 1980, tôi viết nhiều bài báo và sách có tiếng
vang. Tôi thường đi lại nhiều nơi diễn thuyết, được mời đi thỉnh
giảng tại Châu Âu và Hoa Kỳ. Tôi đ̣i hỏi ở ḿnh đức chân thực, tinh
thần trách nhiệm, và ḷng tự trọng cả trong đời sống lẫn trong bài
viết.
Sau đó, khi tôi từ Hoa Kỳ trở về,
tôi tham gia phong trào sinh viên 1989, bị tù v́ “tuyên truyền phản
cách mạng và kích động bạo loạn”, bị tước mất vị thế tôi trân trọng;
tôi bị cấm không được viết lách hay diễn thuyết tại Trung Quốc. Chỉ
v́ mỗi một chuyện là phát biểu quan điểm khác biệt về chính trị và
tham gia các phong trào dân chủ và hoà b́nh, mà một thầy giáo phải
xa bục giảng, người cầm bút bị cấm xuất bản, và người trí thức th́
mất cơ hội nói với công chúng. Điều này đáng buồn cho cá nhân tôi đă
đành, mà c̣n cho cả đất nước Trung Hoa sau ba thập niên đổi mới và
mở cửa.
Xem nào, những trải nghiệm nặng nề
nhất của tôi từ sau biến cố 4 Tháng Sáu 1989 đều dính dáng với toà
án; hai dịp mà tôi có điều kiện nói với công chúng đều là tại toà án
sơ thẩm Bắc Kinh, một lần vào Tháng Giêng 1991 và lần này. Tuy rằng
tội danh vào mỗi dịp đều khác nhau, về thực chất cả hai đều là tội
danh liên quan đến quyền tự do ngôn luận.
Đă hai mươi năm qua, những linh
hồn trong trắng của biến cố 4 Tháng Sáu vẫn chưa được yên nghỉ, và
tôi, một kẻ đă đi trên con đường bất đồng chính kiến v́ nhiệt tâm
với 4 Tháng Sáu, sau khi rời nhà tù Tần Thành năm 1991, đă bị cấm ăn
nói tại chính quê hương ḿnh, và chỉ được phép phổ biến quan điểm
của ḿnh qua truyền thông hải ngoại, v́ thế bị theo dơi suốt nhiều
năm qua; bị quản chế (Tháng Năm 1996 – Tháng Mười 1999), và bây giờ
bị đẩy vào thế đứng kẻ thù của chế độ.
Tuy nhiên tôi muốn nói với chế độ
đă tước đoạt quyền tự do của tôi, rằng tôi vẫn thuỷ chung với niềm
tin của ḿnh mà tôi từng bày tỏ hai mươi năm trước, khi tôi phát
biểu tại ḱ tuyệt thực – Tôi không có kẻ thù, không có ḷng căm thù.
Không một nhân viên an ninh theo dơi, bắt giữ và thẩm vấn tôi, công
tố viên kết tội tôi, hay vị chánh án đă xử án tôi, không ai là kẻ
thù tôi cả. Mặc dù tôi không thể chấp nhận sự theo dơi, bắt bớ, kết
tội, tuyên án của các vị, tôi vẫn tôn trọng nghiệp vụ và nhân cách
của các vị. Kể cả sự buộc tội lần này: Tôi biết các vị tôn trọng tôi
và giữ sự chân t́nh trong lúc thẩm vấn tôi hôm 3 Tháng Mười Hai.
Bởi v́ ḷng thù hận chỉ làm hoen
rỉ sự khôn ngoan và ư thức của ta; năo trạng thù hận có thể làm hỏng
hồn tính một quốc gia, gây ra bao nhiêu là bạo động oan khiên cho
vạn sinh linh, phá hỏng ḷng khoan hoà và t́nh người của một xă hội,
và ngăn chặn bước tiến của một quốc gia trên hành tŕnh về tự do dân
chủ. Do vậy tôi mong rằng ḿnh sẽ có thể vượt lên khỏi những thăng
trầm của số phận một cá nhân nhỏ bé để mà hiểu được sự phát triển
của quốc gia và những đổi thay của xă hội, vượt qua thái độ thù hận
mà chế độ dành cho tôi bằng thái độ chín hđính nhất, và lấy t́nh
thương để gỡ bỏ sự thù hận.
Tôi vững tin rằng tiến bộ chính
trị tại Trung Hoa sẽ không bao giờ ngừng lại, và tôi hoàn toàn lạc
quan chờ đợi ngày tự do đến với Trung Hoa trong một tương lai không
xa, bởi sẽ không có thế lực nào có thể cản trở khát vọng tự do của
con người. Sẽ có ngày Trung Hoa trở thành một quốc gia pháp trị, ở
đó quyền con người là tối thượng. Tôi cũng chờ đợi bước tiến ấy thể
hiện cụ thể qua phiên toà này, và chờ đợi một phán quyết công bằng
của toà như một phép thử của lịch sử.
Hỏi rằng trong hai thập niên qua,
điều ǵ là một trải nghiệm may mắn nhất đời tôi, tôi không ngần ngại
mà nói rằng đấy là t́nh yêu tràn đầy của Lưu Hà, người vợ thân yêu.
Em không thể có mặt tại phiên toà hôm nay, nhưng anh vẫn muốn bày tỏ
với người yêu dấu của anh một điều, rằng anh vẫn vững tin vào t́nh
yêu bền chặt của chúng ta. Đă bao năm nay, trong hoàn cảnh đời sống
mất tự do, t́nh yêu chúng ta đă chỉ có lắm chua xót v́ ngoại cảnh
đưa đẩy, nhưng nó vẫn bay bổng khỏi những rào chắn. Anh bị giam cầm
trong một nhà tù nhỏ, c̣n em th́ vẫn đang ṿ vơ đợi anh trong nhà tù
lớn.
T́nh yêu em là ánh sáng đă giúp
anh vượt qua những bức tường và thanh sắt, vẫn dịu dàng trên từng li
tấc da thịt anh, sưởi ấm từng tế bào cơ thể anh, giúp anh giữ ḷng
ḿnh được thanh thản, cao thượng và trong sáng, v́ vậy mỗi phút giây
trong nhà tù vẫn tràn đầy ư nghĩa. Bù lại, t́nh yêu anh dành cho em
toàn là sự thống hối, có khi làm nặng trĩu từng bước chân đi. Anh là
một viên đá tảng nặng nề nơi chốn hoang vu, hứng chịu những nghiệt
ngă của băo tố, và trở thành lạnh băng trước nhân gian. Nhưng t́nh
yêu anh vẫn bền,sắc, và có thể vượt qua bao cản ngại. Cho dù ai có
nghiền nát anh, anh vẫn nguyện ôm ấp em bằng tro than của ḿnh.
Có t́nh yêu em, người yêu dấu ơi,
anh sẽ nh́n thẳng vào phiên toà hôm nay với ḷng thanh thản, không
tiếc hận về những chọn lựa của ḿnh, và vẫn lạc quan tin tưởng vào
một ngày mai. Anh chờ đợi đất nước chúng ta sẽ trở thành xứ sở tự
do, ở đó tiếng nói của mọi công dân được đối xử ngang nhau; ở đó mọi
khác biệt về giá trị, quan điểm, niềm tin, chính kiến... đều được
quyền tương tranh và cộng tồn bên nhau trong hoà b́nh; ở đó quan
điểm của đa số và thiểu số đều được bảo đảm, nhất là những chính
kiến khác biệt với quan điểm quan phương chính thống sẽ được tôn
trọng và bảo vệ; ở đó tất cả mọi quan điểm chính trị đều được công
khai cho nhân dân lựa chọn; ở đó mọi công dân sẽ được quyền biểu đạt
chính kiến mà không phải sợ hăi, không bị trấn áp v́ cất tiếng nói
bất đồng.
Tôi mong mỏi rằng bản thân ḿnh sẽ
là nạn nhân cuối cùng của chuỗi dài truy đuổi bất tận những kẻ bất
đồng tại Trung Hoa, và rằng sau tôi sẽ không ai c̣n phải chịu cảnh
tù đày v́ bày tỏ quan điểm của ḿnh.
Quyền tự do phát biểu là cơ sở của
nhân quyền, là nguyên uỷ của nhân tính và là mẹ của sự thật. Cấm
đoán tự do ngôn luận là giày xéo lên quyền con người, bóp nghẹt nhân
tính, và trấn áp sự thật.
Tôi không thấy ḿnh có tội ǵ khi
sử dụng quyền tự do phát biểu hiến định, để làm tṛn trách vị công
dân của ḿnh. Dẫu có bị kết tội v́ đă làm thế, tôi cũng chẳng than
phiền điều ǵ cả.
Liu Xiaobo (Lưu Hiểu Ba)
Xuyến Như chuyển ngữ
Thông Luận 2010
Nh́n lại 35
năm thống nhất đất nước của đảng cộng sản vn
Suy Ngẫm Về Bài
Học Thống Nhất Đất Nước
Vua Gia
Long Năm 1802 và Đảng Cộng Sản Việt Nam Năm 1975 – Kỳ II
Tiếp theo Kỳ I về những bài học từ triều đại thời Vua
Gia Long và những sai lầm lập lại ở thời Đảng Cộng sản thống nhất
đất nước, chúng ta hăy nh́n lại lịch sử để cùng đánh giá cuộc chiến
tranh “chống Mỹ cứu nước” của Đảng Cộng sản và t́m một hướng mới cho
Việt Nam.
Đánh giá lại cuộc chiến tranh “chống Mỹ
cứu nước” của Đảng Cộng sản
Cuộc chiến
vô nghĩa
Sự phá
sản của chủ nghĩa Mác Lê trên thế giới, sự quay về với mô h́nh phát
triển của Việt Nam Cộng hoà, sự phục sinh của văn hóa miền Nam trên
đất nước hiện nay đ̣i hỏi chúng ta phải đánh giá lại toàn bộ ư nghĩa
cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu cước” của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại sao
dân tộc Việt Nam phải mất đi 3 triệu nhân mạng, với 10 triệu thương
vong và phải bỏ ra 20 năm vô cùng quí báu để hai miền Nam-Bắc đánh
nhau nhằm giải quyết vấn đề chia cắt đất nước? Liệu có một giải pháp
không đổ máu để giải quyết vấn đề trên? Tại sao khi thống nhất đất
nước những người cộng sản phải thực hiện nền kinh tế Mác Lê bằng
cách xóa đi xă hội miền Nam thịnh vượng, xua đuổi người dân ra biển,
chiếm đoạt tài sản nhân dân và làm cho đất nước nghèo đói; để rồi 30
năm sau, họ phải trở lại đi theo mô h́nh phát triển của xă hội đó? Bài học
phân chia đất nước của Nam-Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Đài Loan,
của Đông Đức và Tây Đức, Trung Quốc và Hồng Kông, cho thấy chiến
tranh không phải là giải pháp duy nhất để giải quyết vấn để thống
nhất.
Ở đây
chúng ta không thể không xem lại bài học của Trung Quốc đối với Đài
Loan và Hồng Kông. Trong khi Trung Quốc hô hào chiến tranh giải
phóng “chống đế quốc Mỹ xâm lược”, tích cực viện trợ bom đạn cho
Việt Nam, các nước Nam Mỹ và các nước Phi Châu để các nước này phát
động chiến tranh “giải phóng” th́ chính họ đă âm thầm chọn lựa con
đường chính trị không chiến tranh, không đổ máu để giải quyết vấn đề
Đài Loan va Hồng Kông. Họ đă dùng xương máu của dân Việt Nam và các
nước nhược tiểu làm con bài để thương lượng với Hoa Kỳ và Tây phương
trên mặt trận chính trị. Trong khi đó, những người cộng sản Việt Nam
nghe những lời của đàn anh Trung Quốc, mang dân tộc Việt Nam vào
biển máu của chiến tranh nồi da xáo thịt, biến dân tộc Việt Nam
thành những con thiêu thân cho chủ nghĩa Mác Lê.
Thay v́
chọn con đường thẳng tiến đến nền kinh tế thị trường để phát triển
như Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Đảng Cộng sản Việt Nam
đă chọn con đường Mác xít, Leninít, Stalinít và Maoít nghèo đói, đầy
máu xương và nước mắt. Con đường Mác Lê này cũng ngoằn nghèo lắm
gian truân. Lúc theo Tàu, lúc theo Nga, lúc th́ theo Mỹ. Điều này
cho thấy ư thức hệ Mác Lê không thể giúp cho những người cộng sản có
cái nh́n chính xác về con người, đất nước và thế giới để đưa đất
nước lên ngang tầm thời đại.
Hăy
nh́n lại những quốc gia Á Châu trước đây như Malaysia, Thái Lan, Đài
Loan, và Nam Triều Tiên. Trong thời gian chiến tranh, các quốc gia
này c̣n nghèo nàn lạc hậu hơn miền Nam Việt Nam trước năm 1975.
Những quốc gia này đă chọn Hoa Kỳ và các nước Tây Phương làm bạn.
Malaysia, Nam Triều Tiên, Đài Loan ngày nay trở thành những con rồng
kinh tế bay cao với chủ quyền lănh thổ không sứt mẻ. Ngày nay họ là
những ông chủ của những công ty tư bản to lớn đang đầu tư vào Việt
Nam để sử dụng lực lượng nhân công nghèo đói và rẻ mạt do chế độ
XHCN sản xuất. Hàng năm, hàng trăm ngàn thanh niên thiếu nữ Việt Nam
“được” nhà nước xuất khẩu để làm lao động cho các quốc gia bị người
cộng sản gọi là “chó săn của đế quốc Mỹ xâm lược.” Trong khi đó, con
rồng Việt Nam vẫn quằn quại không vươn lên nổi v́ đầu rồng bị nhồi
nhét những tư tưởng Mác Lê quá nặng nề và lạc hậu.
Nỗ lực
hiện nay của Nhà nước và Đảng là gia tăng hợp tác kinh tế và quân sự
với Hoa Kỳ để tồn tại, cũng như áp dụng chính sách của Việt Nam Cộng
ḥa vào việc phát triển kinh tế đă chứng minh được rằng “chiến tranh
chống đế quốc Mỹ xâm lược” là công việc không cần thiết và gây quá
nhiều thiệt hại cho đất nước.
Không
cần thiết v́ sự hiện diện của Hoa Kỳ trong thời chiến tranh tại Thái
Lan, Malaysia, Nam Triều Tiên và sự độc lập lănh thổ của các nước
này hiện nay minh chứng rằng Hoa Kỳ không có nhu cầu xâm lăng Việt
Nam hay các nước trên. Hoa Kỳ và Tây Phương cũng như các nước phát
triển ở Á Châu không c̣n là mối đe doạ lănh thổ cho Việt Nam. Điều
dễ hiểu là sau thế chiến thứ hai, sau khi chế độ thực dân cáo chung
và sự h́nh thành của Liên hiệp quốc, ư niệm xâm lược lănh thổ các
nước khác đă lỗi thời đối với các quốc gia văn minh tiến bộ Tây
Phương và Hoa Kỳ.
Nếu
cuộc chiến tranh (1954-1975) vừa qua không c̣n mang ư nghĩa của một
cuộc chiến chống xâm lăng như quan điểm của Đảng Cộng sản, th́ cuộc
chiến ấy có giá trị như là cuộc chiến ư thức hệ đă giúp cho việc
ngăn chận làn sóng cộng sản tràn xuống Đông Nam Á, Nam Á và tràn lên
Bắc Á, theo quan điểm của miền Nam và Tây Phương.
Thực tế
về nền kinh tế nghèo đói và chính trị bạo tàn của Bắc Hàn, Liên Xô,
Cuba, Trung Quốc, Khmer Đỏ, và các nước Đông Âu cho thấy chế độ cộng
sản là hiểm họa lớn nhất của loài người từ trước đến nay. Cuộc chiến
Việt Nam đă làm chậm, nếu không nói là ngăn ngừa được, sự phát triển
của hiểm hoạ cộng sản vào Thái Lan, Mă Lai, Philippines, Nam Dương
và Ấn Độ. Cái bất hạnh của dân tộc Việt Nam là cái may mắn cho các
nước khác trong vùng. Khi dân tộc Việt Nam đấu giết lẫn nhau để làm
mũi xung kích của khối xă hội chủ nghĩa và tiền đồn chống cộng của
thế giới tự do, th́ Singapore, Mă Lai, Thái Lan, Nam Dương, Nam
Triều Tiên, Đài Loan được ḥa b́nh để phát triển kinh tế. Các quốc
gia này c̣n được giàu lên v́ chiến tranh Việt Nam! Khi Đảng Cộng sản
Việt Nam đẩy dân tộc vào ḷ thí nghiệm XHCN để đất nước tan hoang
điêu tàn th́ các quốc gia trong vùng đă xây dựng được một xă hội dân
sự ổn định và văn minh, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển để bắt
kịp một thế giới toàn cầu hóa đang ra đời.
Cuộc
chiến ư thức hệ đó hoàn toàn không mang lại một lợi lộc ǵ cho dân
tộc Việt Nam. Ngược lại cuộc chiến đă tiêu phí quá nhiều xương máu
và tài nguyên quốc gia. Đặc biệt trong giai đoạn thế giới phát triển
với vận tốc nhanh chóng, việc đẩy đất nước vào một chiến tranh vô bổ
là phí phạm thời giờ của lịch sử.
Ngày
nay, mối đe dọa xâm lược không đến từ các nước Hoa Kỳ hay Tây
Phương. Chỉ có những quốc gia to lớn nhưng chậm tiến lạc hậu như
Trung Hoa Cộng Sản mới c̣n mang giấc mộng bành trướng lănh thổ. Nguy
cơ mất đất mất biển ngày nay đến từ chính truyền thống xâm lược hàng
ngàn năm của dân tộc Hán. Lá thư của thủ tướng Phạm Văn Đồng năm
1958 gởi cho thủ tướng Chu Ân Lai mau mắn công nhận chủ quyền lănh
hải của Trung Quốc trong phần biển Việt Nam, cũng như cuộc tấn công
xâm lược Hoàng Sa và Trường Sa của hải quân Trung Quốc năm 1974,
chiến tranh biên giới 1979. Gần đây nhất là hiệp ước biên giới trên
đất liền năm 1999 và hiệp ước phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, là
bằng chứng hùng hồn về nguy cơ này.
Không chiến đấu bởi dân tộc và v́ dân tộc
Trong
suốt thời kỳ chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa và
Trường Sa của nhân dân Việt Nam (1974-1975), Đảng Cộng sản đă không
đứng về phía dân tộc để bảo vệ tổ quốc một cách chính đáng. Những sự
kiện lịch sử này xác định một lần nữa Đảng Cộng sản không chiến đấu
bởi dân tộc và v́ dân tộc. Họ chiến đấu v́ Quốc tế Cộng sản bởi
những ư thức hệ ngoại bang. Khi quyền lợi của dân tộc và của Đảng
Cộng sản Quốc tế trùng hợp–như thời kỳ đấu tranh chống Pháp– họ
giành lấy ngọn cờ dân tộc để tiêu diệt những người yêu nước không
đồng chính kiến. Nhưng khi quyền lợi của dân tộc và của Đảng Cộng
sản Quốc tế mâu thuẫn–như trong trận chiến Hoàng Sa, trong vấn đề
tranh chấp biên giới và vịnh Bắc Bộ gần đây, hay việc áp đặt nền
kinh tế Mác Lê lên xă hội Việt Nam– họ nhanh chóng đứng về phía
ngoại đảng, bất kể sự khốn cùng và đau khổ của nhân dân. Họ cũng sẳn
sàng lấy bạo tàn của chuyên chính vô sản để đàn áp những tiếng nói
phản đối trung thực của những người yêu nước.
Ngoài
ra trong suốt lịch sử của Đảng, quan điểm đấu tranh giai cấp và
chuyên chính vô sản làm cho họ hoàn toàn không có khả năng làm hoà
với những người yêu nước nhưng khác chính kiến. Dù rằng tất cả đều
cùng ḍng máu Việt, cùng bọc trăm trứng của cha Rồng mẹ Tiên. Những
cuộc đấu tố địa chủ, trí thức, đánh tư sản, ám sát đàn áp phe đối
lập một cách tàn nhẫn là những chứng cớ rơ ràng về đặc điểm này.
Ngược lại, họ luôn luôn có khả năng làm ḥa với quân ngoại thù. Khi
cần thiết, họ có thể chia sẻ giang sơn của tổ tiên với ngoại bang để
được bảo hộ về quyền lực.
Đối với
đất nước Việt Nam, hiện trạng tụt hậu về kinh tế, hà khắc về chính
trị, suy sụp về văn hoá cùng với những mật ước nhượng đất nhượng
biển cho Trung Quốc đă chứng minh rằng: chủ nghĩa Mác Lê từ ngày
thống nhất đến nay, hoàn toàn bất lực giúp Việt Nam xây dựng một thể
chế dân chủ để bảo toàn lănh thổ, phát triển kinh tế và phục hưng
văn hoá dân tộc. Chủ nghĩa xa lạ đó không có khả năng giúp Việt Nam
thành một quốc gia cường thịnh.
Ngày
nay–ở thế kỷ thứ 21, giáo điều Mác Lê lạc hậu tiếp tục bịt tai những
người cộng sản trước yêu cầu phục hưng dân tộc của lịch sử. Họ không
nghe được những tiếng kêu gọi đ̣i canh tân của những Nguyễn Trường
Tộ thời đại. Đó là những tiếng nói của những người đă đáp lại tiếng
kêu gọi của hồn sử, ḥa nhịp với những thao thức từ Nguyễn Trường Tộ
đến Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh,
Lư Đông A, Trương Tử Anh, Huỳnh Phú Sổ. Đó là những rung động và
lăng mạn lịch sử nhất quán xuyên suốt qua bao thế hệ để ǵn giữ chất
nguyên trinh và chính thống của hồn Việt. Đó là tiếng nói của những
người cộng sản phản tỉnh như Trần Độ, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu,
Hoàng Minh Chính, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Vũ Cao Quận; của những
người không cộng sản như Nguyễn Đ́nh Huy, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan
Quế; hay của thế hệ trẻ như Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ B́nh, Phạm Hồng
Sơn, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Đính, Nguyễn Tiến Trung và của
nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước.
Giấc mơ
phục hưng dân tộc và phát triển kinh tế của Nguyễn Trường Tộ ngày
xưa, cũng như giấc mơ của bao thế hệ trí tuệ Việt Nam từ đó đến nay
vẫn không bao giờ thay đổi. Nhưng khác với Nguyễn Trường Tộ ngày xưa
bị chết trong quên lăng, đau xót nh́n đất nước rơi vào tay của quân
xâm lưọc, những Nguyễn Trường Tộ thời đại sẽ không ngồi yên để “người
vượn do lao động thành người” tại Việt Nam tiếp tục dẫn đưa
đất nước đến chỗ tụt hậu và vong thân.
Ch́a khóa cho tương lai: tính chính thống chính trị
của nhà cầm quyền
Hiến pháp dân chủ và bầu cử tự do
Ngày
nay, ch́a khóa để mở ra thời đại phát triển kinh tế, phục hưng văn
hoá dân tộc và để bảo toàn lănh thổ nằm trong tính chính thống chính
trị của nhà cầm quyền.
Về
phương diện chính trị, ư niệm chuyên chính vô sản và đấu tranh giai
cấp của chủ nghĩa Mác Lê là một trở ngại cho việc thiết lập một nền
dân chủ chính thống. Lấy khả năng “cướp chính quyền” để xác định
tính chính thống lănh đạo đất nước là quan điểm chính trị của phường
thảo khấu dưới thời kỳ phong kiến và của băng nhóm-bè phái thời kỳ
hiện đại. Quan điểm chính trị này hoàn toàn đối nghịch với ư niệm
dân chủ mà nhân loại đang hướng đến. Trong thời đại dân chủ, một
chính quyền có năng lực pháp lư phải được xây dựng trên một Hiến
pháp hợp pháp1 và dân chủ2. Hiến pháp dân chủ
đó phải xác định được tính độc lập của ba ngành hành pháp, lập pháp
và toà án. Và Hiến pháp đó phải được toàn dân chấp thuận qua một
cuộc trưng cầu dân ư độc lập và vô tư.
Lá
phiếu tự do độc lập và trong sáng của người dân xác định tính chất
chính thống, hợp pháp của nhà cầm quyền. Đó là biểu tượng quyền làm
chủ của nhân dân. V́ vậy, một chính quyền bởi dân, do dân và v́ dân
không bao giờ phải sợ hăi trước lá phiếu. Ngược lại, một chính quyền
luôn luôn nơm nớp lo sợ lá phiếu tự do của nhân dân, không được toàn
dân bầu ra trong một cuộc bầu cử tự do đa nguyên, là chính quyền
không có năng lực đạo đức chính trị và tính chính thống để lănh đạo
đất nước.
Do đó,
tái lập tính chính thống, hợp pháp của nhà cầm quyền là điều kiện
tiên quyết và là nhu cầu cấp bách để xây dựng một nền chính trị dân
bản bền vững. Và nền chính trị dân bản bền vững là nền tảng để mở ra
thời đại phục hưng dân tộc, làm bệ phóng cho giai đoạn cất cánh về
kinh tế toàn dân và để bảo đảm sự toàn vẹn lănh thổ.
‘Giấc mơ Việt Nam’
Nh́n
lại giai đoạn lịch sử thống nhất đất nước ở thời kỳ hậu Gia Long để
thấy rằng cái ṿng oan nghiệt của quyền lực tuyệt đối đi đôi với tầm
nh́n thiển cận của những đầu óc ngu muội luôn luôn đưa đất nước vào
thời kỳ suy vong. Từ hai trăm năm trước đến nay, cái ṿng kim cô
nghiệt ngă đó vẫn tṛng lên gịng sinh mệnh của dân tộc.
Ngày
nay, chủ nghĩa Mác Lê vẫn là trở ngại lớn nhất trong việc phục hưng
dân tộc. Để tháo gở những trở ngại to lớn này trên đường sống của
dân tộc, thế hệ mới của Việt Nam trong ngoài nước phải vận dụng trí
tuệ để có một tầm nh́n rộng lớn, khai phóng, nhân bản và chính xác
về con người, dân tộc và nhân loại. Do đó, khởi điểm của của vận
động phục hưng dân tộc là thực hiện một cuộc vận động, tập hợp thời
đại nhằm xây dựng một xă hội dân bản và nhân bản cho tất cả mọi
người. Đó là yêu cầu cấp bách của lịch sử.
Chúng
ta cần suy nghĩ về những thất bại lịch sử và để mơ đến “Giấc Mơ Việt
Nam”. Để từ những nơi xa xôi trên trái đất đến những trung tâm vận
động phục hưng dân tộc ngay tại trong nước, mọi người Việt đều phải
cùng nhau chia sẻ một viễn tượng về sinh mệnh dân tộc và hướng đi
tới của đất nước. Từ đống tro tàn của lịch sử, những con phượng
hoàng sẽ cùng nhau cất cánh. Từ đó, mọi người Việt sẽ cùng nhau tái
tạo một nước Đại Việt mới, một tổ quốc Đại Việt của thời đại 2000
với không gian Việt trăi dài khắp nơi trên thế giới, một tổ quốc của
mọi người mang ḍng máu và văn hoá Việt không phân biệt chính kiến,
tôn giáo hay bất cứ một quá khứ chính trị nào.
Luật sư Nguyễn Xuân Phước
Giải
thích của biên tập viên:
(1)
Hiến pháp được thông qua theo một chu tŕnh đồng thuận trước đó.
(2)
Hiến pháp được thông qua theo quy tắc dân chủ và để bảo vệ tự do,
dân chủ.
Trích tạp chí phía
trước
------------------------------------------------------------------------------------------------
SUY TƯ
Nguyễn tiến Thành
Khi những chiếc lá cuối
cùng tả tơi rơi cùng gió, làn khí lạnh tràn về báo hiệu một mùa đông
sắp đến, người việt chúng ta quen sống cuộc sống cộng đồng, gần
gũi…cảm thấy cái lạnh lẽo xứ người như thấm sâu hơn vào tâm hồn…Có
ai là người việt ở Nauy này mà không mang theo trong ḿnh một chút
quê hương, quê hương không c̣n là một mảnh đất xa xôi, quê hương trở
thành một góc hồn mà những khi tâm tư lắng đọng, ta trở về với những
kỷ niệm xưa, để tự nhắc nhớ ḿnh vẫn c̣n là một người Việt nam…
Quê hương là ǵ
hả mẹ?
Là tuổi thơ ngày
hai buổi tung tăng cặp sách đến trường, là những cánh phượng mùa hạ
rực cháy, là cánh diều nhỏ lộng gió trong sắc đỏ hoàng hôn…là tất cả,
là:
Có những lần
trốn học, đưổi bướm cạnh cầu ao,
mẹ bắt được chưa
đánh roi nào đă khóc.
Có người cha,
người mẹ nào ở Nauy này c̣n trả lời được những lời trên về quê hương,
xứ sở của ḿnh, hay đang buông xuôi, mặc cho con cái ḿnh lớn lên
với sự thờ ơ về nguồn gốc Việt nam, tệ hại hơn lớn lên với những
nhận xét sai lầm về quê hương, đất nước của ḿnh.
Với những thao
thức đó, Hội người Nauy gốc việt - VINOF được h́nh thành. Chúng tôi
là tập hợp những người việt c̣n quan tâm đến sự sống c̣n của nền văn
hóa Việt nam nơi người việt ở xứ sở Nauy này. Hoài băo của VINOF là
những người việt chúng ta, con cái của chúng ta: sinh ra và lớn lên
ở Nauy mai sau vẫn tự hào là một người Nauy gốc việt; được tham gia
những sự kiện, tổ chức văn hóa việt, và hơn nữa, trau dồi những kiến
thức về văn hóa việt…
Tại sao VINOF? Ở
Nauy này chưa có đủ hội đoàn sao? Tôn giáo có: Giáo Hội Phật giáo
Việt nam thống nhất, Trung tâm mục vụ Công giáo Việt nam…chính trị
có: Hội người việt tị nạn, Hội cựu quân nhân QLVNCH, Mặt trận kháng
chiến v,v…Nhưng nếu tôi yêu văn hóa Việt nam mà không thuộc một tôn
giáo nào th́ sao? Nếu tôi tự hào là một người Việt nam nhưng sanh ra
và lớn lên ở Nauy th́ sao? Tôi không là thuyền nhân, tôi cũng chưa
lớn đủ để chứng kiến Quân lực Việt nam Cộng ḥa, c̣n kháng chiến th́
tôi không đủ khả năng cầm súng…V́ vậy VINOF đuợc thành lập. Tuy
nhiên tất cả mọi người đều ”hjertelig velkommen!”: một Phật tử yêu
tiếng việt, một Kitô hữu thiết tha với văn hóa Việt nam, một thuyền
nhân đứt ḷng xa quê hương, một cựu quân nhân cộng ḥa trăn trở về
vận mạng đất nước…Tôi xin thay mặt VINOF mời gọi tất cả những ai c̣n
có chút ”Việt nam” trong ḿnh ủng hộ Hội người Nauy gốc việt!
Đừng
tham gia VINOF, v́ có thanh phần đen tối sau lưng ”giật dây”! Cổ
nhân nói ”xem quả biết cây”. Chúng tôi không tự hào đă làm được
những chuyện ǵ lớn lao, nhưng chúng tôi tự hào về những thành quả
đă đạt được như:
Tổ
chức những khóa học cho thiếu nhi: học về sự phát triển của răng,
nha sĩ giúp đỡ, hướng dẫn các em học đánh răng.
Hướng
dẫn các em làm lồng đèn, Tổ chức tết Trung thu.
Tổ chức dạy học vẽ, làm
thiệp Giáng sinh.
Tổ chức tết cho cộng đồng
Việt nam.
Tổ chức ” Đêm nhạc thính
pḥng, cứu trợ băo lụt miền trung”…
Như vậy người ”giật dây”
thiết nghĩ cũng đă giật dây đúng!
Tôi chợt nhớ, có một thời
cộng sản đă cảnh cáo trong những cuộc họp nhân dân: ”kẻ thù ở trước
quư vị!” những người ngồi hàng đầu nhột nhạt; ”kẻ thù ở đàng sau quư
vị!” những người ngồi sau giật ḿnh…rồi đưa nhau ra đấu tố, rồi
những ”ông bà nông dân” một chữ cắn đôi không biết là những quan
ṭa, xét xử đúng sai…đau thương làm sao!. Nói như vậy không có nghĩa
là chúng tôi không có ư thức chính trị, chúng tôi luôn xác định
nguồn gốc của ḿnh, tại sao phải rời bỏ quê hương, đi t́m tự do, dân
chủ…Nhưng hoạt động chính trị th́ đă có những hội đoàn khác, mục
đích của chúng tôi là bảo tồn và thăng tiến văn hóa Việt nam cho
người việt ở Nauy (xin xem thêm về mục đích của VINOF trên
WWW.vinof.no!).
Ngoài ra VNOF c̣n quan
niệm rằng: ”cây ngay không sợ chết đứng”, và mỗi hội đoàn có một sắc
thái riêng,…Chúng tôi tôn trọng tất cả các hội đoàn bạn; nhưng chúng
tôi cũng hy vọng là những hội đoàn khác trưởng thành đủ, khôn ngoan
đủ để tôn trọng sắc thái riêng của VINOF!. Tôi hy vọng rằng những
thành viên của VINOF xác định lại lập trường ngày gia nhập hội,
không để những thành phần xấu lung lay lư tưởng của ḿnh, dấn thân
hơn trong những tổ chức sắp tới!
Ngoài trời tuyết rơi nhiều
hơn, tôi thấy ḿnh như thiếu chút hơi ấm t́mh người…thiết nghĩ vẫn
c̣n nhiều người việt muốn ngồi lại bên nhau trong những tổ chức văn
hóa Việt nam, t́m lại nơi nhau sự nâng đỡ, tô đậm hơn những kỷ niệm
về quê hương; và hơn nữa cổ động, ủng hộ, tham gia… VINOF, một hội
đoàn gồm những người việt yêu Tổ quốc, yêu Quê hương trong những tổ
chức sắp tới này!
Nguyễn tiến Thành
-----------------------------------------------------------------------------------
Make up, Stoltenberg!

Statsminister Jens Stoltenberg
møtte i fjor Vietnams president Nguyen Minh Triet for politiske
samtaler. FOTO: STIAN LYSBERG SOLUM/SCANPIX
This article is an English translation of an oped published in the
leading Norwegian newspaper Aftenposten "Gjør opp, Stoltenberg" on
September 17, 2009.
http://www.aftenposten.no/meninger/kronikker/article3273200.ece
English translation:
When Prime Minister Stoltenberg welcomed Vietnam's president last
year, we had hoped he would raise the cause of democracy and
freedom. Instead, he told about his commitment to FNL during the
Vietnam War, without the slightest concern for human rights.
Stoltenberg's support for the so-called National Liberation Front
FNL was probably motivated by idealism, but also meant supporting a
communist dictatorship with all that implies.
Ho Chi Minh.
Our parents fled south along with over 800,000 others when Vietnam
was divided in two in 1954. Ho Chi Minh imposed communism in North
Vietnam, and conducted, under pressure from Mao, the land reform,
which cost at least 10,000 lives. And even more became the victims
when it was put a stop to the people revolt in Nghe An and
intellectual protests from the groups Nhan Van and Giai Pham in
1956. People's opposition and the regime's reprisals aroused no
international attention. No one demonstrated for freedom in North
Vietnam, although the similarities were many of the simultaneous
uprising in Hungary, where the repression led to 10,000 demonstrated
in Oslo.
The Hanoi regime was not content with a communist state in the
north, but would also conquer South Vietnam. First, they formed the
FNL in 1960 in the south. Then they sent troops south through Laos
and Cambodia to support the FNL, with massive help from the Soviet
Union and China.
This is where the United States entered the war. And this is where
it began to be hard for idealistic young people in the West to
distinguish the nuances. From a distance it was easy to perceive the
U.S. as an imperialist and North Vietnam as a patriot. In reality,
South Vietnam was a fragile system - a young nation that needed help
to develop a democracy, with internal enemies from both right and
left.
Nascent
democracy.
The system in the South had many shortcomings and could not be
compared with the robust democracies in the West. There were still
thirties independent newspapers and a number of political parties,
100 independent publishers, and a thriving cultural life - before
the fall of Saigon in 1975. South Vietnam was ranked better than
Singapore, Taiwan and South Korea, based on democracy index from the
organization Freedom House in the United States. North Vietnam was,
however, referred to worst group along with China and North Korea.
These were later joined by Pol Pot's Cambodia.
It took a long time before Western idealists managed to see through
Pol Pot. Still people have problems to recognize North Vietnam's
inner life. As Graham Greene, people let the sympathy for the soft
gentleman with a gray goatee glare of the negative aspects of his
regime. Ho Chi Minh began as a patriot, he eventually embraced
communism - as a tool to liberate Vietnam. But communism is a
dangerous tool. History has shown us that. North Vietnam was soon to
experience it. In the South, people tried to rescue themselves.
Aid from
the United States.
Thus the help from the United States is essential if the
counterparty had China and the Soviet Union in the back. Yet it was
the South-Vietnamese forces, not Americans, who had most
confrontations with the communist forces. "General Ngo Quang
Truong’s division do it better in the jungle than we do," said
General Abrams, the U.S. commander.
Hollywood thus presents a distorted picture of the U.S. rescueing
South Vietnam for many years - just as wrong as the propaganda from
Hanoi about a liberation war against the imperialists. The truth is
rather that the people in the south sacrificed their lives for an
independent republic and a democratic development. South Vietnam
also lost 250,000 soldiers in the war, as compared to 58,000
Americans.
Slowed the
Communists.
South Vietnam lost in 1975, but saved the neighboring countries. The
former head of state Lee Kuan Yew in Singapore said in his memoirs
from 2000. The war slowed the communist advancing and gave
Singapore, Malaysia and Thailand time to get the economy to gain
momentum and give people greater material security and stability.
This decreased thus fertile ground for totalitarian ideologies.
The war claimed unfortunately many civilian lives. Television
pictures contributed understandably to create protests in the West.
When "peace" sunk in 1975, the borders were closed, the TV cameras
switched off, the protests died down. Behind the bamboo curtain
Communists took a stranglehold on freedom in the South. They sent
hundreds of thousands off to "re-education", ie detention camps,
where many spent 15-20 years. Not only military but also religious
leaders and dissidents. A few thousandths visited a courtroom. And
there were 65,000 fatal victims, according to the estimate from the
professors Desbarats and Jackson at Berkeley after a major study.
Boat
refugees.
The situation was intolerable. 800,000 boat refugees managed to get
out. But it cost. Ten to 30 percent lost their lives at sea. Each
escape was unique. Common, however, was the suppression that all
individuals had experienced.
We were picked up by Norwegian boats, with warm reception by the
crew. When we were put ashore at a refugee camp in Singapore, the
captain had dressed in full uniform and saluted each one of us. It
gave us a unique impression of Norway. And this picture is only
strengthened over the years.
Glorifying
FNL.
We think therefore it is regrettable that the Norwegian Hanoi
sympathizers from the seventies still glorify FNL and constantly
rejects South Vietnam's struggle for freedom. Attraction towards
dictatorships may be a private matter, but not with people in
positions of power. Former minister of foreign affairs Thorvald
Stoltenberg visited Hanoi in 1970 and accepted the regime's message
of reconciliation, without objections. South Vietnam's independence
seemed irrelevant in his plan for peace. The man who later became UN
High Commissioner for Refugees downplayed South Vietnamese’ fate.
The Prime Minister still tells about his youthful enthusiasm for the
FNL. Jens Stoltenberg praised a regime that has been behind the
genocide of 1.7 million people, according to the recognized mass
violence researcher Rummel. This is not only about history but also
about the contemporary. As in Iran, it is the same regime that
governs in Vietnam now that 30 years ago.
FNL’s founder Truong Nhu Tang became a boat refugee in 1978. Hanoi
colonel and editor Bui Tin defected a few years later. Both wrote in
their memoirs about reprisals and repression, and they denounced the
regime they had fought for.
Make up!
What about Stoltenberg? Our organization sent him a letter and
wanted to know if he now in 2009 takes distance from the FNL. Our
questions were not answered. He should denounce his unilateral
support to the FNL. He must recognize that well-meant idealism led
him to support the oppressors - who still oppress! Only when he
makes up, he can be a leader we need, an idealist with discernment!
kilde:aftenposten.no
-----------------------------------------------------------------------------------
Gjør opp, Stoltenberg!

KHANG NGOC NGUYEN
medlem Det vietnamesiste flyktningeforbund i Norge
og TUAN MINH
NGUYEN, leder Det vietnamesiste flyktningeforbund i Norge
Først når Jens Stoltenberg tar avstand fra sin ensidige støtte til
FNL, kan han bli en leder vi trenger.
Menneskerettighetene.
Da statsminister
Stoltenberg tok imot Vietnams president i fjor, hadde vi håpet han
ville tale demokratiets og frihetens sak. I stedet fortalte han om
sitt engasjement for FNL under Vietnamkrigen, uten spor av bekymring
for menneskerettighetene. Stoltenbergs støtte til den såkalte
Nasjonale frigjøringsfronten FNL var trolig motivert av idealisme,
men betydde også støtte til et kommunistisk diktatur med alt det
innebærer.
Ho Chi Minh.
Våre foreldre
flyktet sørover sammen med over 800000 andre da Vietnam ble delt i
to i 1954. Ho Chi Minh innførte kommunismen i Nord-Vietnam, og
gjennomførte, under press fra Mao, jordreformen som kostet minst
10000 liv. Og enda flere ble ofre da det ble satt en stopper for
folkeopprøret i Nghe An og intellektuelle protester fra gruppene
Nhan Van og Giai Pham i 1956. Folkets motstand og regimets
represalier vekket ingen internasjonal oppsikt. Ingen demonstrerte
for frihet i Nord-Vietnam, selv om likhetstrekkene var mange til den
samtidige oppstanden i Ungarn, der undertrykkelsen førte til at
10000 demonstrerte i Oslo.
Hanoi-regimet nøyde
seg ikke med en kommuniststat i nord, men ville også ha med seg
Sør-Vietnam. Først dannet de FNL i 1960 i sør. Dernest sendte de
tropper sørover gjennom Laos og Kambodsja for å støtte FNL, med
massiv hjelp fra Sovjet og Kina.
Det er her USA
kommer inn i krigen. Og det er her det begynte å bli vanskelig for
idealistiske ungdommer i Vesten å skille nyansene. På avstand var
det lett å oppfatte USA som imperialist og Nord-Vietnam som patriot.
I virkeligheten var Sør-Vietnam et skjørt system – en ung nasjon som
trengte hjelp til å utvikle et demokrati, med indre fiender både fra
høyre og venstre.
Spirende
demokrati.
Systemet i sør
hadde mange mangler og kunne ikke sammenlignes med solide
demokratier i Vesten. Det fantes likevel et 30-talls uavhengige
aviser og en rekke politiske partier, 100 uavhengige forlag og et
blomstrende kulturliv – før Saigons fall i 1975. Sør-Vietnam ble
rangert som bedre enn Singapore, Taiwan og Sør-Korea, basert på
demokratiindekser fra organisasjonen Freedom House i USA.
Nord-Vietnam ble derimot henvist til verstinggruppen sammen med Kina
og Nord-Korea. Disse fikk senere følge av Pol Pots Kambodsja.
Det tok lang tid
før Vestens idealister klarte å gjennomskue Pol Pot. Ennå har man
problemer med å erkjenne Nord-Vietnams indre liv. Som Graham Greene,
har man latt sympatien for den milde herren med grått fippskjegg
blende for de negative sidene ved hans regime. Ho Chi Minh startet
som en patriot, han omfavnet etter hvert kommunismen – som et
redskap for å befri Vietnam. Men kommunismen er et farlig redskap.
Historien har vist oss det. Nord-Vietnam fikk snart oppleve det. I
sør prøvde man å redde seg unna.
Hjelpen fra USA.
Dermed var hjelpen
fra USA helt nødvendig når motparten hadde Kina og Sovjet i ryggen.
Likevel var det de sørvietnamesiske styrkene, og ikke amerikanerne,
som hadde flest konfrontasjoner med kommuniststyrkene. «General Ngo
Quang Truongs divisjon gjør det bedre i jungelen enn oss», hevdet
general Abrams, den amerikanske øverstkommanderende.
Hollywood
presenterer dermed et vrangbilde av at USA reddet Sør-Vietnam i
mange år – like feil som propaganda fra Hanoi om en frigjøringskrig
mot imperialistene. Sannheten er vel heller at folket i sør ofret
livet for en selvstendig republikk og en demokratisk utvikling. Sør
mistet da også 250000 soldater i krigen, mot amerikanernes 58000.
Bremset
kommunistene.
Sør-Vietnam tapte i
1975, men reddet nabolandene. Dette hevder tidligere statsleder Lee
Kuan Yew i Singapore i memoarer fra 2000. Krigen bremset
kommunistenes fremmarsj og ga Singapore, Malaysia og Thailand tid
til å få økonomien til å skyte fart og gi befolkningen større
materiell trygghet og stabilitet. Dette minsket dermed grobunn for
totalitære ideologier.
Krigen krevde
dessverre mange sivile liv. TV-bildene bidro forståelig nok til å
skape protester i Vesten. Da «freden» senket seg i 1975 ble grensene
stengt, TV-kameraene slått av, protestene stilnet. Bak bambusteppet
tok kommunistene et kvelertak på friheten i sør. De sendte
hundretusener til «omskolering», dvs. fangeleirer, der mange
tilbrakte 15-20 år. Ikke bare militære, men også religiøse ledere og
dissidenter. Noen få promille var innom en rettssal. Og det var
65000 dødsofre, ifølge estimatet fra professorene Desbarats og
Jackson på Berkeley etter en stor studie.
Båtflyktninger.
Situasjonen ble
uutholdelig. 800000 båtflyktninger lyktes å komme ut. Men det
kostet. Ti til 30 prosent mistet livet på havet. Hver båtflukt var
unik. Felles var likevel undertrykkelsen av individet alle hadde
opplevd.
Selv ble vi plukket
opp av norske båter, med hjertelig mottagelse av mannskapet. Da vi
ble satt i land ved flyktningeleiren i Singapore, hadde kapteinen
kledd seg i full uniform og gjorde honnør til hver og en av oss. Det
ga oss et helt unikt inntrykk av Norge. Og dette bildet er bare
forsterket gjennom årene.
Glorifiserer FNL.
Vi synes derfor det
er beklagelig at norske Hanoi-sympatisører fra 70-tallet fortsatt
glorifiserer FNL og stadig avviser Sør-Vietnams kamp for frihet.
Dragning mot diktaturer er kanskje en privatsak, men ikke hos
personer i maktposisjoner. Thorvald Stoltenberg besøkte Hanoi i 1970
og godtok regimets budskap om forsoning, uten motforestillinger.
Sør-Vietnams selvstendighet virket irrelevant i hans plan for fred.
Mannen som senere ble FNs høykommissær for flyktninger
bagatelliserte sørvietnamesernes skjebne.
Statsministeren
forteller stadig om sin ungdoms glød for FNL. Jens Stoltenberg
hyllet et regime som har stått bak et folkemord på 1,7 millioner,
ifølge den anerkjente massevoldsforskeren Rummel. Dette handler ikke
bare om historie, men også om samtid. Som i Iran, er det det samme
regimet som styrer i Vietnam nå som for 30 år siden.
FNL-grunnleggeren
Truong Nhu Tang ble båtflyktning i 1978. Hanoi-oberst og
sjefredaktør Bui Tin hoppet av noen år senere. Begge skrev i sine
respektive memoarer om represalier og undertrykkelse, og de tok
avstand fra regimet de hadde kjempet for.
Gjør opp!
Hva med
Stoltenberg? Vår organisasjon sendte ham brev og ville vite om han
nå i 2009 tar avstand fra FNL. Vårt spørsmål ble ikke besvart. Han
burde ta avstand fra sin ensidige støtte til FNL. Han må erkjenne at
velment idealisme førte ham til å støtte undertrykkere – som
fortsatt undertrykker! Først når han gjør opp, kan han bli en leder
vi trenger, en idealist med dømmekraft!
kilde:aftenposten.no
---------------------------------------------------------------