Xã luận

   TỔ QUỐC và DÂN TỘC

 

Con nguời sinh ra không thể tự chọn lựa cha mẹ, Chủng Tộc hay Tổ Quốc. Con người chỉ có thể chấp nhận mà không có quyền đòi hỏi. Nếu như cho rằng sự có mặt của mình trên cái cõi đời nầy là một diễm phúc, là một sự may mắn và biết an phận với những gì mình đang có, thì nguời đó sẽ thấy con đường trước mặt là một bầu trời tươi sáng hạnh phúc , đầy mơ uớc và hy vọng. Nguời đó sẽ biết cám ơn cha mẹ mình, biết cám ơn ông bà Tổ Tiên mình, biết cám ơn Quê hương đất nước mình. Và dĩ nhiên họ sẽ biết yêu mến và trân trọng tất cả những thứ gì mình đang có. Nguợc lại kẻ nào thấy không hài lòng với những gì mình đang có, luôn than thân trách phận…Và có nghĩa là họ không hài lòng với tất cả mọi thứ, kể cả chính bản thân họ. Thì những người nầy làm sao có được một lương tâm trong sáng, lành mạnh. Họ sống bất nghĩa với ông bà,cha mẹ họ được thì sá gì Quê hương, Đất nước và Dân tộc.

Ngoài ra cũng có những kẻ chỉ biết yêu bản thân mình, say mê với danh vọng, của cải vật chất giàu sang, cũng sẽ sẳn sàng bán rẽ lương tâm để mong đạt được những gì mình muốn có. Thì mấy chữ tình người, Quê hương, Dân tộc đối với họ chẳng có nghĩa lý gì cả.

Đất nuớc ta trải qua bao thời đại. Không thiếu gì những người hết lòng bảo vệ Quê hương đất nuớc, kể cả hy sinh của cải vật chất, gia đình và ngay cả mạng sống của họ. Thế nhưng cũng không thiếu những kẻ bán nuớc cầu vinh, làm tay sai cho ngoại bang hay lập bè, kết đảng để hại dân, hại nuớc, để có được chút bã lợi danh nhất thời. Ngày xưa có Lê Chiêu Thống, thì thời cận đại có Hồ chí Minh và nay thì đám tàn dư Việt gian cọng sản trong nước.

Ngoài ra trong cơn sóng dữ không thiếu những thứ rác rến trôi theo ăn có, làm vẫn đục, dơ bẩn thêm dòng nuớc. Đó là những kẻ theo đóm ăn tàn, lợi dụng thời cơ để kiếm chác thêm cho mình chút bã lợi lộc và chút danh ảo không có thực. Mặc cho hành động đó có làm thương tổn đến Dân tộc, phá hoại cuộc đấu tranh dành tự do dân chủ cho Quê hương, Đất nước.

Trong đó có đủ hạng nguời, mang đủ màu sắc, khoác lên mình nhiều thứ áo xanh, áo đỏ, áo đen, áo vàng …; đội trên đầu đủ loại bằng cấp thiệt hoặc giả. Những danh xưng rất sáo ngữ thật kêu, đôi khi nghe thật chói tai. Họ sẳn sàng tự phong vái lạy nhau và tự suớng. Không quan tâm đến sự đau khổ của kẻ khác. Nhất là những kẻ đang hướng lòng về một Quê hương đất nước tự do dân chủ và nhân bản.

Họ không ngây thơ như nhiều nguời tuởng. Bởi trong thế giới truyền thông hiện nay, thuợng vàng, hạ cám đều có đủ. Nhưng không thiếu những kẻ ăn ngay nói thật. Họ sẵn sàng lấy lòng chân thành để góp ý khi thấy đó là lợi ích chung cho tập thể. Và cũng không thiếu những tên bới lông tìm vết để thoả mãn cái tôi bất lương đố ky hay vì một mục đích đen tối nào khác. Nên việc sàng lọc để tìm cho mình một câu trả lời đúng sai đâu phải là khó. Do đó họ không vô tình mà biết rất rõ việc họ đang làm.

Trong số mấy triệu nguời Việt tị nạn khắp thế giới. Đại đa số là chạy trốn một chế độ Việt gian lưu manh, lường gạt lòng yêu nước của toàn dân, phi nhân, tàn bạo. Nhưng bọn Việt gian cọng sản đã xão quyệt nhân trong lúc tranh tối tranh sáng đã đưa một số rác rến cặn bã xấu xa cùng  trôi theo giòng nguời chạy trốn để mưu đồ những cuộc phá hoại về sau. Như chúng ta đa thấy như cây kim trong bọc lâu ngày, và chúng đang ló dạng từ từ trong thời gian gần đây.

Có những kẻ truớc đây sợ hãi chạy trốn chế độ Việt gian cọng sản, cũng đã từng bị nhà tan cửa nát hoặc tù tội bởi đám việt gian cọng sản, hoặc có thù với Việt gian cọng sản. Nay ra nuớc ngoài, đuợc cơm no ấm cật, đã quên dần mối thù ngày nào thề không đội trời chung với bọn Việt gian cọng sản. Họ lơ là với thời cuộc, mặc ai tranh đấu đòi t

do dân chủ cho Quê hơơng. Thậm chí không thèm sinh hoạt với cộng đồng nguời Việt nơi họ cư ngụ. Họ chỉ biết đến gia đinh họ là đủ. Có nguời gọi họ là nguời có “ÓC CÁ” mau quên. Vì con cá khi mắc câu bị chê quá nhỏ, nên đuợc thả xuống sông trở lại. Nhưng sau đó nguời câu cá giật luởi câu lên thì cũng chính con cá vừa quăng xuống lại cắn câu.

Cũng có những lọai nguời “ÓC BÙN” mau quên thù củ, mà quên luôn cả lương tri quay về lạy lục, cúc cung tận tụy kẻ thù, lại hàm ơn nhận giặc làm cha. Như câu chuyện sau đây:

Một gia đinh nọ. Một hôm có bọn cuớp xông vào nhà bắt tất cả gia đinh nhốt vào một cái phòng chứa củi. Bọn cuớp chiếm dụng tất cả nhà cửa và phương tiện. Nhờ của cải sẳn có, chúng sống thừa thải, thoải mái. Còn gia đinh chủ nhà mỗi bữa chỉ đuợc phát cho mỗi nguời một củ khoai mì và lưng ca nuớc lạnh. Không những thế còn bị chúng lôi ra đánh đập tra khảo tàn nhẩn…. Lòng thù hận càng dâng cao, chỉ muốn ăn tươi, nuốt sống bọn cuớp.

Những lúc nhìn bọn cuớp ăn nhậu ruợu thịt ê hề, mà cả nhà mình bị bỏ đói. Nhìn đôi mắt thèm thuồng của vợ con mà lòng nguời gia chủ như ai đâm ngàn dao, ánh mắt thảm sầu , ai oán. Đôi giòng lệ đau thương chảy dài theo má hàng đêm. Có lúc muốn chết cho xong. Nhưng nghi đến trách nhiệm với vợ con nên gia chủ cố gắng sống để mong tìm cách xoay đổi thời thế. Cho đến một hôm biết cả nhà gia chủ đói mệt lã, thân tàn sức kiệt. Dù có muốn trả thù hay làm loạn cũng không xong. Bọn cuớp bảo với nguời nhà : nếu ai chịu ra lao động thì sẽ cho thêm khẩu phần ăn. Nhưng nguời gia chủ có lẽ lòng thù hận còn cao nên không chịu ra lao động. Chỉ có đứa con trai muời tám tuổi xin ra làm lao động vì chịu không nỗi cơn đói. Ngày hôm đó ngoài khẩu phần thuờng lệ, cậu con trai đựơc thêm nữa chén cơm. Lòng cậu trai rất mừng rỡ. Hôm sau nguời con gái muời bảy tuổi cũng xin ra làm lao động và khẩu phần hôm đó đuợc tăng lên thành một chén. Nguời gia chủ nhìn các con thêm đuợc một phần ăn đỡ dạ hơn thuờng ngày quá đói khát, cũng mừng thầm cho các con, lòng cũng cảm thấy vơi đi một chút đau thương.

Và cứ thế thời gian thấm thoát trôi. Bây giờ cả nhà đã đuợc ra ngoài phục vụ cho bọn cuớp. Đuợc tự do đi lại trong nhà, không bị nhốt tù túng suốt ngày như truớc đây. Sau mỗi lần lao động, bọn cuớp lại tăng thêm một chén com hay thuởng cho một con cá, hoặc miếng thịt trong xuất ăn, thì cả nhà vui mừng chia nhau, miệng mim cuời kèm theo ánh mắt biết ơn kẻ đã cho mình miếng cá, miếng thịt để bồi duỡng thêm….

Tuy nhiên nguời gia chủ lòng thù hận có vơi đi. Nhưng lúc nào cũng nuôi chí, cố tìm cách để đoạt lại gia sản của mình từ trong tay bọn cuớp. Nhưng sức nguời có hạn và thời gian cũng phủ phàng đã lấy đi mạng sống của nguời gia chủ không may. Vì sợ nguời ngoài dòm ngó, nên bọn cuớp đa cho nguời nhà làm đám tang tươm tất cho nguời xấu số. Xem như đuợc ưu đãi, vợ con nguời quá cố một lòng biết ơn bọn cuớp. Bây giờ trong mắt họ thay vì thù hận, bọn cuớp đa trở thành ân nhân của gia đinh họ. Vì thế họ cung kính và phục vụ một cách chân thành, tận tình.

Thấy đứa con trai dễ sai, dễ bảo lại siêng năng phục vụ nhiệt tình, bọn cuớp đã ưu đãi hơn để lợi dụng. Nhất là làm cho nó quên mất hận thù ăn cuớp năm xưa. Và thế là nó phục vụ cho bọn cuớp như phục vụ cha nó vậy.

Dùng bạo lực và khống chế bao tử để cai trị là sách luợc chính của bọn ác ôn chủ nghia cọng sản. Và cung chính vì bao tử mà bao kẻ sẳn sàng bán rẽ luong tâm để tiếp tay bọn ác ôn cọng sản khống chế cả một Dân tộc. Ngoài ra chúng còn dùng mồi lợi lộc để chiêu dụ hoặc gây chia rẽ giữa nguời với nguời. Gieo rắc khủng bố và nghi kỵ để kẻ bị trị sợ hải, sẳn sàng tố giác nhau để tìm đuợc bình an cho riêng bản thân mình.

Đa là cuớp thì làm gì có luong tâm. Kẻ giúp cuớp thì cùng chung một chủng loại. Làm gì có tình yêu Quê huong và Dân tộc. Bọn Việt gian cọng sản và những kẻ tay sai chỉ biết sống cho riêng mình. Nêu lên ngọn cờ Quê huong Dân tộc chỉ là lá bài xão trá, che đậy lòng tham vô độ và vô luân, bất nhân độc ác cua bọn Việt gian cọng sản và đám tay sai mà thôi.

Và khốn nạn thay bọn theo đóm ăn tàn, lại là kẻ thù lớn nhất của công cuộc đấu tranh tìm tự do dân chủ cho Quê huong Đất nuớc. Chính bọn nầy là kẻ đâm sau lung chiến sỉ, là giòi trong xuong, là kẻ trộm trong nhà, là nuôi khỉ dòm nhà. Chúng nó lúc nào cung luồn lách, ẩn núp sau lung để thừa co ra tay khi chúng ta so hỡ , hoặc cản trở chúng ta khi đâm mui kích sắp giết đuợc kẻ thù. Chúng làm gì có Tình Yêu Tổ Quốc và Dân tộc. Để mhận diện đuợc những tên nầy, khi chúng không dám đứng duới lá cờ vàng ba sọc đỏ, vì sợ bọn Việt gian cọng sản biết đuợc. Hay không dám đứng duới cờ cọng sản, vì sợ nguời quốc gia tại hải ngoại nhận diện ra. Chúng ngụy biện rằng không muốn làm chính trị. Nhung thực chất có ai bắt chúng làm chính trị đâu?. Nhung đa là một công dân của một nuớc thì phải có THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ rõ ràng. Vì anh chấp nhận hay không chấp nhận thể chế chính trị mà một nhóm lảnh đạo đa áp đặt lên quê huong Dân tộc của anh. Anh không thể đi hai hàng đuợc. Vì có ai chấp nhận hay ủng hộ một thể chế bán nuớc hại dân đâu?. Còn nhu anh cho đó không phải là quê huong đất nuớc của anh, thì anh mới bỏ mặc cho ai muốn làm gì thì làm. Một khi anh vô can và vô cảm với nỗi đau của Dân tộc và sự mất mát của Quê huong, thì làm sao anh có tình yêu Tổ Quốc và Dân tộc đuợc ?!.

 

 

 

 

                                                             Oslo ngày 28.08.2011

                                                                     B.S. Phạm Tứ Linh

 

 

 

 

 -    Chúng tôi không là Việt Kiều  

    -    Người Việt đang từ bỏ quê hương

    -    Làm thế nào để Việt Nam có Công đoàn độc lập thực chất?
 

 

 

 

Chúng tôi không là Việt Kiều
Năm ngoái, một cô du sinh Việt Nam theo học chương trình tiến sĩ ở Hoa Kỳ phỏng vấn tôi cho luận án của cô ấy với đề tài: Cách nào để chính quyền Việt Nam đến với Việt kiều ở Mỹ.
“Trước hết hãy ngưng gọi chúng tôi là Việt kiều,” tôi trả lời.
Thấy cô ấy lúng túng, tôi giải thích: “Chúng tôi là công dân Mỹ gốc Việt, không phải công dân của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”
Chính quyền Việt Nam muốn xem người Việt ở hải ngoại là công dân Việt mang “hộ chiếu” nước ngoài. Cứ xem thái độ của Ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang của họ thì rõ. Khi gặp Tổng Thống Mỹ Barack Obama ở Toà Bạch Ốc hồi tháng 7 năm ngoái, Ông Sang cảm ơn chính phủ Mỹ đã chăm lo cho các người Việt ở Hoa Kỳ. Đây là lời cám ơn không đúng cương vị. Chính phủ Mỹ lo cho dân Mỹ là việc đương nhiên; hà cớ gì Ông Sang cảm ơn nếu không là muốn nhận vơ chúng tôi là dân của ông ấy? Nhận vơ như vậy không ổn, vì nhiều lý do.

Trước hết, rất nhiều người chưa hề một ngày là công dân của nhà nước cộng sản Việt Nam: những người ngoài Bắc di cư vào Nam trước khi đảng cộng sản lập ra Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và những người trong Nam bỏ nước ra đi trước khi đảng cộng sản ấy xâm chiếm miền Nam.
Kế đến là những người bỏ nước đi tị nạn. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, tị nạn có nghĩa từ bỏ sự bảo vệ của chế độ cầm quyền ở quốc gia nguyên quán. Theo nguyên tắc này, khi chúng ta đang xin hay còn mang quy chế tị nạn mà đặt chân về Việt Nam, dù chỉ để thăm gia đình, thì xem như tự đặt mình trở lại dưới sự bảo vệ của chế độ cầm quyền và sẽ tự động mất tư cách tị nạn. Pháp áp dụng đúng nguyên tắc này trong khi một số quốc gia khác thì nhân nhượng hơn.

Dù không thuộc các thành phần trên, một khi giơ tay tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ, mỗi người trong chúng tôi đã chính thức từ bỏ quốc tịch Việt Nam. Trước luật pháp Hoa Kỳ, chúng tôi là công dân Mỹ chứ không là công dân của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
 

Cô sinh viên tiến sĩ xem chừng hiểu ra câu trả lời: chúng tôi không là Việt kiều. Chúng tôi là người Mỹ gốc Việt,.” Tôi giải thích thêm: “Cái gốc Việt ấy cho phép chúng tôi lên tiếng về các vi phạm nhân quyền và một số vấn đế khác nữa ở Việt Nam. Chúng tôi có thân nhân bị đàn áp. Chúng tôi có tài sản bị cưỡng chiếm. Đó là những vấn đề quyền lợi của công dân Mỹ, khi bị xâm phạm thì chính quyền Mỹ có nhiệm vụ can thiệp. Hơn nữa, chúng tôi có sự hiểu biết sâu sắc về hiện tình xã hội Việt Nam để giúp cho sự can thiệp ấy đạt hiệu quả.” Nói đi thì cũng phải nói lại. Khi nhà nước cộng sản Việt Nam nhận vơ thì lỗi của họ chỉ có phân nửa. Phân nửa còn lại là lỗi của chúng ta.

Gần đây, cộng đồng Việt ở vùng Hoa Thịnh Đốn xôn xao về cuộc phỏng vấn video của một người Việt bị chặn ở phi trường, không được nhập cảnh, khi về thăm nhà ở Việt Nam. Cuộc tranh luận đã bỏ sót một yếu tố quan trọng: Cả hai phía của cuộc tranh luận đứng trên cương vị Việt kiều hay trên cương vị công dân Mỹ? Khi công dân Mỹ bị gây khó dễ ở phi trường, thì người ấy dứt khoát đòi liên lạc với toà lãnh sự Mỹ ở Việt Nam; nếu bị công an câu lưu “làm việc” thì người ấy tuyệt nhiên không hợp tác cho đến khi đã nói chuyện được với toà lãnh sự Mỹ; nếu bị tống tiền, chèn ép bởi giới chức chính quyền Việt Nam thì cũng báo ngay cho toà lãnh sự Mỹ. Khi về lại Hoa Kỳ thì nạn nhân phải báo động ngay với Bộ Ngoại Giao.
Chính quyền Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ công dân Mỹ. Khi nhận được nhiều báo cáo từ các công dân Mỹ bị sách nhiễu, thì chính quyền Mỹ sẽ phải đặt vấn đề với phía Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam có dám đối xử tệ với những công dân Mỹ khác đâu, mà chỉ sách nhiễu người Mỹ gốc Việt. Chẳng qua chúng ta cho phép họ làm vậy. Lỗi ấy là của chúng ta. Thành ra, muốn khẳng định “chúng tôi không là Việt kiều” với nhà nước Việt Nam thì trước hết chúng ta phải tự nhủ và nhắc nhở lẫn nhau:“Chúng ta không là Việt kiều”. Khi người người trong chúng ta ý thức điều này và hành xử đúng cương vị thìnhà nước Việt Nam sẽ phải thay đổi theo. Tôi tin là vậy.

 

Một công dân Mỹ gốc Việt
 

 

Fakta om vietnamesere i Norge

- Det bor nærmere 20 000 personer av vietnamesisk avstamning i Norge. Det er

- Den fjerde største ikke-vestlige innvandrergruppa - etter pakistanere, irakere og somaliere

- 2/3 er førstegenerasjons innvandrere. De fleste kom som båtflyktninger og ved familiegjenforening på
1980-tallet.

- 9 av 10 har norsk statsborgerskap

- Utdanningsnivået i førstegenerasjonen er svært lavt. Men 47 prosent av andregenerasjonen tar
høyere utdanning - mot 31 prosent i befolkningen som helhet.

- Sysselsettings- og inntektsnivå er høyt, sammenlignet med andre grupper med lang botid, men under nordmenns.

- Et flertall eier sinegen bolig.

(Berit Berg, NTNU Samfunnsforskning e-post: berit.berg@svt.ntnu.no - Publisert 16. september, 2009 )

 

------------------------------