
Đầu voi đuôi chuột
Hôm nay là ngày nghỉ
thường lệ trong tuần nên tôi muốn xuống phố để xem ngày ”mammut” ra
sao. Tiệm sách Tanum, một trong những tiệm sách lớn của Oslo, tọa
lạc tại một trong những con đường chính của trung tâm phố, mở cửa
vào lúc 7:00 sáng, để bán rẻ các loại sách.
Năm rồi, vào khoảng
thời gian này, việc bán sách giá rẻ gọi là ”mammut” cũng đă được
thực hiện. Mammut là tên một động vật trong gia đ́nh giống voi, xuất
hiện trên trái đất từ lâu ..và giờ đây, gần như tuyệt chủng. Đặt tên
cho chiến dịch bán sách rẻ với biểu tượng này, chắc hẳn Hội xuất bản
sách ở Na Uy ám chỉ đến việc sẽ bán được một số lượng sách khổng lồ,
v́ có loại sách được giảm giá đến 80% giá sách nguyên thủy.

Thấy trên giá sách
toàn sách hướng dẫn về du lịch, tôi hỏi một bà nhân viên về loại
sách cùng chủ đề nhưng có tính chuyên môn. Bà ấy vui vẻ dẫn đến quầy
sách theo nhu cầu của khách hàng. Tôi hỏi tiếp là, loại sách này có
giá ”mammut” không (tôi đă đoán trước câu trả lời, nhưng hỏi để cầu
may). Bà ta nói không, rồi hỏi lại tôi là đă xem xấp giấy quảng cáo
chưa (gồm nhiều trang, in các tên và loại sách khác nhau)
- Có thể cho
tôi phỏng vấn không?. Một cô gái hỏi tôi với microphone có chữ NR
K (cơ quan truyền
h́nh của Na Uy).
- Một lát
sau ...v́ tôi đang ăn và xem thư mục các loại sách
- Một phút
thôi ....
Tôi chưa kịp trả
lời, một bà đứng gần tô i nói, (có lẽ cũng là người của Đài truyền
h́nh, vừa chỉ cho cô gái kia vừa nói) phỏng vấn người này nè (một
khách hàng nào đó đứng cạnh tôi).
Tiệm sách này, cùng
với Norli (một tiệm sách khác có tiếng tại Oslo) đi vào chiến dịch,
nhưng với cách đặc biệt hơn (có lẽ thế, bởi tôi chưa ghé vào Norli)
...v́ chiêu đăi khách hàng với bánh ḿ thịt và cà phê. Sau khi xem
qua thư mục, tôi thấy loại sách ḿnh muốn t́m không có trong danh
sách ”mammut”. Tôi trở lại quầy sách ban đầu, nơi có các sách viết
về các vấn đề thuộc vùng Á đông.
Trong một cuốn sách
ghi lại những phát biểu của các chính khách trong thời các chính phủ
Mỹ có liên quan đến chiến tranh VN, tôi thấy rơ ràng là cuộc chiến
đó không thể nào đem lại chiến thắng cho bên gọi là đồng minh. Một
trong những ư đó có nội dung đại khái là, nếu Mỹ có đem thêm quân
vào VN th́ không thể tiêu diệt hết quân đội Bắc Việt ...mà nếu sự
kiện đó có thể xảy ra, Liên Xô và Trung quốc sẽ chi viện thêm người
vào cuộc chiến này. Rơ ràng điều đó khác hẳn với cuộc chiến Nam, Bắc
Đại hàn trước kia, khi quân đồng minh (chủ yếu là quân lực Mỹ) đă
cùng quân đội Nam Hàn, tấn công vào quân đội Trung Cộng, khi phe này
tiếp sức cho quân đội Bắc Hàn. Chỉ thiếu quyết định sau cùng của
tướng Mỹ, Mac Arthur, đ̣i sử dụng bom nguyên tử, nếu quân đội Trung
Cộng c̣n sử dụng chiến thuật ”Biển người”... muốn tiếp tục tấn công
về phía cực nam của Nam Hàn.
Đứng ở quầy sách
này, tôi lại thầm mong được người phỏng vấn quay trở lại, hỏi tôi
câu hỏi trước đây. Tôi sẽ chỉ cho họ thấy cuốn sách có tựa ”Giấc mơ
đêm hôm trước”, một cuốn sách được viết lại từ những đoạn viết ngắn
(như Hồi kư) của một nữ bác sĩ tên Đặng thùy Trâm. Cô này theo đoàn
quân Bắc Việt, vào trong Nam trước năm 1975, chết tại một tỉnh ở
Trung phần. Nếu được hỏi cảm tưởng về cuốn sách đó, tôi sẽ trả lời
là, đất nước tôi có nhiều anh hùng ...và sẽ có thêm nhiều anh hùng,
nhưng người anh hùng mà chúng tôi hiện nay rất cần là một người biết
chiến đấu, chống lại chính quyền CS tại Việt Nam; một chính quyền hà
hiếp người dân, cúi đầu bán lănh thổ, lănh hải cho ngoại bang.
Một số người Việt
tại hải ngoại đă viết sách về Việt Nam. Ở Úc, có người tên Trương
minh Hoà. Anh ta xuất bản một cuốn sách nói về việc nhốt tù quân cán
chính miền Nam VN, trong chính sách người CS gọi là ”học tập cải
tạo”. Sách được một nhà xuất bản lớn ở Úc in và đă có mặt trong cuộc
triển lăm sách tại Nữu Ước. Tác giả dành th́ giờ đi một số nơi khác
trên đất Mỹ, vừa thăm bạn bè vừa nhân cơ hội này, quảng cáo cuốn
sách. Theo tác giả, cuốn sách không được đón tiếp đúng mức như mong
muốn. Lư do có khá nhiều. Nhưng, theo một bài đă được đăng, tác giả
cho biết, trước vụ ra sách, từ lâu đă có những tin đồn đăi, cho
rằng, anh ta là người hoạt động cho CS; ít ra là thân Cộng.
Không có Nghị quyết
36 của Cộng sản VN, sân khấu thời sự của người Việt ở hải ngoại cũng
đă trở thành tuồng bát nháo, bởi những kẻ không chấp nhận sự thành
công của kẻ khác. Những kẻ đó là những người muốn có lợi, có danh mà
không muốn làm việc. Nếu tôi là người có trách nhiệm quyết định
trong một tổ chức nào đó của người Việt, tôi chấp nhận sự quay về
của tất cả những người trước đây đă từng làm việc trong chính quyền
CS. Chẳng hạn một Bùi Tín. Trước năm 1975, chính quyền miền Nam đă
chiêu hồi trên năm mươi ngàn cán binh CS, trong đó có những người
mang cấp bậc tá. Những người chiêu hồi đó, nếu không có đóng góp
lớn, cũng đă không có những sự phá hoại nào. Huống hồ một Trương
minh Hoà nào đó. Nếu ta có chính nghĩa và có phương cách chiến đấu
tốt th́ đó chính là sự thu hút có tính thuyết phục đối với những
người bên kia chiến tuyến, những người đă nhận ra việc sai lầm của
ḿnh trước kia.
Miễn là, trong sách
nói về tù cải tạo, tác giả đừng xen vào những ca tụng chính quyền
CS, những phỉ báng vu vơ về chính quyền tại miền Nam năm 1975. Đặc
biệt, trong những cuốn sách nói về t́nh h́nh thời sự chính trị hiện
nay, cần phải nêu lên cho rơ, hai cái tệ hại, cái tệ hại bây giờ, so
với thời gian trước kia, gấp cả chục, cả trăm lần. Những gian dối
vừa nói, cách lừa gạt theo lối ”Treo đầu dê, bán thịt chó”, đă xảy
ra trong thời gian gần đây, như trong Đặc san Đa hiệu số 92, của Hội
trường Vơ bị Đà Lạt, như cuốn sách ”Boat people” của Carina Oanh
Hoàng ..v.v.. và c̣n nhiều nữa.
Cuốn sách ”Giấc mơ
đêm hôm qua” có lẽ đă được in và bán tại Mỹ. Tại đó, sách có bán
chạy hay không, chúng ta không có tin tức. Nhưng, tại xứ này, sự gạn
lọc của độc giả thật là khinh khủng. Năm rồi, tiệm sách Norli bị lỗ
hằng trăm triệu. Tính theo tỉ lệ, cứ một người Na Uy đă quăng đi một
cuốn sách; nghĩa là, năm rồi đă có khoảng 3 triệu cuốn sách đă bị
phế bỏ. Hội xuất bản sách Na Uy, khi tung ra chiến dịch ”mammut”
thật ra không làm việc uổng công. Sách lưu trữ lâu ngày trong kho
chịu sự thiệt hại c̣n lớn hơn nhiều. Năm nay, để tránh việc ” Đầu
voi đuôi chuột”, họ đă thay đổi cách làm việc. Những nhà xuất bản
nhỏ, những cuốn sách kém hấp dẫn đă khó chen chân trong chiến dịch
bán rẻ sách năm nay.
Chiến dịch ”mammut”
được Hội xuất bản và Hội các tiệm sách phối hợp làm việc. Thêm vào
đó, khoảng 540 tiệm sách trên toàn quốc đă cùng tham gia. Hơn 800
tựa sách và khoảng 1,5 triệu rưỡi cuốn sách được bày bán trong dịp
này. Năm rồi, doanh thu đạt được khoảng 70 triệu. Theo kết quả điều
tra trong tháng 1 vừa qua, khoảng 70% dân số biết về chiến dịch này.
Na Uy là một trong
những nước có số dân đọc sách nhiều nhất trên thế giới. Điều đó có
đem lại cho chúng ta sự ngạc nhiên nào không?... Đối với tôi, điều
đó dễ hiểu, bởi lúc sắp bước ra khỏi tiệm sách, một đoàn gần 15 em
thiếu nhi, tuổi đi Nhà trẻ (Barnehagen) được thầy , cô dắt vào tiệm,
vừa đi vừa nói cười vui thích.
Nghĩ lại mấy tiệm
sách tại nước nhà mà không muốn so sánh làm ǵ, cho đỡ tủi!. Tiệm
thật to mà không có đến một máy vi tính để khách dùng, hoặc để nhân
viên tại tiệm sách dùng, nhằm phục vụ khách. Khi khách hàng hỏi một
tựa sách ǵ đó, nhân viên gọi nhau ơi ới, hỏi xem có nhớ cuốn sách
đó có hay không, c̣n hay đă bán hết. Họ hỏi nhau là c̣n khá, v́ nhân
viên thường trả lời rằng, cứ chịu khó t́m trên các kệ sách. Nhân
viên tiệm rất đông, tưởng như mỗi kệ, mỗi tủ sách đều có người đứng
coi, nhưng h́nh như họ đứng đó để trang trí hơn là để làm việc. Lối
làm việc theo kiểu này, tại các tiệm sách quốc doanh, không khác lối
làm việc tại các xí nghiệp quốc doanh. Người được nhận việc toàn
”con ông, cháu cha” hoặc đút lót tiền bạc để được thâu tuyển, nhưng
v́ không thực sự làm việc, nên hiệu quả sản xuất không cao. Ngân
quĩ nhà nước dồn vào các xí nghiệp này bao nhiêu cũng không đủ.
Cũng giống như lối
quảng cáo của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, khi ông Nguyễn minh
Triết nói rằng, ở VN có nhiều gái đẹp. Đó là lối nói quá đơn giản.
Đâu phải chỉ yếu tố đó có tính quyết định cho kỹ nghệ du lịch. Hơn
nữa, đó đâu phải là việc làm của một Chủ tịch nước. Việc quảng cáo
này, nếu giao cho ông Tổng trưởng Tổng cục du lịch, cũng không biết
có phải là đúng phần việc hay chưa. Mà dù giao cho cấp nào quảng cáo
cũng thế. Khi t́nh trạng nơi khu giải trí th́ lớn, chỉ có vài cái
nhà vệ sinh, mà lại không được giữ vệ sinh đúng mức...rồi t́nh trạng
giao thông, an toàn du lịch ..v..v.. Việt Nam hiện nay có đủ yếu tố
để khách du lịch đă đến một lần, không muốn trở lại lần nữa. Trước
đây vài phút, đài truyền h́nh Na Uy phát tin là, có hai phụ nữ người
Thụy Điển bị chết, v́ tại nạn đắm tàu tại vịnh Hạ Long, Bắc Việt.
Đúng là, khi ông lớn nói, giống như cái đầu voi, mà kết quả lại
giống như cái đuôi chuột.
Phần chúng ta, định
cư tại cái nước có dân số đọc sách khá cao này, cũng nên phụ nhà
trường, giúp con em chúng ta có ư thích đọc sách từ lúc c̣n nhỏ.
Chúng ta đă dắt được con em chúng ta đến các tiệm thực phẩm, bán đồ
ăn thức uống giá rẻ th́ cũng nên dắt chúng vào các tiệm sách trong
thời gian này. Họ có đủ các loại sách, nhất là sách dành cho thiếu
nhi. Chiến dịch ”mammut” sẽ chấm dứt vào ngày 05.03 sắp đến. Chúng
ta c̣n thời gian tốt để làm việc này.
Người Oslo ,
17.02.2011
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Em la lớn...
(Chuyện cổ tích Phương Tây ... Đông)
Có đôi chuyện cổ tích của phương Tây và
phương Đông như có cùng nội dung, chỉ khác một chút về hoàn cảnh và
nội dung. Chẳng hạn truyện ”Cô bé Lọ lem” và ”Chuyện Tấm Cám” của
Việt Nam. Ngày nay, có sự khác biệt rất xa, giữa nội dung chuyện cổ
tích của Tây và Đông.
Ở Vương quốc Na Uy này, cách đây khoảng 7(8)
năm, báo chí và người dân đề cập khá nhiều đến chuyện cổ tích của
thời đại mới, tại quốc gia này. Năm đó, hoàng tử Håkon lấy một
người đàn bà, đă có chồng (thôi nhau) và một đứa con. Rồi sau đó,
người em gái của anh ta lấy một anh chàng công nhân (có viết văn
chút chút !...).
Năm nay, một cuộc t́nh mới có tính phiêu lưu khá đặc biệt. Đó
là trường hợp của Amelie, cô gái sống không giấy tờ tại Na Uy từ năm
16 tuổi.

FLYKTET: Foreldrene til Maria Amelie
(25) tok henne med seg da de flyktet fra Russland til Finland i
2000, og videre til Norge i 2002. Foto: Stian Eisenträger/VG Nett
Ngày 12.01, cô ta bị 8 người cảnh sát mặc sắc phục, bắt đưa
vào trại Trandum, nơi chuẩn bị đưa những người tị nạn bất hợp pháp
ra phi trường, để tống xuất về nước. Cuộc phiêu lưu phần đầu, gần 9
năm qua, đă chấm dứt tại đó. Cô đă gần như khóc và ngất xỉu khi nhận
được thông tin từ giới chức thuộc cơ quan nhập cư, báo chính xác
ngày phải rời khỏi Na Uy. Cuốn sách cô viết đă được xuất bản, nhưng
liệu rằng cuốn sách đó sẽ giúp ǵ cho cô trong thời gian tới, khi
cô ấy nói rằng, ”.....cuộc sống của
tôi là sự chuyển đổi giữa phiêu lưu và sự thật tàn nhẫn. Đó là sự
trộn lẫn bởi v́ tôi lạc quan và tôi phải sống sót. Tôi mong muốn,
mặc dù phải trải qua tất cả, thật sự đă phải trải qua, chỉ mong giữ
được giá trị và sự hội nhập của tôi. Khi tôi không chịu được nữa
những điều đó, cuốn sách là con đường thoát duy nhất để sống với sự
hội nhập c̣n nguyên vẹn.....”
Khi cô chưa bị trục xuất, tít trang đầu hay
các trang kế của các tờ báo lớn, luôn bận rộn với những ǵ có dính
líu đến cô ta. Sau khi cô đă bị trục xuất, một số bài viết của mọi
giới có uy tín đă nói đến một sự b́nh tâm để có sự xét đoán tốt
...hơn là những ǵ có vẻ chỉ theo cảm tính trước đây. Có đúng là
”cảm tính” không ...khi có người thuộc một đảng phái cho rằng thái
độ của đảng SV là một thứ ” đạo đức kép” (double moral). Lư do, vào
năm 2008, đảng SV đă không chấp thuận một dự luật, theo đó, dự luật
đề nghị, nếu một người bị bác đơn cư trú, người này có thể chuyển
sang dạng xin được phép làm việc. Nay, đảng này lên tiếng gắt gao,
làm như chính quyền liên minh mà đảng này có chân, sẽ phải có sự
thay đổi nào đó, nếu giải quyết sự kiện trên không đúng mức.
Có phải là ”cảm tính” không ...trong khi có
các cuộc biểu dương ngoài đường phố của dân chúng th́ trên báo chí,
các ư kiến đưa ra làm rối trí mọi người; chẳng hạn, cơ quan này phải
là nơi đưa ra quyết định về trường hợp của Amelie...cơ quan kia đă
”dậm chân” lên việc làm của cơ quan khác. Bao nhiêu là cảm t́nh sôi
nổi!!.... Có phải là ”cảm tính” không... khi một người đă là dân
nhập cư vào Na Uy trước đây, là nguời chuyên môn trong lănh vực ngôn
ngữ, cho rằng, việc Amelie thành công trong học vấn, nói đúng hơn là
nói được trôi chảy tiếng Na Uy là cách thế để cô ấy quên đi kỷ niệm
cũ không tốt, lúc cô c̣n nhỏ, trên đất nuớc Liên Xô của cô.
Nhưng, nếu ai theo dơi kỹ các bài báo và tin
tức trên đài truyền h́nh, họ sẽ thấy có nhiều điều khá lạc quan
trong t́nh trạng thật sự của cô này. Lúc c̣n bên Na Uy, nhiều câu
hỏi được đặt ra, đại khái là: khi về lại Liên Xô, cô sẽ được tiếp
nhận ra sao? Nhận giấy nhập cư có lâu không? Có phải về lại nguyên
quán cũ (nơi có bao nợ nần, oán thù ǵ đó...)? Bao giờ có thể nộp
đơn xin giấy phép nhập cư trở lại v́ đă nhận được một việc làm tại
Na Uy?. Thế mà vừa đáp xuống phi trường, bao nhiêu kư giả, phóng
viên của cả hai nước vây quanh cô ...rồi tiếp tục thu h́nh tại những
nơi cô ấy đến. Khi cô được phỏng vấn trong một pḥng ở tạm thời của
một khách sạn, cô ta có vẻ tỉnh táo, vui tươi hơn. Tuy người yêu
của cô ngồi cạnh bên, người thâu h́nh không tập trung ống kính vào
anh ta. Anh ta chỉ như một bóng mờ!....Dù sao, sự phỏng đoán trên
báo, làm t́nh trạng cô ta có vẻ sáng lên hơn trước; khi điều phỏng
đoán nói là, thời hạn xin được giấy sang làm việc bên Na Uy mất một
khoảng thời gian ít nhất 2 tháng. Điều này phù hợp với tâm trạng
mới, qua phỏng vấn, cô ấy nói rằng, cô cảm thấy đă nhẹ người hơn
trước; lúc c̣n ở trong trại tạm giam Trandum ...và lúc phải tŕnh
diện cảnh sát mỗi ngày!.
Theo báo Klassekampen, ngày thứ bảy 05.02,
cô ta đă có một thông hành (pass) mới, với tên là Madina Salamova.
Thay v́ tắm rửa trước khi nhận giấy tờ, họ đă làm việc này tại một
nơi tắm lộ thiên, gọi là ”Måken” (chim Hải âu); có nước sủi bọt. Bây
giờ, cuộc phiêu lưu của Madina đă có ít nhiều tính cách của một cuộc
du lịch rồi. T́nh trạng của cô càng ngày càng sáng rơ hơn. Rồi đoạn
kết thúc một chuyến phiêu lưu khoảng 10 năm qua của cô gái này chắc
sẽ là một kết cuộc có hậu. Một kết cuộc mà hầu hết các truyện phiêu
lưu (hay cổ tích) của phương Tây đều cho chúng ta thấy, sự thiện bao
giờ cũng thắng sự ác ... đôi khi, thêm vào đó, là sự kết hợp vợ
chồng của đôi trai gái đă cùng nhau trải qua những thử thách đau đớn
và cay đắng.
Truyện của cô gái này, tuy có vẻ phức tạp mà
đơn giản, theo cách nh́n của một số người khác. Anh chàng, gọi là
người yêu, từ lúc cô gái bị bắt, đă liên tục viết bài về trường hợp
cô này. Thoạt đầu, anh ấy chỉ kư tên dưới bài viết với tên của anh
ấy. Đôi lúc, có thêm chức vụ là phụ tá Chủ bút tờ báo
”Klassekampen”. Gần đây, bên cạnh tên c̣n ghi rơ, anh ta là người
yêu của Amelie. Biết đâu... đây là ”bửu bối” cuối cùng, khi cần, sẽ
được hai người sử dụng; v́ ai cũng biết rằng, luật hôn nhân cho phép
người phối ngẫu (trai hay gái) sẽ được nhập cư vào quốc gia của
chồng (hay vợ) sau một số thủ tục nhất định!.
Tóm lại, thử thách trong những chuyện phiêu
lưu (cổ tích) của Tậy Phương thường ít phức tạp. Chuyện xảy ra trong
các chuyện cổ tích phương Đông thường phức tạp hơn nhiều. Ngày xưa,
trong chuyện Thạch Sanh Lư Thông, đă có biết bao sự kiện khó khăn,
nguy hiểm đă xảy ra cho nhân vật chánh. Trước đây, những người tị
nạn bị trục xuất khỏi đất tạm dung (Thái Lan, Mă Lai, Phi .v.v...)
chịu nhiều khổ sở, đau đớn hơn trường hợp cô Amelie này rất nhiều.
Bởi, khi rời bỏ đất nước của họ, chính quyền đó xem họ như là những
kẻ phản quốc. Sau đấy, khi họ bị trả về, chính quyền đó coi họ như
là những kẻ phản tặc. V́ thế, dù nhận được một số quyền lợi khi tiếp
nhận trở lại người dân của họ, nhưng v́ chính quyền đó xem rẻ giá
trị nhóm người này, nên bọn chính quyền của đất tạm dung xem những
người tị nạn hồi hương như những tù nhân không hơn không kém!.
T́nh trạng thật sự hiện nay tại Việt Nam, dù
được phủ một lớp sơn hào nhoáng bên ngoài, không che dấu được những
băng hoại đang gặm nhấm bên trong. Người dân trong nước, tưởng như
có được một đời sống no cơm ấm áo ...nhưng thật sự đang ở trong t́nh
trạng ”giật gấu, vá vai” và ăn trước trả sau. Họ tưởng sống tự do,
thật ra, họ bị nhốt trong một nhà tù lớn. Họ được nuôi ăn với mức
sống tối thiểu ...nhưng không được tự do nói lên chính kiến của
ḿnh!. Họ đă, đang và sẽ chịu thêm nhiều đau đớn ...nhưng, biết đâu
đó là những thử thách để đi đến một kết thúc có hậu sau này. Thử
thách đó sẽ được họ vượt qua, nếu tất cả đồng ḷng, cùng nhau nói
lên thái độ của họ, đối với việc cai trị sai trái của nhóm cầm
quyền. Đến lúc đó, dù chuyện cổ tích phương Tây hay phương Đông, đều
chỉ xác nhận một giá trị vĩnh cửu là, cái thiện phải thắng cái ác.
Đặng quang Chính
Oslo 06.02.2011
00:33
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
Một câu
chuyện cảm động chỉ cần 3 phút đọc, cả cuộc đời phải suy ngẫm…
Ăn
rau không chú ơi?
Một
giọng khàn khàn, run run làm gă giật ḿnh. Trước mắt gă, một bà cụ
già yếu, lưng c̣ng cố ngước lên nh́n gă, bên cạnh là mẹt rau chỉ có
vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.

-
Ăn hộ tôi mớ rau…!
Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nh́n gă ánh mắt gần như van lơn.
Gă cụp mắt, rồi liếc xuống nh́n lại bộ đồ công sở đang khoác trên
người, vừa mới buổi sáng sớm. Bần thần một lát rồi gă chợt quay đi,
đáp nhanh: Dạ cháu không bà ạ! Gă nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy
trốn. Gă chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi cái cảm giác ấy gă quên rất
nhanh. “Ḿnh thương người th́ ai thương ḿnh” – cái suy nghĩ ích kỷ
ấy lại nhen lên trong đầu gă.
-
Ăn hộ tôi mớ rau cô ơi! Tiếng bà cụ yếu ớt.
-
Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn!
Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.
Gă
ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gă. Cau mày đợi cô gái đi khuất,
gă đi đến nói với bà:
-
Rau này bà bán bao nhiêu?
-
Hai ngh́n một mớ – Bà cụ mừng rỡ.
Gă
rút tờ mười ngh́n đưa cho bà cụ.
-
Sao chú mua nhiều thế?
-
Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến
chiều con về qua con lấy!
Rồi
gă cũng nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nh́n thấy hành động vừa rồi
của gă. Nhưng lần này có khác, gă cảm thấy vui vui.
Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gă đứng trong pḥng làm việc ngắm
nh́n những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ
mông lung. Gă thích ngắm mưa, gă thích ngắm những tia chớp xé ngang
trời, gă thích thả trí tưởng tượng theo những h́nh thù kỳ quái ấy.
Chợt gă nh́n xuống hàng cây đang oằn ḿnh trong gió, gă nghĩ đến
những phận người, gă nghĩ đến bà cụ…
-Nghỉ
thế đủ rồi đấy!
Giọng người trưởng pḥng làm gián đoạn ḍng suy tưởng của gă. Gă
ngồi xuống, dán mắt vào màn h́nh máy tính, gă bắt đầu di chuột và
quên hẳn bà cụ.
Mấy
tuần liền gă không thấy bà cụ, gă cũng không để ư lắm. Gă đang bận
với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gă đang cuống cuồng lo công
tŕnh của gă chậm tiến độ. Gă quên hẳn bà cụ.
Chiều chủ nhật gă xách xe máy chạy loanh quanh, gă vẫn thường làm
như vậy và có lẽ gă cũng thích thế.
Gă
ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang buôn
chuyện.
Chưa kịp châm điếu thuốc, gă chợt giật ḿnh bởi giọng oang oang của
một bà béo:
-
Bà bán rau chết rồi.
-
Bà cụ hay đi qua đây hả chị? – chị bán nước khẽ hỏi.
-
Tội nghiệp bà cụ! một giọng người đàn bà khác.
-
Cách đây mấy tuần bà cụ giở chứng cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau.
Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng nhất quyết không bán, rồi
nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh.
Nghe đến đây mắt gă chợt nḥa đi, điếu thuốc chợt rơi khỏi môi.
Bên tai gă vẫn ù
ù giọng người đàn bà béo kia. Gă không ngờ…!
M.H.T sưu tầm
Niềm tin
Phạm Tứ Linh
Tôi
đặt chân đến đất nước Na-Uy vào cuối tháng tư. Tiết trời c̣n se
lạnh. Đây đó một vài măng tuyết trắng c̣n sót lại ven rừng chưa kịp
tan. Ḷng tôi cảm thấy bâng khuâng, lạc lỏng. Mớ tiếng Na-Uy bập bẹ,
lỏm bỏm mới được học từ trại chuyển tiếp Bataan Philippines, chỉ đủ
giúp cho tôi đoán non, đoán già trong mỗi câu nói mà tôi không thể
hiểu hết ư nghĩa khi tiếp xúc với người bản xứ. Nhưng rồi mọi việc
cũng xuôi chảy qua đi. Sự trợ giúp nhiệt t́nh từ Văn-Pḥng
Người-Tị-Nạn của Thị-Xă đă làm ấm ḷng tôi, giúp cho tôi t́m lại
được chút niềm tin, sự b́nh an trong tâm hồn để đối diện với cuộc
sống mới. Quả thật, niềm tin của tôi đă bị mai một sau khi Cộng Sản
Việt Nam phối hợp cùng các đảng phái khác đánh thắng 12.000 quân
Pháp tại Điện Biên Phủ (1954), Và Việt Nam bị chia đôi theo hiệp
định Genève 1954. Miền Bắc theo chế độ Cộng Sản và miền Nam theo chế
độ Tự Do từ tay người Pháp trao lại. Điều không may nơi tôi sinh
trưởng lại nằm lọt vào phần đất miền Bắc.Tuổi thơ chẳng biết ǵ là
chiến tranh, thế nào là chính trị ?!. Tất cả chỉ là mù mờ. Nhưng rất
sợ hăi khi nghe tiếng súng nổ, bom rơi, khi phải chứng kiến những
cảnh tang thương, chết chóc, nhà tan, cửa nát. Ngơ ngác trước những
nét mặt đầy âu lo, sợ hải của những người thân. Thảm cảnh chiến
tranh chỉ gây được sự lo sợ trong ḷng chứ chưa ư thức được thế nào
là thù hận, để phân biệt được ai phải, ai đúng, ai bạn, ai thù...
Thế rồi, tôi được cắp sách đến trường. Lớp vỡ ḷng đầu tiên của đời
tôi, với hy vọng được học chữ, đánh vần....Nhưng vào lớp, thầy giáo
chỉ tập hát những bài ca ngợi Bác Hồ, bộ đội, và tập nhảy điệu
sol-đô-mị ca ngợi sự đoàn kết Việt-Trung-Sô v.v....Sau đó, dành hết
thời gian vào việc tra hỏi về các sinh hoạt trong gia đ́nh của từng
mỗi đứa, từ miếng ăn, cái mặc, đến lời nói trao đổi giữa mỗi người
lớn nhỏ trong gia đ́nh hay khách lạ tới thăm v.v.... Tuổi thơ thật
thà thấy sao nói vậy, biết tới đâu nói đến đó. Chẳng biết dối trá
rào trước đón sau hay nghi ngờ mưu thâm độc kế của thầy cô. Thật tội
nghiệp cho sự thơ ngây của chúng tôi, đâu có biết họ lợi dụng để
khai thác tin tức t́nh báo, theo dơi hành vi hay tư tưởng chính trị
của cha mẹ, anh chị em trong gia đ́nh. Cho đến một hôm, cũng bởi
những lời khai báo thật thà vô t́nh trong lớp học, cán bộ Cộng Sản
đă dựa vào đó để tạo dựng nên những tội trạng mà họ muốn gán ép cho
những người thân yêu của chúng tôi....
Qua những mất mát đầy đau thương đó, đă cho chúng tôi biết cái ǵ có
thể và không thể nói với thầy cô giáo. Phần những người lớn, cũng
không thoát khỏi những âm mưu thâm độc đó. Ban ngày họ phải đi làm
kiếm sống, ban đêm về họ phải đi họp tổ hai lần mỗi tuần. Trong buổi
họp, họ (Cán bộ Cộng Sản) đưa ra một đường lối chính sách mới đó là
: phê b́nh và tự phê b́nh. Họ giải thích: "con người ai cũng có ưu
và khuyết điểm, làm sao không có lổi ? Nên phê b́nh và tự phê để làm
cho con người tiến bộ và tốt hơn". Thoạt đầu mới nghe thật hấp dẫn,
bởi ai cũng muốn có một xă hội tốt đẹp hơn, con người thánh thiện
hơn, đối xử với nhau tốt hơn. Nhưng đó chỉ là cái vỏ bọc đường bên
ngoài, những sáo ngữ ngọt ngào êm tai, đă làm cho những người nông
dân vốn thiếu học, nhưng thật thà, chất phác, hiền lành, nghe bùi
tai, để rồi cả tin vào đó. Thế là họ không ngần ngại đưa ra những ư
kiến chủ quan để phê phán, chỉ trích lẫn nhau. Họ cũng thật thà nói
lên những yếu điểm sai trái của ḿnh hay những bất b́nh lâu nay với
bà con lối xóm. Hy vọng được mọi người cảm thông, tha thứ v.v... Ôi
! Thật là tuyệt vời, thánh thiện biết bao?!. Ḷng mọi người hân hoan
mừng vui; ra sức, tận lực để làm tốt cho các mối quan hệ giữa người
và người trong t́nh yêu thương, hỷ xả. Bóng dáng hạnh phúc đă và
đang đến, làm cho nhiều người hết lời ca ngợi chủ nghĩa Cộng Sản. Hy
vọng nó sẻ đem lại thiên đường hạ giới cho quê hương, làng xóm của
ḿnh.
Nỗi vui sướng, hân hoan nầy đă không tồn tại hơn vài tháng sau đó.
Qua nhiều ngày họp tổ để phê b́nh và tự phê. Mỗi người đă nói hết
mọi khuyết điểm của ḿnh và cũng đă phê phán hết các khuyết điểm của
kẻ khác. Nhưng cán bộ Cộng Sản vẫn không hài ḷng. Họ buộc mỗi cá
nhân phải nói lên khuyết điểm của ḿnh và phải t́m cho ra những
khuyết điểm của kẻ khác, với lư do thật đơn giản: "Con người ai cũng
có khuyết điểm cả". Nghĩa là mọi người phải biết cách làm thế nào
để: "bới lông t́m vết", là "vạch lá t́m sâu", là "Vạch áo xem lưng"
mới có thể đáp ứng mọi sự đ̣i hỏi của Cán bộ!. Khi hiểu được th́ đă
muộn màng. Họ ngỡ ngàng ngơ ngác, sợ hăi. Họ bắt đầu ngờ vực lẫn
nhau. Họ sợ những đôi mắt đang chờ chực, soi mói vào nơi sâu thẳm
riêng tư của ḿnh, biết đâu đó chẳng là những khuyết điểm hay qua
những cử chỉ lời ăn tiếng nói của ḿnh làm cho người khác hiểu lầm
cũng là cái cớ để bọn cán bộ Cộng Sản gán ghép tội cho ḿnh.
Những người trí thức hay chức sắc có uy tín trong làng, cũng đă được
mời đi, nhưng không thấy trở về. Đến thân nhân của họ cũng mù tịt,
họ chỉ biết nửa đêm được mời đi làm việc và chấm hết. Họ lên xă, lên
huyện để hỏi thăm, nơi đâu cũng trả lời cùng một câu: không biết.(
Vài năm sau được một người thương t́nh tiết lộ cho biết họ bị dẫn
đến một nơi khác và bị thủ tiêu tại đó). Những kẻ có ḷng v́ lợi ích
chung , muốn phát biểu một vài ư kiến xây dựng hay phê b́nh một vài
sai trái của cán bộ Cộng Sản. Cuối cùng cũng chịu chung số phận như
những người bị mời trước đây. Nghĩa là biệt vô âm tín.
Trong chính sách cướp của giết người mà
Nhà Nước Cộng Sản phát động trên toàn lảnh thổ Miền Bắc vào những
năm 1952-1954, được núp dưới cái tên tốt đẹp mỷ miều là: Cải cách
ruộng đất. Những kẻ có chút tài sản không cần biết đó là tự tạo hay
di sản của cha ông để lại, miễn là giàu có hơn người khác, liền được
cán bộ Cộng Sản chiếu cố đem ra đấu tố, ghép cho đủ mọi thứ tội
trạng. Và cuối cùng tội phải xữ chết là giàu có nhờ bốc lột của
người khác. Bọn lưu manh trộm cướp, nghèo đói được khuyến dụ và huấn
luyện đứng ra chỉ chứng, vu khống cho khổ chủ bằng những tội danh đă
được sự chỉ đạo bởi cán bộ Cộng Sản.
Với chiêu bài đấu tố địa chủ,cường hào,
ác bá nói trên. Tên bất lương Trường Chinh (tên thật là Đặng xuân
Khu) Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam đă nắm tóc cha ruột của hắn kêu
bằng mầy xưng tao, lôi ra giữa chợ để đấu tố cha hắn tội tư sản để
làm gương căm thù giai cấp tư sản cho nhiều người khác noi theo.
Bọn Cộng Sản Việt Nam đă giết hơn hai
trăm ngàn trí thức và nông dân vô tội với những tội danh địa chủ hay
cường hào ác bá. Ngoài những cách giết người dă man, ác độc như chặt
đầu, chôn sống hay phơi nắng cho đến chết. Bọn Cộng Sản Hồ Chí Minh
c̣n có những độc chiêu rùng rợn hơn đó là chôn sống nạn nhân chừa
lại cái đầu, rồi dùng cái cày ruộng để cày đứt đầu của nạn nhân.
Trong khi bắt mọi người phải hô to Đảng Cộng Sản vinh quang muôn
năm, Bác Hồ vĩ đại muôn năm, vv.... Hay như trong làng tôi ở có ông
Lư trưởng tên Qú sau khi bị bắt giam nhiều ngày bỏ đói, tra tấn để
khảo của, khổ chủ chỉ c̣n lại da bọc xương, bị chúng lôi ra trước
cái gọi là toà án nhân dân trá h́nh trên một g̣ đất trống, tay bị
trói thúc ké ra sau, bắt qú trên một mô đất cao và cho những tên đă
được huấn luyện ra đấu tố: nắm tóc, giật râu, đánh đập, xỉ vă,
v.v... Sau khi đấu tố xong, nạn nhân bị tuyên án tử h́nh tại chổ.
Nạn nhân được dẫn đến trói thúc ké vào một cái cột bên cạnh một cái
hố mới đào, mặt hướng về đội hành quyết, lưng đối diện với cái hố.
Họ bịt mắt nạn nhân lại. Sau đó một loạt tiếng súng nổ, đầu nạn nhân
gục xuống. Dưới sức ép bằng mă tấu và họng súng của đám du kích buộc
dân chúng phải reo ḥ và la thật to theo những khẩu hiệu đă đảo hoặc
hoan hô theo những tên c̣ mồi trà trộn trong đám đông dân chúng. Nếu
chúng thấy người nào không hoan hô Cách Mạng hay đă đảo địa chủ th́
chúng hăm dọa, bảo họ nào là tội đồng loă cùng phe đảng với địa chủ,
cường hào, ác bá, chống lại Cách Mạng, th́ ai mà dám căi lại. Khi
biết nạn nhân đă chết. Bọn chúng đạp nạn nhân xuống cái hố và lấp
đất lại như chôn một đống rác,v.v...Những người nông dân vô tội nầy
sở dĩ được công khai xử án là bởi cán bộ Cộng Sản muốn có cớ để cướp
hết tài sản của họ. Phần lớn được chia cho đảng Cộng Sản, phần c̣n
lại chia cho cán bộ địa phương và thưởng cho bọn vô-lại đă có công
đấu tố.
Sự ác độc không dừng lại ở chổ chỉ giết người cướp của mà c̣n không
tha cho những đứa trẻ vô tội v́ không may sinh nhằm vào một gia đ́nh
giàu có, mà Đảng và Nhà nước Cộng Sản đă liệt kê vào thành phần
địa-chủ-cường-hào-ác-bá. Kẻ bị hại th́ lảnh bản án tử h́nh, toàn bộ
tài sản bị tịch thu. Vợ con của họ th́ bị đuổi ra khỏi nhà và không
được mang theo tiền bạc hay bất cứ một món đồ nào. Nếu họ không v́
quá phẩn uất mà liều mạng tự tử chết theo chồng hay cha th́ cũng
phải lang thang đói rách đầu đường xó chợ và bị xua đuổi hắt hủi
(Theo lệnh của Đảng ) thua cả một con chó ghẻ. Nỗi đau thương cùng
cực đó đă được nhà thơ Hoàng Cầm minh hoạ trung thực trong bài thơ “Em
Bé Lên Sáu” qua h́nh ảnh của một em bé mồ côi thuộc thành phần
như sau:
Bố:
Cường hào nợ máu
Đă
trả trước nông dân
Em phải lang thang đầu đường xó chợ một
ḿnh. Sống nhờ vào t́nh thương của những kẻ vốn đă và đang khốn
cùng:
Có
cụ già đói khổ
Lập cập đi ṃ cua
............................
Bổng thương t́nh côi cút
Cụ
nhường cho miếng cơm...
Cái thảm cảnh thương tâm ấy làm cho một cô gái "Bần cố nông" là
giai cấp được Đảng và nhà nước ưu đăi nhất đă tín nhiệm cân nhấc lên
hàng Cán bộ. Đă phải động ḷng trắc ẩn:
Nó
là con địa chủ
Bé
bỏng đă biết ǵ.....
Rồi chị lục lọi lại tất cả những lời dạy
của Đảng. Nhưng:
Nh́n đứa bé mồ côi
Cố
t́m vết thù địch
Chỉ thấy một con người.....
Thấy nó, chị nhớ lại đến ḿnh khi xưa:
Năm đói kém từ lâu
Chị mới năm tuổi đầu
Liếm lá khoai giữa chợ......
Thế rồi chị đă làm một việc mà Đảng không
cho phép:
Chạy vùng ra phía ngỏ
Dắt em bé vào nhà
Nắm cơm, dành chiều qua
Bẻ
cho em một nửa....
Bởi một chút từ tâm c̣n sót lại trong con
người của chị. Người nữ Cán bộ Cộng Sản đă phải gánh chịu hậu quả kỷ
luật của Đảng :
Chị phải đ́nh công tác
V́
câu chuyện trên kia.....
C̣n những kẻ bất đồng chính kiến, hay bởi
không ưa v́ ganh ghét, hoặc có đụng chạm đến quyền lợi của cán bộ
Cộng Sản th́ qua những lời khai phê b́nh và tự phê trong buổi họp tổ
tùy theo mức độ thù ghét mà suy diễn để buộc tội. Nặng th́ đem đi
thủ tiêu nửa đêm, nhẹ th́ đi tù không xét xử, nghĩa là không biết
ngày về. Chẳng bù tên văn nô Tố Hữu từng giữ chức Phó Thủ Tướng đặc
trách Văn Hoá của chính quyền Cộng Sản Bắc Việt đă viết như sau:
Giết, giết nữa
bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng
lúa tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền
lâu, cùng rập bước chung ḷng
Thờ Mao Chủ
Tịch, thờ Xít-ta-lin bất diệt............
Đủ cho chúng ta thấy đảng Cộng Sản đă đào
tạo một bộ máy tuyên truyền và cai trị mang h́nh người nhưng không
có trái tim. Chỉ có giáo điều và sắt máu như một cái máy. Qua sự
khủng bố triệt để đó, không những chỉ có ở Việt Nam mà hầu hết tất
cả cácnước áp dụng chủ nghĩa Cộng Sản đều có cùng chung một mẫu số.
Khi đă nhận thấy rỏ được bản chất độc ác, tàn bạo, dă man của bọn
Cộng Sản Hồ Chí Minh tay sai Cộng Sản Quốc tế. Người dân bắt đầu âm
thầm chịu đựng, rút sâu vào chiếc vỏ ṣ kín mít, chỉ chừa đôi mắt
sợ hăi đầy ngờ vực nh́n ra bên ngoài để quan sát và đề pḥng chung
quanh. Họ không c̣n dám tin tưởng vào bất cứ một người nào nữa kể cả
những người thân bên cạnh của ḿnh. Họ chỉ c̣n biết giữ thế thủ làm
sao an toàn riêng cho bản thân ḿnh, c̣n sự sống chết của ai th́ họ
bỏ mặc làm ngơ chỉ v́ sợ bị liên lụy.
Và niềm tin trong tôi và mỗi con người
sống tại Miền Bắc đă bị bọn Cộng Sản Việt Nam thuốc chết bằng sự
khủng bố và chia rẽ để trị. Họ sống chỉ c̣n theo bản năng tự vệ, có
nghĩa là ngoan ngoăn nói cười, đúng theo kịch bản mà bọn Cộng Sản Hồ
Chí Minh mong muốn.
PHẦN 2.
Ba tôi và tôi cùng người em trai trốn
theo đoàn người di cư vào miền Nam năm 1954, đành để Mẹ tôi cùng hai
người em nhỏ ở lại. Những tháng năm b́nh yên dưới thời Đệ Nhất Cộng
Hoà do Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lảnh đạo, đă làm cho tôi nguôi
ngoai phần nào nỗi sợ hăi. Miền Nam, với thời tiết ấm áp, hiền hoà
và những con người hiền lành, chất phác, đă đem lại cho tôi niềm
tin. Thời gian đó là lúc đủ để cho tôi biết được thế nào là chính
nghĩa, thế nào là gian manh, độc ác, và thế nào là thù hận.
Tôi cố gắng học hành, mong mai sau thành
tài có cơ hội giúp Đất Nước, đánh tan bọn Cộng Sản Hồ Chí Minh tàn
bạo, khát máu. Giải thoát cho Quê Hương tôi không bị kềm kẹp bởi bàn
tay sắt máu của lủ bạo quyền tay sai Cộng Sản Quốc Tế. Xây dựng lại
một Đất Nước Việt Nam ḥa b́nh, thống nhất đầy niềm tin và yêu
thương.
Trong lúc thế giới vừa trăi qua cơn sốt
căng thẳng giữa hai cường quốc Mỹ ( thời Tổng Thống John. F.
Kennedy) và Liên Sô trong việc tháo gỡ giàn phi đạn của Liên Sô trên
đảo quốc Cuba. Chính phủ Mỹ đă dồn nổ lực vào việc ngăn chặn làn
sóng đỏ (Cộng Sản) đang có chiều hướng bành trướng xuống toàn khu
vực Đông Nam Châu Á Thái B́nh Dương. Mao Trạch Đông đă nuốt trọn
Trung Quốc, đuổi Tưởng Giới Thạch ra đảo Đài Loan. Đảng Cộng Sản
Triều Tiên, Lào và Việt Nam đang lớn mạnh nhờ viện trợ toàn lực của
khối Cộng Sản Liên Sô, khối Cộng Sản Đông Âu và Cộng Sản Trung
Quốc. Với t́nh thế bất lợi ấy, Mỹ muốn dùng Việt Nam như một tiền
đồn lá chắn bảo vệ thế giới Tự Do. Mỹ đă ủng hộ chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm bằng viện trợ quân sự và chuyên viên. Nhưng sau đó Mỹ muốn đưa
quân vào Việt Nam th́ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm không đồng ư. Bởi lẻ
Cộng Sản Bắc Việt trên mặt nỗi chỉ nhận viện trợ từ các khối Cộng
Sản mà không nhận quân đội ngoại nhập. Nếu như miền Nam Việt Nam để
cho Mỹ đỗ quân vào, chắc chắn miền Nam Việt Nam sẽ mất chính nghĩa.
Bởi thế nên Mỹ Đă t́m cách lật đổ Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm.
Và chuyện ǵ đến nó đă đến. Vào ngày 01
tháng 11 năm 1963. Bọn tướng lảnh hèn nhát v́ ham danh lợi đă làm
phản, lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hoà do Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lảnh
đạo vừa mới được ổn định sau nhiều thử thách cam go và bất ổn do
người Pháp giao lại. Một lần nữa niềm tin của tôi lại bay theo mây
khói.
Trải qua bao thăng trầm bon chen, tranh
quyền, đoạt vị của những kẻ phản bội đê tiện. Người Mỹ đă nhúng tay
sâu vào nội bộ của chính quyền miền Nam Việt Nam dưới danh nghĩa
giúp Việt Nam một tiền đồn ngăn chận hiểm họa Cộng Sản bành trướng.
Nhưng thật ra người Mỹ chỉ xem Việt Nam như một con chốt trên bàn cờ
tướng. Khi cần, sẵn sàng thí chốt để bảo vệ quyền lợi của nước Mỹ.
V́ thế ngày 30 tháng tư năm 1975, người Mỹ đă quên lời cam kết ngày
nào với Chính phủ miền Nam Việt Nam vội vă phủi tay bỏ chạy để miền
Nam Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt.
Tôi không thù ghét một người nào đó dù ở
phương Tây hay ở Mỹ khi họ tham gia phản chiến hay ủng hộ chế độ
Cộng Sản Bắc Việt. Tôi chỉ thương hại cho họ quá chủ quan ngây thơ,
thiếu hiểu biết, dễ cả tin vào những lời tuyên truyền láo khoét một
chiều của bọn Cộng Sản Việt Nam hay của những kẻ v́ ḷng thù hận ích
kỷ hay lợi ích riêng tư đă nói sai, bóp méo sự thật.
Báo chí là cơ quan ngôn luận, là tiếng
nói của lương tri. Nhưng không thiếu những kẻ lợi dụng phương tiện
nầy để làm những điều thiếu lương tri. Bởi thế, người đáng cho tôi
thù ghét chính là một số kư giả báo chí của Mỹ và phương Tây hay một
số trí thức phản chiến núp dưới nhản hiệu giáo sư đă luồn sâu vào
các trường đại học Mỹ để đánh phá chính nước Mỹ ( Vietnam Veterans
For Academic Reform bài dịch của Trần Thế Tŕnh đăng trong tạp chí
KBC Hải Ngoại số 16 tháng tư 2003 ), hoặc một Jane Fonda (Nữ ca sĩ ,
sau nầy cô đă hối hận khi biết được sự dối trá cuả bọn Cộng Sản Bắc
Việt), một John Kerry hèn nhát (Cựu chiến binh Mỹ có tham chiến tại
Việt Nam vẫn ngoan cố cho đến hôm nay) xách động quần chúng phản
chiến, v.v....Và những kẻ vô t́nh hay hữu ư đă bóp méo sự thật, thổi
phồng một vài sự kiện không đáng kễ để gây bất lợi cho Chính phủ
miền Nam Việt Nam và Đồng minh mà không ghi chú rỏ ràng nguyên nhân.
Trong khi đó những tội ác tàn bạo đáng ghê tởm của bọn Cộng Sản Bắc
Việt th́ được họ làm ngơ hoặc ém nhẹm bằng những bài viết mập mờ qua
loa lừa gạt quần chúng.
Dân chúng Mỹ đă thương tâm khi thấy trên
báo chí Mỹ đăng tấm h́nh một bé gái trần truồng, trên lưng mang đầy
vết bỏng do bom xăng gây nên trên đường chạy nạn mà không một lời
giải thích rơ ràng nguyên nhân v́ đâu ?. Nh́n tấm h́nh đó ai mà
không động ḷng trắc ẩn và hiểu lầm?. Người Mỹ và phương Tây chỉ
thấy người dân chạy nạn từ phía quân đội Miền Nam Việt nam và đứa bé
bị vết phỏng đó là do bom đạn của quân đội Việt Nam Cộng Hoà và Đồng
minh gây nên mà thôi. Họ đâu biết rằng những người lính Việt nam
Cộng hoà đi phía sau là để yểm trợ cho đồng bào từ phía quân Cộng
sản chạy thoát ra từ mặt trận đang đụng độ.
Trong khi chiến lược của bọn Cộng Sản Bắc
Việt dùng người dân vô tội để làm bia đỡ đạn cho chúng. Chúng thừa
biết quân đội Việt Nam Cộng Hoà phải quư trọng tính mệnh của dân
chúng bởi v́ trong đó có thân nhân của họ. Để đạt được mục tiêu đó.
Cộng Sản Bắc Việt đă bất chấp thủ đoạn lùa người dân vô tội đi
trước, họng súng của chúng thúc sau lưng. Không chỉ một lần mà hàng
ngàn hàng vạn lần suốt cuộc nội chiến Quốc-Cộng. Người dân giữa hai
lằn đạn làm sao tránh khỏi rủi ro ?. Vậy mà cả thế giới đă lên
tiếng, bọn phản chiến như Jane Fonda, John Kerry được cơ hội xách
động quần chúng Mỹ phản chiến, áp lực ép Quốc hội Mỹ cúp viện trợ
quân sự cho Chính phủ miền Nam Việt Nam. Sau đó là rút quân.
(Trích từ: århundrets Hvem Hva Hvor.
Chr. Schibsteds Forlag 1999. Side 358)
Những h́nh ảnh Tết Mậu Thân (năm 1968 ).
Bọn Cộng Sản Hà Nội đă chặt đầu, đập đầu hay xỏ xâu bằng dây kẽm gai
từng nhóm từ năm đến mười người rồi đào hố chôn sống tập thể hơn ba
ngàn người tại Huế. Trong đó đa số là đàn bà và trẻ em, vợ con của
công chức, quân nhân hay những người từng có đụng chạm đến quyền lợi
cá nhân của những tên Cộng Sản nằm vùng chờ cơ hội để trả thù. Và
c̣n biết bao thảm cảnh khủng bố tàn bạo mà bọn Cộng Sản Hồ Chí Minh
gieo rắc khắp nẻo Quê hương Việt Nam. Sao không thấy các kư giả Mỹ
và phương Tây đưa những h́nh ảnh đó lên báo chí để cho dân chúng
xem ?!. Những h́nh ảnh man rợ đó không đủ thương tâm hơn gấp ngàn
lần bức h́nh bé gái đó ư ?!.
Những tên kư giả và bọn phản chiến vô
lương tâm ấy, một số đă nhận tiền mua chuộc của Cộng sản Việt Nam,
đă cố t́nh làm ngơ hoặc có đề cập đến cũng chỉ qua loa, hoả mù che
mưa qua mặt dân chúng trước những tội ác đầy dẫy mà bọn Cộng Sản bắc
Việt gieo rắc khắp các làng xă tại miền Nam Việt Nam.
Không những chủ nghĩa hỗ lốn lai căng mà
bọn Cộng Sản Hồ Chí Minh xào nấu từ cái gọi là
Maxism-leninism-Maoism đă làm băng hoại cả một xă hội Việt Nam vốn
tốt đẹp hiền hoà chất phác, đầy ḷng vị tha nhân ái, tin cậy lẫn
nhau, mà trở thành một xă hội đầy ngờ vực, nghi kỵ, chia rẽ và sống
cá nhân ích kỷ. Hùng Cường là một ca kịch sĩ nổi tiếng ở miền Nam
Việt Nam, sau nhiều lần vượt biên thất bại, khi thành công đến được
bến bờ Tự Do trong một cuộc phỏng vấn đă nói: Nếu cột đèn biết đi nó
cũng đi . Dưới một chế độ mà cái cột đèn là vật vô tri cũng muốn bỏ
nước ra đi, th́ sự khinh tỡm và ghê sợ của người dân biết chừng
nào?. Họ chỉ được nói cười dưới sự kềm kẹp và chỉ đạo của đảng Cộng
Sản th́ sự thật và niềm tin làm sao có thể tồn tại được ?!. Với sự
phản bội của những tướng lảnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà v́ quyền
lợi danh vọng riêng tư, sự phản bội Đồng Minh của Mỹ đă giết chết
niềm tin thêm một lần nữa. Không có niềm tin trong mỗi con người th́
làm sao sống thành thật với nhau được ?. Cuộc sống mà chỉ biết có
ḿnh và riêng ḿnh làm sao gọi là có hạnh phúc ?.
PHẦN 3
Ca dao Việt Nam có câu: “Nhập giang tùy
khúc, nhập gia tuỳ tục”. Người dân cứ âm thầm chịu đựng, dù đó là
địa ngục trần gian để được tồn tại. Nếu có cơ hội họ vẫn sẳn sàng
trốn chạy khỏi sự thống trị của đảng Cộng Sản tàn bạo. Dù biết rằng
sự sống chết chỉ nằm trong tỷ lệ 50/50. Khoảng hơn một trăm ngàn
người đă gởi thây trong ḷng biển cả và hàng vạn người để lại nắm
xương tàn tận chốn rừng sâu núi thẳm dọc theo biên giới
Việt-Miên-Lào và Thái Lan. Kẻ may mắn cũng phải bầm dập, kinh hăi
bởi bọn hải tặc cướp của giết người hăm hiếp phụ nữ cho đến những bé
gái năm sáu tuổi chúng cũng không tha hay cuồng phong bảo tố trên
biển cả mênh mông hoặc nơi núi cao rừng sâu nước độc. Đó là lời biện
minh hùng hồn nhất cho một chế độ phi nhân độc ác và tàn bạo.
Chỉ có niềm tin mới làm cho con người đủ
can đảm để vượt qua bao gian nan khổ cực, hiểm nguy đang bủa giăng
chờ đón họ. Kể cả sự đánh mất luôn mạng sống của ḿnh. Sự tin tưởng
vào ḷng nhân ái con người ở những nước Tự Do bên ngoài. Họ hy vọng
sẽ được cứu vớt, cưu mang khi đất nước của họ đang trở thành địa
ngục trần gian dưới sự thống trị sắt máu của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Tôi cũng là một trong những người may mắn
đến được bến bờ Tự Do trên một con thuyền nhỏ chưa đầy ba thước bề
ngang, chín thước dài với gần năm chục người lớn nhỏ. H́nh như số
phận đă an bài, tôi phải trải qua thanh lọc v́ đi sau ngày đóng cửa
trại tị nạn (tháng tư năm1989 ). Hai chữ thanh lọc nghe thật đơn
giản, nhưng ghê rợn đối với người tị nạn, mỗi lần nhắc đến tim cứ
giật thót lên. Không biết số phận ḿnh sẻ ra sao, tương lai ḿnh đi
về đâu ?. Nếu tính toán, để một người được công nhận đủ
tư-cách-tị-nạn-chính-trị th́ bản thân tôi hội đủ điều kiện. Nhưng
trớ trêu thay nó có đơn giản như vậy đâu ?. Công lư và lẻ phải nằm
trên tay của những kẻ có quyền!. Tiêu chuẩn trên văn bản chỉ là
chiếc bánh trên giấy tờ. Tiêu chuẩn thật sự vẫn là sự quyết định tuỳ
tiện của những người đứng ra phỏng vấn. Tôi không biết có bao nhiêu
người được giao phó công việc thanh lọc thuyền nhân đă làm tốt trách
nhiệm và bổn phận của ḿnh trong sự công bằng và hợp lư. Nhưng những
hiện tượng mua chuộc để được đậu thanh lọc bằng những khoản tiền đút
lót, bằng thân xác của những cô gái trẻ đẹp v.v... th́ tôi biết
không phải là ít. Ngoài ra với chỉ tiêu của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp
Quốc là chỉ cho dậu thanh lọc mười lăm phần trăm ( 15% ) th́ chắc
chắn tỉ lệ nầy sẻ bị rút dần lại khi họ ưu tiên cho những hiện tượng
nhơ bẩn nói trên. Sau gần ba năm chờ đợi trong trại tị nạn. Người em
ruột cùng đi với tôi là một Sĩ quan trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà
bị bắt làm tù binh trước ngày 30 tháng tư năm 1975, được thả về sau
hơn một năm cải tạo đă nhận được giấy từ chối
Tư-cách-tị-nạn-chính-trị, có nghĩa là rớt thanh lọc. Hiện nay em tôi
vẫn c̣n ở lại Philippine và cương quyết không về sống chung với Cộng
Sản. Số phận tôi tuy khá hơn được công nhận
Tư-cách-tị-nạn-chính-trị. Nhưng cũng đầy gian nan và cay đắng không
ít.
Chuyện ǵ đến sẽ đến và tôi như cánh bèo
trôi mặc cho số phận đẩy đưa. Cuối năm 1991 tôi được chuyển trại đến
Bataan. Tại đây một lần nữa phải chứng kiến cảnh tiếp kiến phái đoàn
(Của nước mà ḿnh muốn xin đi ), cũng lắm cảnh xót xa đầy nước mắt
của những kẻ tị nạn vốn đă nhiều khốn khổ. Cảnh một nhân viên phái
đoàn Mỹ gác chân lên bàn, miệng th́ nhai kẹo cao su, trước mặt là
một người tị nạn đang được phỏng vấn khúm núm lo sợ, mặt mày tái
mét, làm cho tôi ghê tởm cái cử chỉ khinh miệt ấy. Một kẻ phản bội
bán rẻ Đồng minh của ḿnh nay lại chà đạp người bạn thuở nào cùng
vào sinh ra tử, thật đáng nguyền rũa. Tôi quyết định không đăng kư
đi Mỹ mặc dầu tôi có hội đủ điều kiện để xin đi Mỹ.
Một hôm tôi nghe nói có phái đoàn Nauy
cho đăng kư. Một cái tên thật xa lạ, gần như tôi chưa bao giờ được
nghe đến. Tôi bắt đầu đi t́m hiểu. Th́ ra Nauy có diện tích gần bằng
Việt Nam. Nhưng dân số chỉ hơn bốn triệu, trong khi Sài g̣n thủ đô
miền Nam Việt Nam đă có hơn sáu triệu cư dân. Nauy nằm mạn Bắc cực,
thời tiết lạnh, có tuyết quanh năm. Nguồn gốc Viking hiền hoà và
hiếu khách. Thế là hợp với nguyện vọng của tôi. Chỉ cần nơi an lành
và vui vẽ, biết tôn trọng và tin cậy lẫn nhau, đó là hạnh phúc của
đời người. Và tôi quyết định đăng kư xin đi Nauy.
Thật t́nh tôi không gặp một trở ngại nào
cả. Phái đoàn mà tôi vào tiếp kiến rất lịch sự và vui vẽ. Họ hỏi tôi
có biết ǵ về Nauy không ?. Tôi thành thật trả lời: “Vâng, chỉ mới
biết từ hôm qua”. Họ nh́n tôi và mỉm cười. Không biết trong ánh mắt
đó có nét nào thương hại tôi hay không ?. Nhưng đă làm cho tôi cảm
động. Một cảm giác thân thương tŕu mến có thể tin cậy được đă đến
với tôi. Kế tiếp họ hỏi đến gia cảnh và ước muốn của tôi. C̣n điều
ǵ quan trọng hơn là gia đ́nh vợ con của tôi. Tôi hỏi: “Liệu tôi có
thể bảo lănh hết vợ con của tôi qua Nauy hay không?. Và phải bao
lâu?”. Họ trả lời: “Có thể. Và thời gian khoảng chừng từ ba đến sáu
tháng”. Ḷng tôi tràn đầy hy vọng và chuẩn bị cho ḿnh một tâm lư
sẵn sàng đến dung thân ở một nơi hoàn toàn xa lạ.
Trong thời gian chuẩn bị, chúng tôi được
tham dự khoá học tiếng Nauy tại trại chuyễn tiếp Bataan. Thời gian
tuỳ thuộc vào nơi địa phương tại Nauy nhận sớm hay trể. Hàng tháng
được trợ cấp một ít tiền tiêu xài lặt vặt và bánh kẹo hoặc sửa. Điều
nầy chỉ có ở hai nước Nauy và Thụy Điển mà thôi. Thầy Cô giáo vui vẻ
và nhiệt t́nh đă làm cho tôi được an ủi. Niềm tin lại ló dạng trong
tôi.
PHẦN 4
Đến Nauy, tôi được sắp xếp theo học khoá đàm thoại tiếng Nauy 750
giờ do Thị xă tổ chức, mỗi tuần ba ngày, mỗi ngày từ ba đến bốn
tiếng đồng hồ. Sau một thời gian, hai ngày c̣n lại trong tuần chúng
tôi được Văn Pḥng Tị Nạn gởi đi thực tập với mục đích tập nghe và
nói chuyện làm quen với người Nauy và môi trường làm việc. Trong văn
bản thông báo gởi chúng tôi đi thực tập có viết: “Văn Pḥng Xă Hội
sẻ tài trợ tiền xe buưt”. Thế nhưng chỉ có vài người được nhận số
tiền ấy, số đông c̣n lại thắc mắc th́ được họ trả lời: Giúp đỡ tuỳ
theo hoàn cảnh mỗi người. nếu không hài ḷng th́ cứ đi thưa lên cấp
cao hơn. Tôi nản ḷng nên đă trả lời với họ: “không cần, v́ các anh
là kẻ cho, c̣n chúng tôi chỉ là người đi xin”.
May thay nơi tôi thực tập, Jon là một
người vui tính và nhiệt t́nh, anh ta giúp đỡ tôi tận t́nh, thương
mến như anh em làm cho tôi hết sức cảm động. Và kể từ đó chúng tôi
trở thành đôi bạn thân cho đến hôm nay. Ngoài ra tôi cũng có được
những người bạn Nauy mới, những người hàng xóm tốt bụng, những người
Thầy dạy ở trường nghề hết ḷng thương mến và giúp đỡ, v.v....Tất cả
đă giúp tôi lấy lại được niềm tin ở con người.
Sau bao lần trở ngại. Hồ sơ xin bảo lảnh
gia đ́nh của tôi được cứu xét. Kết quả, Sở di trú chỉ chấp nhận cho
vợ tôi và hai đứa con nhỏ được đi mà thôi. Hai đưá c̣n lại bị bác
đơn với lư do trên mười tám tuổi mặc dầu chưa lập gia đ́nh. Tôi có
làm đơn khiếu nại vài lần. Nhưng không có kết quả. Măi hơn ba năm
sau, gia đ́nh tôi mới được đoàn tụ phân nửa. Vợ tôi buồn sinh bịnh
cho đến hôm nay. Một ḿnh tôi đi làm, lương cũng tạm đủ không phải
xin trợ cấp của cơ quan Xă hội.
Mấy năm gần đây, đảng Cấp Tiến do ông
Karl.I.Hagan lảnh đạo dường như có ư bài ngoại kiều. Nhưng đối với
tôi, ông ta hẳn có lư do riêng theo cách suy nghĩ của ông. Trong
tổng số nhiều sắc dân ngoại kiều sống tại Nauy. Có một vài phần tử
xấu đă gây nhiều tội phạm h́nh sự như: Phe đảng chém lộn, bắn nhau,
giết người cướp của, cướp ngân hàng hay mua bán ma tuư, cờ bạc, đĩ
điếm, v.v....Ngoài ra, cũng có một số ít không đi làm việc trở nên
một gánh nặng cho cơ quan Xă hội. Nhưng tất cả đó chỉ là một thiểu
số rất nhỏ mà bất cứ một dân tộc hay một đất nước nào cũng có.
Có lẽ ông ta (Carl.I.Hagen )và những
người có đồng quan điểm với ông đă đặt nặng t́nh yêu Quê hương và
Đất nước quá nhiệt t́nh, mong ước một xă hội được hoàn chỉnh tốt
đẹp?. Nên đă xem những kẻ phạm tội (gốc người ngoại kiều ) nói trên
như một thứ ung nhọt nguy hiểm cần phải vứt bỏ đi. Đúng như câu ca
dao Việt Nam: “Con sâu làm rầu nồi canh”. Một người làm để cả nhóm
mang tiếng. Thật ra, nếu như ông ta nh́n sự việc với một tấm ḷng
bao dung hơn ông ta sẽ thấy những đóng góp không nhỏ từ kiến thức,
tài năng cùng sức lao động của các cộng đồng ngoại kiều đối với Đất
nước Nauy nầy. Người xưa có nói: “Nhân vô thập toàn”. Đâu có ai hoàn
hảo ? có người nầy người khác. Việc xấu xa, tai tiếng làm sao tránh
khỏi ?. Tôi chỉ yêu cầu ông cùng những người có đồng quan điểm với
ông hiểu cho rằng một phần tử phạm pháp không đại diện cho một tập
thể hay một sắc tộc nào cả. Cứu cánh của hạnh phúc chính là ḷng bác
ái, t́nh yêu thương , sự chia xẻ nổi đau thương thống khổ của người
khác. Tôi biết ông là một người hiểu biết nên đặt niềm tin ở nơi
ông.
PHẦN KẾT
Chủ nghĩa Cộng Sản hay Tư bản chỉ là
những sáo ngữ rỗng tuếch vô nghĩa. Nếu như chủ nghĩa đó không đem
lại hạnh phúc no ấm cho con người. Ngược lại lợi dụng nó để mưu cầu
riêng tư nhằm thoả măn những cuồng vọng cá nhân hay dành đặc quyền,
đặc lợi cho phe nhóm, bất chấp sinh mệnh hay hạnh phúc của người
khác. Đó là những kẻ bất lương, ích kỷ, tàn bạo không thiếu ǵ trong
cái thế giới vốn nhiều bất trắc nầy. Mỗi thời kỳ mà con người bị đày
đọa xuống địa ngục hay được đưa lên thiên đàng đều tuỳ thuộc vào
những hạng người lảnh đạo có chút lương tri hay là kẻ bất nhân. Thật
tội nghiệp cho người dân phải gánh chịu cảnh: “trong nhờ đục chịu”
v́ quá thờ ơ khoán trắng hay quá tin tưởng vào người lảnh đạo. Gặp
được người hiền tài biết thương dân, yêu nước th́ dân giàu, nước
mạnh. Ngược lại gặp phải kẻ bất nhân độc ác, tàn bạo, khéo léo mỵ
dân th́ nước mất nhà tan, dân chúng đói khổ lầm than. Vậy hạnh phúc
chỉ tồn tại khi có t́nh yêu thương chân thật trong mỗi con người và
niềm tin chính là chất dung môi để nối kết con người lại với nhau.
Con người từ đâu mà đến?. Câu hỏi bao đời
chưa có lời giải đáp. Hiện tại, chúng ta biết đời người chỉ sống
trung b́nh từ sáu đến bảy mươi tuổi. Người sống thọ nhất tại Việt
Nam vừa chết là một trăm mười sáu tuổi (theo Việt Báo). Với tháng
năm đó so với vũ trụ chỉ là một con số gần bằng không. Ganh đua
giành giật tham lam ích kỷ v́ danh v́ lợi, cuối cùng chỉ là con số
không!. “Cát bụi sẻ trở về với cát bụi” (Kinh Thánh ). Thế nhưng khi
sống phải sống sao cho xứng đáng làm một con người. Tranh đua mà đem
lại lợi lộc, hạnh phúc cho ḿnh cho người là việc nên làm. Ngược lại
đem lo lắng đau khổ cho ḿnh cho người là việc chẳng nên làm. Nếu
v́ niềm vui hạnh phúc của riêng ḿnh mà phải đánh đổi bằng sự đau
khổ của kẻ khác, th́ ḿnh chỉ là một kẻ tham lam, ích kỷ, bất lương.
Với thời gian ngắn ngủi đó, sao chúng ta không t́m hạnh phúc đời
người trong niềm tin, nụ cười và ḷng yêu thương chân thật. Thấy kẻ
khác đau khổ, chúng ta giang đôi tay giúp đỡ, họ cảm thấy được an
ủi, hạnh phúc, họ sẽ đến với chúng ta bằng một ánh mắt tŕu mến chân
t́nh, một nụ cười thân thương chứa đầy sự biết ơn. Đó chẳng phải là
hạnh phúc ư ?. Muốn được vậy, chúng ta phải có niềm tin. Tin tưởng ở
sự chân thành của chính ḿnh, tin tưởng ở sự cảm thông của kẻ khác,
tin tưởng ở sự công bằng và lẽ phải, tin tưởng ở ḷng vị tha bác ái
mà ai cũng muốn được đối xử. Con người thường hay dè dặt đối với kẻ
khác là v́ thiếu niềm tin. Ngược lại con người luôn luôn ước muốn kẻ
khác đối xử với ḿnh bằng sự tin cậy, chân thành và thiện cảm. Vậy
tại sao chúng ta không làm kẻ đi trước, mà phải chờ đợi người khác
đến với chúng ta ?.
Đa số người Nauy có sẳn một niềm tin, và
một tấm ḷng quảng đại. Chúng ta có thể thấy qua các cá nhân làm
thiện nguyện hay các hội đoàn từ thiện.... Họ đă được thừa hưởng
nhiều ấn tượng sâu sắc về các công tác bác ái nhân đạo mà các bậc
cha anh của họ đă và đang làm. Ngoài ra họ cũng đă được đào tạo ngay
từ thời c̣n đi học. Hằng năm tất cả học sinh của các trường trên
toàn quốc cùng tham gia hai ngày lao động để lấy tiền giúp các nước
nghèo. Bằng với những nghĩa cữ tốt đẹp đáng kính ấy, cùng những t́nh
cảm ưu ái mà bạn bè, hàng xóm, chính quyền Nauy đă dành cho tôi,
niềm tin của tôi đă được cứu sống. Tuy không được trọn vẹn. Nhưng ít
ra tôi cũng cảm thấy đời ḿnh có hạnh phúc.
Quả thật vậy, tôi có hạnh phúc từ khi gắn
bó thể chất đến tinh thần, từ hiện tại đến tương lai bằng nhiều cố
gắng để xây dựng cho bản thân ḿnh và gia đ́nh một sự hội nhập vào
xă hội mới trên Quê Hương thứ hai nầy. Tuy nhiên, làm sao tôi có thể
quên được nơi Quê Hương Việt Nam c̣n có người Mẹ già, những người
thân yêu cùng Đồng-bào-ruột-thịt đang sống dưới một chế độ đầy tham
lam ích kỷ, chuyên chính hà khắc và sắt máu. Bọn cầm quyền Cộng Sản
Việt Nam hiện tại chỉ là tấm b́nh phong làm tay sai cho bọn Tàu phù
Bắc kinh cai trị bằng Thái thú, núp trong bóng tối hay hiện nguyên
h́nh như tên Uông Chấn Lưu, một sĩ quan t́nh báo của Bắc Kinh sang
Việt Nam đă từ làm cố vấn nay leo lên đến cấp Bộ trưởng Tư Pháp của
cái gọi là Chính Phủ Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà Độc- Lập Tự- Do Hạnh-
Phúc.
Dưới sự chỉ đạo của Bắc Kinh, liệu Nhà
Nước Cộng Sản Việt Nam hiện nay có phải chỉ là một kẻ Cai Thầu làm
đúng theo đơn đạt hàng của Cộng Sản Tàu là biến Việt Nam thành một
đứa con Trung Quốc thứ hai?. Việc hiến dâng cho Trung Quốc mấy chục
ngàn cây số vuông đất và biển như trong hiệp định về biên giới
Việt-Trung là cái tṛ của một tên đầy tớ lập công với chủ, bán rẻ
linh hồn cho ác quỉ. Phản bội Tổ Tiên, Quê hương, Dân tộc. Thật là
những tên đê hèn đáng nguyền rũa.
Tôi chỉ là một kẻ bất tài, kém đức chẳng
có khả năng làm được một người Anh Hùng trong thời loạn để cứu Dân,
cứu Nước. Nhưng tôi xin được cùng đau chung cái đau của Quê Hương
Đất Nước và nguyện cố gắng tận hết sức ḿnh trong phạm vi có thể,
làm được một điều ǵ đó, dù thật là tầm thường nhỏ nhoi cho Quê
Hương Dân Tộc Việt Nam vốn đă chịu nhiều thống khổ. Và tôi vẫn giữ
vững một Niềm Tin một ngày không xa đảng Cộng Sản Việt Nam và bọn
Thái thú Tàu phù phải biến mất. Để mùa Xuân lại trở về với Quê hương
Đất nước và Con Người Việt Nam dưới một bầu trời Tự- do Dân- chủ và
Nhân-bản thực sự.
Oslo,
16.02.04
_________________
Phạm Tứ Linh
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Mùi thương nhớ
Văn
Chương
Một bài ca mà người Việt ở nước ngoài thường hát, cách đây khoảng 20
năm có câu:
"Sài
G̣n ơi ! ...Tôi đă mất Người trong cuộc đời".
Chữ
Người ở đây đă được nhân cách hóa. Thật ra, đấy là một nơi nào đó
trong thành phố, hoặc một địa điểm gần nhà. Dù thế nào, nơi ấy đă để
lại một dư âm, dư hương hằn sâu nơi t́nh cảm của một con người. Con
đường dẫn tôi đến nhà nàng đi qua đường Lê đại Hành và ṿng rào khu
trường đua Phú Thọ. Tại ngă ba Lê đại Hành và B́nh Thới, trước đây,
có một tàng cây khá rậm. Nơi đó có gia đ́nh sống bằng nghề bán cháo
huyết. Họ đă đi khu Kinh tế Mới, và quay trở lại khu nhà cũ, quyết
bám trụ làm lại cuộc đời. Một tô cháo không lời được bao nhiêu nhưng
nhờ khách đông nên gia đ́nh tạm sống qua ngày. Chính nhờ cuộc sống
ổn định đó và được sự thương yêu, ấp ủ của cha mẹ, người học tṛ của
tôi đă có sự vươn lên tốt đẹp trong việc học.
Tôi
yêu người bạn gái của tôi có lẽ chính là do nghề dạy học mà nàng đă
chọn. Một lần, trong đêm tối mưa rơi tại một quán cà phê ở Thanh Đa,
tôi đă nói lên ước mơ đơn giản của ḿnh.
"Một mái nhà tranh và đàn con hiếu thảo
Tiếp nối nghiệp cha xây giấc mộng giúp đời ..."
Mái nhà tranh hiện giờ cũng chưa xây được v́ tôi c̣n đang sống cuộc
sống lang bạt ở xứ người. Nếu có quay trở lại quê nhà, mái nhà tranh
như thế cũng không c̣n giá trị hiện thực. Cuộc sống nơi đây đă thay
đổi quá nhiều. Giá trị hiện thực bây giờ là nhà lớn, xe đẹp. Cuộc
sống đó có ảnh hưởng ǵ không đến tâm tư của người con gái mà tôi đă
yêu quí ? Tôi sống xa nàng, làm sao hiểu hết được mọi chuyện. Nhưng
một điều rơ nét là nhịp độ trao dổi thư từ đă dần dần thưa, ít.
Người ta có câu nói phổ biến “ Cách mặt xa ḷng “. Nhưng, với tôi,
câu nói đó không có tác dụng. Tuy sống xa nhau, nhưng thỉnh thoảng
tôi vẫn gặp nàng trong giấc mộng. Mùi hương thơm nhẹ từ da thịt nàng
quấn quít măi bên tôi. Tôi nhớ nàng tưởng có thể quên hết mọi việc.
Bài hát nào đó có câu:” Người say không biết nhớ và người điên không
biết buồn “. Nhưng, với tôi, t́nh cảm đối với nàng quá mênh mông,
dạt dào nên nhiều lần tôi đă nghĩ rằng, nếu có say, tôi vẫn c̣n nhớ
đến nàng ... và nếu có điên, h́nh bóng nàng vẫn c̣n ngự trị trong
tim tôi.
Tôi
là lữ khách, sống lang bạt xứ người, nhưng vẫn mang theo h́nh bóng
ấy và mùi hương năm nào tôi đă say mê, đắm đuối. Lần đó, tôi chưa
trao cho em một đóa Quỳnh. Nhưng, tôi đă có cảm giác môi em c̣n thơm
hơn đóa Quỳnh tôi định trao cho nàng. Và ngày đó, em đơn giản lắm,
em không đ̣i hỏi nơi tôi điều ǵ cả ... nhưng em đă trao đến cho tôi
rất nhiều, dù rằng em chỉ mang đến cho ta một chút t́nh ... và chỉ
là:
"Miệng cười khúc khích trên lưng"
Nhưng, lần gặp nhau vừa rồi, tuy ngồi sát bên nhau, nhưng tâm t́nh
có vẻ đă xa cách. Nàng thuật lại rằng, cô giáo hướng dẫn lớp giáo
sinh Cao Đẳng của nàng, nói với mọi người rằng, phong cách sống của
người phương Tây là đổi mới con người mỗi ngày, thể hiện cụ thể nhất
qua cách ăn mặc, kiểu tóc, dáng đi ..v..v.. Lúc ấy, tôi nghĩ rằng,
nàng nghe một người khác nói và nàng chỉ nhắc lại thôi. Tôi không
muốn phản bác với kinh nghiệm cuộc đời của cô đào nổi tiếng kinh đô
điện ảnh Hô ly Uùt ( Hollywood ) Elisabeth Taylor. Bà ta mới chết
cách nay không lâu. Chính bà ta muốn rằng những người phục vụ mai
táng bà phải trang điểm cho bà thật đẹp, trước khi đặt bà ta vào cổ
quan tài.
Bà
đă chết trong sự đẹp đẽ thể chất. Nhưng, cuộc sống trước đây của bà
ta có hạnh phúc hay không ? Chắc chỉ có bà là người đủ tư cách để
trả lời câu hỏi dó. Nhưng, nếu quan niệm hạnh phúc là sự theo đuổi
ước muốn toàn thiện th́ quả là người ta không bao giờ có được hạnh
phúc. Sự toàn thiện như là cái bóng của chính con người, càng đuổi
theo nó, nó cứ chạy măi. Cuộc sống vợ chồng của bà ta chứng minh
điều đó. Sau hai lần ly dị, khi được phỏng vấn với câu hỏi, yếu tố
nào là bí quyết để giữ hạnh phúc gia đ́nh, bà ta đă trả lời ngay,
không ngập ngừng. Đại ư bà ta cho rằng, cứ mỗi ngày người đàn bà
phải có một dáng vẻ mới. Chính bà ta đôi khi trong ngày có hai kiểu
tóc khác nhau. Sau cuộc phỏng vấn đó không lâu, bà ta kết hôn với
nam tài tử gạo cội, Richard Burton. Bí quyết nói trên đă làm cho
cuộc sống lứa đôi của bà với ông chồng này kéo dài thời gian hơn, so
với hai ông chồng trước. Nhưng, kết cuộc, cũng lại là một sự chia
tay !! ...
Tôi không phản bác câu chuyện của người tôi yêu. Có lẽ lúc đó
tôiđang sống lại với mùi hương quen thuộc năm nào. Tôi không biết ǵ
hơn nữa, chỉ th́ thào vào tai nàng:
Thơm quá ! ...
Nàng không nói, đôi mắt chớp nhanh.Tôi thấy đóa Quỳnh như:
"vừa khép những đóa mong manh".
Bởi:
"Ta
mang cho em một chút buồn
V́
ta như sông lênh đênh ..."
Nhưng, em dâng hiến
" Môi em cho ta một cánh hồng
Lụa là phút ấy chưa quên.."
Anh làm sao quên được:
" Chiều mưa ngày nào sánh bước bên nhau
Tin yêu dạt dào mộng ước mai sau
Cho ân t́nh đầu măi măi dài lâu
Cho duyên t́nh đầu đừng có thương đau "
Anh c̣n nhớ sau cơn mưa chiều đó:
"Hai người chia tay sao chẳng nói điều chi
Mà hương thầm theo măi bước người đi
Hai người chia tay vẫn chẳng nói một lời
Mà hương thầm vương vấn măi người đi "
Những h́nh ảnh như thế dồn dập quay về trong đầu óc. Anh c̣n biết
nói ǵ hơn.
Em thơm quá ! ...
Ô ! ... sao ngây ngô thế.
Có giống như em không, một lần trước đây đă nói với anh rằng:
" Em đố ai t́m dược lá diêu bông
Em xin ư lấy làm chồng ..."
Đâu đợi đến khi em nói lời thách đố, anh đă làm chuyện đó từ lâu rồi.
"Một ḿnh tôi lang thang muôn nơi
Đi t́m lá cho em tôi ..."
Tôi đă tự tạo một câu chuyện cổ tích mà không hay. Lá diêu bông phù
phiếm của nhân gian hay của người con gái tôi yêu ? Tại sao tôi lại
lang thang đi t́m một hạnh phúc xa vời ? Em đó. Em là hoa, là lá ...
là mật ngọt của nụ hoa hàm tiếu. Nếu anh là ong là bướm, tại sao lại
không tận hưởng, nếu hoa kia hé nụ mời chào. Anh đă ru ngủ chính anh.
Lẽ ra, anh cũng không nên làm việc đó với em.
"Ru em thời thiếu nữ xa xôi"
Tuổi xuân th́ của em đă qua. Nhưng, mấy ngày gần đây, em lại nhắc
anh cái việc của thuở trước. " Ru em thời con gái hay quên ".Em hẹn,
anh sẽ đón em sau giờ học. Thế mà, sau đó, bảo vệ trường nói là buổi
học đă chấm dứt vào lúc trưa. Em đă có một buổi thảnh thơi, sớm hơn
dự kiến. Lẽ ra, em dùng thời gian đó để nghỉ ngơi; đàng này, em lại
dùng nó để cùng vui chơi với bè bạn. Anh đă biến mất trong tâm
tưởng của em. Bất công đối với anh đến là dường nào. Suốt thời gian
ḿnh tôi lang thang muôn nơi, đi t́m thứ lá mà em ham thích, không
khi nào h́nh bóng của em thoát khỏi tâm trí của anh. Rồi lúc tôi
chợt dừng chân, đến với em th́ em lại như mây trôi lăng đăng ! Em
biết không ?! ... phút dừng chân đó không thể kéo dài măi măi. Em
biết không ?!... phút dừng chân đó đối với anh quan trọng biết dường
nào !
Bướm không c̣n vờn hoa nữa. Bướm muốn qua nhân duyên này sẽ tạo ra
được một kết quả dài lâu. Kết quả đó có thể sẽ tạo nên một cuộc sống
khác, một sự nghiệp mới trong tương lai. Nếu nơi em c̣n sót lại sự
ngỡ ngàng, ngây thơ nào đó của một thời con gái mà thắc mắc về tương
lai của đôi ta th́ anh cũng có bổn phận phải giải đáp thoả đáng.
Nhưng, nếu chúng ta không dành được thời gian cho nhau th́ anh lấy
cơ hội nào để có thể trả lời những vấn nạn của em. Thật t́nh mà nói,
theo anh, không lư lẽ nào trên đời có thể giải tỏa tuyệt đối tất cả
những thắc mắc được nêu ra. Nhưng, anh tin chắc một điều là khi hai
người yêu nhau cùng nh́n về một phía, họ sẽ giải quyết đựơc mọi khó
khăn. Khi họ có con, người con sẽ là mạch nối yêu quí của hai người.
Nói đến đây anh chợt tin vào số mệnh và đồng thời cũng không tin
điều đó. Có số mệnh không khi trong 80 triệu con người, anh chỉ biết
có em ? Có số mệnh hay không khi khoa học đă tính chính xác khoảng
thời gian rụng trứng, và ngày có thể thụ thai được hai vợ chồng theo
dơi rất kỹ ... thế mà lại không có kết quả. Người ta dùng nhiệt kế
để đo thân nhiệt, người ta dùng giấy màu để đo độ hóc môn mà tỉ lệ
cũng chỉ đạt được đến 36% mà thôi. Có số mệnh hay không khi trong
hàng trăm triệu tinh trùng chỉ có một hay quá lắm là hai con xâm
nhập được vào trứng. Nhưng, lạ thay, khi hai người đương c̣n trong
thời kỳ yêu nhau, c̣n thương trộm, yêu thầm, mà sự thụ thai lại xảy
ra cứ như đinh đóng cột. Hễ gặp nhau là có thể thụ thai. Điều đó xảy
ra cứ như ngoài ư muốn của họ. Mọi việc có thể cũng có lẽ nhân duyên
của nó. Nhưng điều này chỉ được khoa học đương thời xem như một con
số trong phép tính xác xuất mà thôi. Khoa học tự nhiên chưa thể cùng
khoa học nhân văn giải thích được hết những kỳ diệu, bí ảo của cuộc
sống con người.
Do đó, tóm lại, dù có thai trước hay sau khi cưới hỏi, điều dó cũng
không đơn giản hay tự nhiên như suy nghĩ của một đôi trai gái. Em
chịu khó nghĩ lại mà xem. Lúc trước, chúng ta gặp nhau, trước khi
anh tiếp tục cuộc hành tŕnh, chúng ta đă có những kỷ niệm ǵ ? Em
chỉ “ cho ta một cánh hồng “ và “ miệng cười khúc khích trên lưng
“... em chỉ mang đến cho ta một chút t́nh .. và em không đ̣i hỏi nơi
anh một điều ǵ cả. Em làm anh nhớ đến một bài hát nổi tiếng của
người Pháp, có câu: “ T́nh cho không .. .biếu không “. Nhưng, với
anh, tất cả những điều đó có ư nghĩa rất lớn. Nó trở thành một kho
kỷ niệm, chất chứa những buồn vui
"Kỷ niệm xưa c̣n đó
Những con đường buồn vui lộng gió ..."
những con đường trải dài theo những nơi chốn, mà hai chúng ta đă
đến và đi qua.
Phần anh, lần đó, anh có đem đến cho em niềm vui nào không ? Có lẽ
v́ anh không hỏi nên em không có cơ hội để nói nên lời. Nhưng, nếu
em đă nói nên lời, anh phải hứa hẹn với em ra sao ... khi có những
trường hợp, những gịng mực xanh c̣n đó mà lời hứa đă trôi vào hư
không
" Chỉ c̣n vài trang giấy
Gịng mực xanh c̣n đấy
Hứa cho nhiều dù bao lời nói
Đă phai tàn thành mây thành khói
Cũng như hư không mà thôi ..."
Tội nghiệp cho anh!.... Anh không dám hứa hẹn nên không dám hỏi.
Anh không dám hỏi v́ biết rằng
" Ta mang cho em một chút buồn
V́ ta như sông lênh đênh ..."
Em biết đó, người đă tự tạo cho ḿnh một câu chuyện cổ tích th́xá ǵ
một câu hứa. Đối với họ, sự hứa hẹn rẻ tiền. Anh đă tự ḿnh đi lang
thang muôn nơi cũng chỉ v́ muốn t́m cho em thứ lá mà em ham thích.
Thời em c̣n ham thích như thế là thời em vẫn c̣n là một thiếu nữ
đương xuân. Anh đă ru ngủ em với câu chuyện cổ tích như thế.
Bây giờ tuổi xuân th́ của em đă qua. Em c̣n giấc mơ ǵ khác không ?
Bây giờ sự lang thang đă làm anh mệt mơi ! Hơn nữa, lá diêu bông ở
đâu mà t́m. Em đó. Em là hoa hồng ... là hoa quỳnh... là một đóa hoa
kỳ lạ đối với anh. Loại hoa này không cần một tên gọi đặc biệt. Loại
hoa này có mùi hương riêng. Mùi hương của em đă gây cho anh sự
thương nhớ miên viễn ....trong thời gian đă qua và kéo dài đến hết
cuộc đời.
Anh không cần t́m kiếm ǵ nữa. Anh trở lại chốn xưa. Anh t́m đến
với em. Nhưng ..em biết không ? ... Tội nghiệp cho anh lần nữa. Kẻ
tạo riêng ḿnh câu chuyện cổ tích đó lại không phải là một thiên
thần, một hoàng tử .. mà chỉ là một kẻ khù khờ trong t́nh yêu chân
chất. Anh chàng đă đi quá xa và quá mệt mơi ! Anh ta không thể tiếp
tục ru người ḿnh yêu theo kiểu xa xưa
"Ru em thời con gái hay quên"
Bây giờ, mỗi lần người con gái ấy quên là một lần chàng ta xót xa,
tê tái. Anh ta không buồn bực, tức giận v́ nghĩ rằng có thể sự diễn
tả t́nh cảm của anh ta không đủ sâu đậm khiến cô nàng có thể thông
cảm. Nhưng, t́nh cảm của anh ta như chết đi v́ nghĩ rằng h́nh ảnh
anh ta hoặc ít ra, lời hứa của nàng đối với chàng, đă biến mất trong
tâm tưởng của nàng. Như thế là bất công ! Nhưng, như cô nàng, t́nh
cảm của chàng đối với nàng không so đo, tính toán. Đó là một loại “
t́nh cho không ... biếu không. “ Nếu có khác hơn, đó là loại t́nh
sẵn sàng chấp nhận thêm một nghĩa vụ làm chồng và làm cha. T́nh cảm
của chàng như thế, do đó, khi sự việc quên đi của nàng xảy ra, đă
khiến cho chàng ta như chết lặng. Không cần gọi sự việc đó là bất
công ... hay là một cách gọi ǵ khác. Nhưng, có một sự thật anh phải
nói rơ cho em hay. Sự quên đi của em, nếu tái diễn nhiều lần, có thể
dẫn đến nơi anh một t́nh trạng được diễn tả bằng chữ “ Stress “. Đó
là một phản ứng t́nh cảm bị dồn nén, không có hướng giải thoát, đưa
đến sự trầm uất. T́nh trạng này có thể dẫn dến sự suy thoái thần
kinh và tê liệt một phần nào một trong năm giác quan của con người.
Nguy kịch nhất là làm mất đi sự hưng phấn t́nh dục, không kể người
đó đă già hay c̣n trẻ.
Như nói trên với em, bây giờ, bướm không c̣n vờn hoa nữa. Bướm muốn
qua nhân duyên này sẽ tạo ra được một kết quả dài lâu. Kết quả đó có
thể sẽ tạo nên một cuộc sống khác, một sự nghiệp mới trong tương lai.
Nhưng, con người không phải là bướm. Con người là một thực thể kỳ
diệu mà sự phấn khích t́nh cảm, do rung động của thần kinh, chỉ xảy
ra trong một thể chất khỏe mạnh. Tuy nhiên, trong t́nh trạng nào đó,
thể chất có thể có một dáng vẻ b́nh thường bên ngoài mà thần kinh
bên trong lại có thể suy yếu bởi những tác động ngoại biên. Sự suy
yếu đó có thể dẫn đến một sự tê liệt hoàn toàn một chức năng sinh lư.
Anh không thổi phồng sự việc này. Anh đă cảm nghiệm trong thực tế
đôi lần t́nh trạng này. Có lần, điều đó đă xảy ra ngay khi anh c̣n
rất trẻ.
Đó là sự thật. Anh tôn trọng sự thật. Anh tôn trọng em .. và v́ thế
cũng muốn em hiểu rơ về t́nh trạng này. Điều này có thể sẽ có lợi cả
cho em và cho anh. Như thế, chúng ta sẽ có chung một hướng nh́n và
nếu thông cảm, chúng ta sẽ giải tỏa dễ dàng t́nh trạng khó khăn đó;
nếu nó sẽ xảy ra trong thời gian tới.
Nhưng, em cũng biết, t́nh cảm chủ quan của con người chịu tác động
nhiều, ít của không gian và thời gian. Thời điểm này, tại ngă ba Lê
đại Hành – B́nh thới, đâu c̣n tàng cây cao, rậm rạp, che chở một
gánh cháo huyết, nuôi sống và làm phát triển một nhân cách học tṛ.
Một số rất lớn học sinh, ngoài giờ học, phải làm thêm một việc ǵ đó
phụ gia đ́nh, chẳng hạn như bán vé số. Cuộc sống như thế làm sao so
b́ được với cuộc sống của những em học sinh mà học phí mỗi tháng
phải đóng cho nhà trường lên đến 20 đô la. “ Tiếng động nào gơ nhịp
không thôi “, chẳüng hạn, của một xe bán phở, ḿ được đẩy đi chậm
răi trên đường B́nh Thới, sau 10 đêm, của khoảng thời gian trước đây
20 năm, cũng không c̣n nữa. Hương thời gian, nếu có, của không gian
trước đây, một xă hội không có cạnh tranh triệt để, không có sự đua
chen háo hức tiêu xài, đă gần như không c̣n nữa. Mùi thương nhớ của
cá nhân ai đó, một cảm nhận chủ quan đối với người t́nh ḿnh yêu mến
cũng có thể phôi phai,khi :
“ Phấn hương nồng em xem tựa tấm áo
Đă phai màu ân ái từ lâu
Những nẻo đường yêu thương thường dễ đứt
Khiến bao chiều trên bến tịch liêu
Vắng con tàu sân ga buồn héo hắt ...”
và:
Vắng em ḷng anh thấy quạnh hiu ...
Nhưng, t́nh cảm con người, nếu là một t́nh cảm trọn vẹn, không thể
là một sự ép buộc. T́nh cảm đôi ta trao nhau đă là một t́nh cảm trọn
vẹn. Chúng ta đă đến với nhau ...đă cho và đă biếu một thứ t́nh cảm
mà bên này không đ̣i hỏi bên kia một điều kiện ǵ cả. Không phải
t́nh cảm ấy rẻ tiền mà v́ chính nó vô giá, không thể đo lường cho cả
đôi bên nên cả hai đă tự ư trao cho nhau một cách hân hoan, vui thú.
Chúng ta đă có một thời gian bên nhau vui thú trọn vẹn. Nay, v́ một
lẽ nào đó mà một trong hai người để ân t́nh ch́m theo ḷng phố cũ
th́ cũng không ai có thể trách ai được.
Những ân t́nh ch́m theo ḷng phố
Cũng theo hư không mà thôi “
Nhưng, em có thể:Ru em thời con gái hay quên
em có thể để anh biến mất trong tâm tưởng. Phần anh, anh nhủ ḷng,
mùi hương của em sẽ theo anh đến hết cuộc đời. Tuy nhiên, khi sự
việc đó xảy ra, anh sẽ dành thời gian để tặng em một cụm hoa thạch
thảo
Anh
ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em biết cho t́nh ta đă .........................”
Appolonaire
Nhà thơ nổi tiếng người Pháp, với bài thơ trên, chứng tỏ ông c̣n
tỉnh táo trong t́nh yêu. C̣n tôi, khi làm việc đó, không chắc c̣n đủ
sự tỉnh táo, nên tôi có mong ước rằng việc đó sẽ không bao giờ xảy
ra; bởi loài hoa kỳ lạ đó không thể có ai hái được. Chỉ có người nào
đă có thể tạo riêng cho ḿnh một câu chuyện cổ tích mới có thể hái
loài hoa đặc biệt ấy thôi.
Văn Chương
14.07.2005
-------------------------------------------------------------------------------------
Sống
là không chờ đợi...
Bạn tôi mở
ngăn tủ của vợ và lấy ra một gói nhỏ được gói kỹ càng trong lớp giấy
lụa. Anh bảo: Đây không phải là một gói đồ b́nh thường, đây là một
chiếc áo lót thật đẹp... Anh vứt lớp giấy bọc và lấy ra chiếc áo lót
mịn màng, rồi nói: Tôi mua chiếc áo này tặng cô ấy vào lần đầu
tiên chúng tôi sang New York, cách đây 8-9 năm nhưng cô ấy chưa bao
giờ mặc! Cô ấy muốn dành cho một dịp nào đặc biệt, vậy th́ hôm nay
tôi nghĩ là dịp đặc biệt nhất rồi... Anh đến cạnh giường và đặt
chiếc áo ấy cạnh những món đồ mà tí nữa đây sẽ được bỏ vào áo quan.
Vợ anh vừa mới qua đời...
Quay sang
tôi, anh bảo: "Đừng bao giờ giữ lại một cái ǵ để chờ dịp đặc biệt
cả... Mỗi ngày sống là một dịp đặc biệt rồi...".
Tôi suy đi
nghĩ lại câu nói này và nó đă làm thay đổi cuộc đời tôi...
Bây giờ tôi
đọc sách nhiều hơn trước và bớt thời gian dọn dẹp nhà cửa. Tôi ngồi
trước mái hiên mà ngắm cảnh chứ không buồn để ư đến cỏ dại mọc trong
vườn... Tôi dành nhiều thời gian cho gia đ́nh và bạn hữu hơn là cho
công việc. Tôi hiểu rằng cuộc đời là những cảm nghiệm mà ḿnh phải
nếm... Từ ngày ấy tôi không c̣n cất giữ một cái ǵ nữa... tôi đem bộ
ly pha lê ra sử dụng mỗi ngày, tôi mặc đồ mới để đi siêu thị hay bất
cứ nơi nào khi tôi cảm thấy thích... Tôi không c̣n dành nước hoa hảo
hạng cho những dịp đại tiệc, tôi xức bất kỳ khi nào tôi muốn...
Những cụm
từ như "một ngày gần đây" hay "hôm nào" đang bị loại khỏi vốn từ
vựng của tôi. Điều ǵ đáng bỏ công th́ tôi muốn xem, muốn nghe, muốn
làm ngay bây giờ. Tôi không biết chắc là vợ của bạn tôi sẽ làm ǵ
nếu cô ấy biết trước rằng mai đây ḿnh không c̣n sống nữa (một ngày
mai mà tất cả chúng ta xem thường). Tôi nghĩ rằng cô ấy hẳn sẽ mời
mọi người trong gia đ́nh, mời bạn bè thân thích đến nhà chơi... có
thể cô sẽ gọi điện thoại cho vài người bạn cũ và làm hoà hay xin lỗi
về những chuyện bất hoà trước đây...
Tôi đoán
rằng cô ấy sẽ đi ăn các món Tàu (v́ cô ấy rất thích thức ăn Tàu).
Chính những chuyện vặt vănh mà tôi chưa làm khiến cho tôi áy náy nếu
tôi biết rằng th́ giờ tôi c̣n rất có hạn. Tôi sẽ rất áy náy v́ tôi
không đi thăm một vài người bạn ḿnh cần phải gặp mà cứ hẹn lần hồi,
áy náy v́ thường không nói với những người thân của ḿnh rằng ḿnh
yêu thương họ... áy náy v́ ḿnh chưa viết những lá thư mà ḿnh dự
định "hôm nào" sẽ viết.
Giờ đây,
tôi không chần chờ ǵ mà không hẹn lại và không giữ điều ǵ có thể
đem lại niềm vui và nụ cười cho cuộc sống chúng tôi. Tôi tự nhủ rằng
mỗi ngày là một dịp đặc biệt. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút... đều đặc
biệt cả.
Nếu bạn đọc
được bản văn này ấy là v́ một ai đó muốn điều hay cho bạn, và v́ bạn
cũng có quanh ḿnh những người bạn quư yêu. Nếu bạn quá bận đến độ
bạn không thể dành ra vài phút để copy và gởi bản văn này
đến cho ai khác, rồi tự nhủ "mai mốt tôi sẽ gửi" th́ mai mốt đó có
thể là một ngày thật xa hoặc là bạn sẽ không bao giờ gửi được...
Sống là
không chờ đợi...
Lúc này
đang rất muốn đi bon chen, đú đởn, rất muốn lang thang blog
của mọi người, muốn đi xem phim, rất muốn đi công viên Vầng Trăng để
được chơi tṛ chơi và hét, muốn rất nhiều nhiều thứ... Định rằng thi
xong sẽ xử lư tất cả những cái muốn đó này.
Ơ nhưng
sống là không chờ đợi cơ mà?
Biết thế,
có điều thứ hai là thi, những cái muốn đó không chờ th́ ai học hộ
cho nhỉ? Rốt cuộc th́ vẫn phải mai mốt mới làm được thôi.
Sống là
không chờ đợi... V́ cho dù có nhiều việc vẫn phải chờ, th́ cuộc sống
không phải lúc nào cũng chờ bạn.
Và...
Sao phải
đợi đến lúc cô đơn mới nhận ra giá trị của một người bạn?
Sao phải đợi được yêu rồi mới đem ḷng yêu người?
Sao phải đợi có một chỗ làm tốt mới bắt đầu công việc?
Sao phải đợi có thật nhiều rồi mới chia sẻ một chút?
Sao phải
đợi thất bại mới nhớ đến một lời khuyên?
Sao phải đợi một nỗi đau rồi mới nhớ đến một lời ước nguyện?
Sao phải đợi có thời gian mới đem sức ḿnh ra phục vụ?
Bạn ơi, sao phải đợi? Bởi có thể rằng bạn không biết bạn sẽ đợi đến
bao lâu.
Đă bao
nhiêu lần ta chần chừ để rồi cơ hội vuột đi?...
Hăy làm những ǵ mà bạn muốn, làm những ǵ bạn cho là đúng.
Hăy biết nắm lấy cơ hội, đừng để phải hối tiếc bạn à
--------------------------------------------------------------------------------------------------
NO WAY
Đ.N.V.C
Den
gamle mannen stoppet opp, som om han var usikker på hvilken retning
han skulle ta. For å forsikre seg, spurte han en voksen som gikk
foran ham. Etter at han fikk svar, fortsatte han. Jeg synes det så
ut den voksen personen kom fra samme land som meg og hilser
med et smil. Men smilet
jeg fikk igjen synes å si at jeg om noen år kom til å ha det
likedan. Et liv kommer fort bort !
Den gamle mannen hadde
kanskje vært student eller lærer og kanskje ansatt på universitet. I
dag kom han sikkert hit for å friske opp i gamle minner. Og jeg vil,
sannsynligvis, hvis ikke
noe skjer, ikke å være i
hans situasjon før om 20 år. Men da, hvor ville jeg gå tilbake for å
minnes min fortid? Hvor er mitt hjemland? Eksillandet hvor jeg
befinner meg, eller stedet
hvor jeg ble født? Det
virker som om det ikke finnes noen svar på dette dilemmaet i livet
mitt. Kan det ha seg slik at dette landet har blitt en del av min
skjebne som ble bestemt for lenge siden?
Jeg kaller stedet jeg
befinner meg for eksil fordi jeg hadde gode grunner til å forlate
landet hvor jeg først åpnet mine øyne. Når jeg kaller landet for
dette, motsier jeg ikke meg selv i forhold til ting jeg sier til
mine norske venner. Det har gått 12 år siden jeg emigrerte til dette
landet. Men hver gang jeg treffer en ny venn, spør de meg:
- Hva synes du om å bo her?
Jeg pleier å svare
smilende:
- Generelt … bra. Men.. minus vinteren
De pleier å fortsette å
spørre fordi jeg smiler
- Har du gått på ski noen gang?
- Jeg var ikke født med ski på beina … men, etter å ha prøvd det
noen ganger, er det ikke så verst!
Alle steder er det
samme, man må jobbe for å overleve. Det er ikke fordi jeg ikke kan
jobbe som lærer som jeg gjorde i Vietnam at jeg bruker ordet "eksil"
for å beskrive vanskelighetene. Men det er fordi jeg forstår sorgen
til den russiske forfatteren Aleksandre i Solsjenitsyn. Han levde
utenfor hjemlandet sitt i 11 år, og da han kom tilbake hadde landet
forandret seg slik hans og hans folk ønsket. Og jeg, jeg føler meg
som om jeg har blitt fjernet fra mine røtter …. Og dette nye stedet,
er det mitt nye hjemland? Som et tre som har blitt flyttet med roten
til et nytt sted i 12 år. Har ikke denne tiden vært nok til at
røttene har slått seg til ro i den nye jorden? Alle sår har helet i
løpet av denne tiden. Men hvor lang tid
det tar for at røttene
skal trives, varierer fra person til person. Også de innfødte er
opptatt av
hvordan det går med de
nye immigrantene. Immigrantene er forvirret over
Forskjellene mellom integrasjon og assimilering.
Norskamerikanerne feirer
fremdeles nasjonaldagen 17. mai og vedlikeholder en del norske
tradisjoner. Gjør de det bare av vane? Eller er det fordi de eldre
ønsker det? Og barna setter mer pris på festivitetene enn minnene.
De kan kanskje bare noen ord på norsk, som de uttaler med aksent
…Denne forandringen kar skjedd over fem generasjoner. Men nordmenn
vil at denne forandringen skalskje raskere i deres eget samfunn. De
første vietnamesiske flyktningene kom til Norge i 1975 og
morsmålsundervisningen ble kuttet ut etter 17 år, i 1992. Den
perioden var nok for en som ble født i dette landet kunne tilegne
seg sitt språk.
Vertsfolkssgenerøsiteten
er nok … men trenger den å ha en grense? Ungdommene som gikk i 2.
eller 3. år i 1992 på universitetet satt og planla 12 år jubileet
til Den vietnamesiske
studentorganisasjonen.
Noen spurte meg:
- Hvis vi snakker norsk under møtet … går det greit for deg onkel?
- Hvis du ikke kan godt vietnamesisk ..Hvordan kan du skrive et
brev hvis du har
en
kjæreste i Vietnam? spør jeg med et smil.
- Det går an å ringe og snakke med henne …
På skolen snakker alle
minoritetselevene seg imellom på majoritetsspråket. Det er naturlig.
Hjemme hos familien er det noen som tvinger barna til å snakke med
hverandre på morsmålet.
Det er også naturlig.
Under de omstendighetene er ikke avstanden mellom foreldre og barna
så store. Men, hvor stor del av dagen tilbringer de unge hjemme
sammen med familien? Poenget er at de ikke kan lese bøker eller
aviser på vietnamesisk. De har ikke mulighet til å finne ut om sine
røtter. De vil ikke diskutere aktuelle saker, politikk som påvirker
deres liv.
Hvilke konsekvenser har
dette for samfunnet? For noen år siden laget de en undersøkelse på
innvandrermiljøene i
USA. Undersøkelsen viste at de miljøene der familiene var forent og
hadde de sterkeste båndende var de miljøene som bidro mest til
samfunnet.
Landet jeg bor i nå,
trenger kanskje ikke noen store bidrag fra innvandrerne. Den andre
generasjonen vietnamesere og andre innvandrere har mange som har
fullført høyskole og universitet. Noen innvandrergrupper har en
høyere prosent med universitetsutdannelse blant de mellom 18-25 enn
den etniske befolkningen på samme alder. Men der er ingen som har
fått viktige stillinger. Er det fordi de ikke er flinke nok? Eller
er det på grunn av en diskret diskriminering? For ikke så lenge
siden, etter å ha vært rektoren på universitetet i Oslo, Hanne
Harlem som var tidligere justisministeren til Jens Stoltenberg
regjeringen nylig sa at: "
Jeg vil gjerne at
Universitetet i Oslo skal bli en motor for Norge " (1) Betyr det at
det norske samfunnet ikke har hatt en god motor ? Eller betyr det at
samfunnet
Hadde en god
motor ..men ikke motorolje som får den til å gå ? Helge Kvanvig,
professor i teologi, leder for en forskningsinstitusjon konstatert
om den typen "oljen" slik: Universitetet i Oslo utviklet et
belønningssystem for forskningsformidling - andre
forskningsinstitusjoner utrykker stor interesse for det arbeidet som
er startet opp hos oss " (2) På slutten av 60-tallet, publiserte en
vestlig akademiker en bok hvor hun skrev om " brain drain ". Har
virkelig ikke Norge, i løpet av nesten 30 år slike data?
Men kunnskap er en
ting, mens forandring er noe annet. På mange måter er ikke Norge så
konservativt som Vietnam. Selv om Norge har grense mot Russland, ser
de ikke på det landet som en modell for et perfekt samfunn. Norge
har både et arbeiderparti og et kommunistparti. Vietnam har bare et
kommunistparti. Da vi sloss mot franskmennene, gikk de under navnet
" arbeiderparti" for å lure folket. Etter 1954, da de hadde overtatt
makten i nord Vietnam, syntes de at Marxismen var perfekt og
anvendte det på det vietnamesiske samfunnet på en mekanisk måte.
Norge er ikke ekstremistisk på denne måten. Kanskje det er fordi det
er mange partier slik at de har klart å utvikle et velferdssamfunn
slik det er i dag.
Norge er ikke
konservativt, men er kanskje treg i å forandre samfunnet? Hvordan er
et perfekt sosialistisk samfunn? I dag er samfunnet tynget med
300.000 personer som er uføretrygdet, og da har man ikke regnet med
de som er arbeidsledige eller folk som av andre grunner lever på
trygd. Etter annen verdenskrig måtte folket spare og leve på
rasjoner for å bygge opp landet igjen. Etter 1975, etter at nord og
sør-Vietnam ble gjenforent, fikk også folket rasjoner, men det var
for at samfunnet skulle bli til et ideologisk samfunn. Etter 1979,
hvis Norge ikke hadde klart å utvinne mer olje hvordan ville
velferdssamfunnet blitt da
Vietnam
har fulgt kommunistisk ideologi, med 15 år der landet har vært
lukket for omverden. Landet har ikke utviklet seg og folket har ikke
hatt nok mat å spise. I 1990 ble landet "fornyet". Selv om landet
framdeles er et av de fattigste i verden, har folket det bedre enn
da landet var lukket. Vietnam har lært å forvalte økonomien fra
Vestlige land, men holder vedlike kommunistpartier slik at det
framdeles har monopol. Dette har ledet til en kritisk grad av
korrupsjon i samfunnet. Et partisystem gjør det også vanskelig å
fjerne det store gapet mellom rike og fattige. Ikke for å nevne at
selv om staten ønsker å få støtte fra vietnamesere fra utlandet,
klarer den fremdeles ikke å respektere de grunnleggende
menneskerettighetene. Dette gjør at samfunnet ikke ennå er harmonisk
og forent. Hvor lang tid trenger Vietnam for å forandre totalt på
det som er urettferdig i samfunnet?
Norge klarte i
løpet av 30 år å skape et samfunn med høy levestandard. Hvor lenge
vil dette vare? Spesielt når oljefondet minker? Når vil Norge
begynne å privatisere samfunnet? Hvordan kan man gjøre dette uten at
det på virker velferdsstaten som men har brukt så lang tid på å
utvikle, men samtidig effektivisere samfunnet.
Ikke le når jeg
forteller disse historiene om politikk. En politiker og en borger
skiller seg generelt fra hverandre med at en politiker vet at han
kan oppnå en viss maktposisjon, og det er fra denne posisjonen
politikeren har autoritet til å lage planer for å møte behovene til
borgernes livstid. Men fordi Norge er et fritt og virkelig
demokratisk land, hender det at folkets ønsker hindrer for ønskene
til lederne. Det to folkesavstemningene om medlemskap i EU beviser
dette. Derfor, når man snakker om hva den enkelte borger gjør,
reflekterer det også hele samfunnet ..og omvendt. Så, når folk ikke
er interessert i noen av landets saker, faller helt klart
prosenttallet til velgerne ned. Det punktet er blitt merket seg mye
av folk, spesielt med de som involverer seg i funksjonen ved å
presse regjeringens maskin til å fungere godt. Men, hvis jeg sier at
jeg elsker Norge gjennom de tingene ovenfor, virker det som
overdrevet? Hva har jeg gjort for å bevise dette? En slik uttalelse
kan også virke vag. For å forhindre disse to tingene, vil jeg
begynne historien på en annen måte, Jeg vil tilbake til mitt
hjemland til da jeg var liten.
Da jeg var rundt 10 år,
hørte og opplevde jeg krig i mitt hjemland. Fra da til jeg begynte
på universitetet lærte jeg mange ting. En av tingene jeg lærte var
at Nord-Vietnam brukte en organisasjon kalt MTGPMN for å få tropper
inn i Sør for å krige. Når jeg skriver dette må jeg le fordi jeg har
blitt misforstått minst en gang. På en fest spurte en nordmann meg,
etter at han fikk vite hvor jeg kom fra.
- Hvilken landsdel bodde du i?
- I sør (Vietnam)
Jeg spilte ballen over
til min nye venn og spurte:
- Hva er forskjellen mellom nord og sør?
Jeg forventet ikke å få
et alvorlig spørsmål tilbake:
- Hvorfor kom du hit?
Fordi vi nettopp hadde
blitt kjent med hverandre, kunne jeg ikke gå så mye i detalj. Jeg sa
bare at jeg hadde vært lærer. I min posisjon hadde jeg blitt
spionert på av myndighetene, og de hadde gått gjennom mine
personlige ting hver gang jeg ikke var på lærerbofellesskap i helga.
Min nye venn
konkluderte, som om han hadde grundig faktakunnskap om vietnamesere:
- Politikerne i Sør Vietnam var en brikke i spillet til
amerikanske politikere.
- Sør-Vietnam
klarte ikke å stå imot angrepene til Nord-Vietnam som hadde støtte
fra sovjet og Kina, og måte derfor be om hjelp fra Amerika.
Jeg trodde at
forklaringen passet min nye venns konklusjon. Men det ble kanskje
misforstått. Denne misforståelsen forklarer jeg i neste del.
Jeg vet at han og
andre, folk som har fulgt med på det som skjedde i Vietnam, ikke er
objektive. Under krigen i Vietnam, har perspektivet til folk fra
andre land, blitt forvrengt. Kommunistene var veldig flinke i
propaganda. Til og med amerikanerne, som har barn og slektninger som
kjempet i Vietnam, har blitt villedet av informasjon som har blitt
forvrengt... for ikke å snakke om folk fra andre land. De har blitt
påvirket av media i Amerika, Ikke bare har vanlige folk blitt lurt,
men også akademikerer og kunstnere havnet i lignende situasjon fordi
de ble offeret for den forførende kommunistiske teorien. Disse
menneskene har etter revolusjonen i Sovjetunionen i 1917, og etter
de økonomiske krakkene i verden, følt seg skamfulle og hjelpeløse.
De har ikke klart å gjøre noe for å bedre samfunnet de bodde i, og
forhindret utviklingen og konsekvensene av den kapitalistiske
ideologien, så de reagerer motsatt og blir gratis høytalere for
propagandaen til den før nevnte ideologien.
En gang sa Carl I
Hagen, leder for Framskrittspartiet, noe om at nordmenn er
"dumsnille"!!
Jeg vet ikke hva han
mente med dette. Personlig opplevde jeg da jeg nettopp hadde
emigrert til Norge at en gruppe norske barn spurte meg: "Er du dum
?" og de gjentok ordet "dum" flere ganger da jeg gikk forbi. Jeg
kunne ikke så språket godt nok til å spørre dem hvorfor de kalte meg
for dette. Men mine skolekamerater som gikk i klasse med meg da jeg
var ung, som hadde dratt til Amerika før jeg kom til Norge, pleide å
si til meg i telefonen: "NO WAY"
"Riktig!" Jeg hadde
ikke noe valg ( eller jeg har INGEN UTVEI )
Før 1975 hadde jeg en
lykkelig og fredelig barndom der jeg ikke manglet noe. Mine
landsmenn var oppriktige og enkle. De levde i fred og behandlet
hverandre bra. Folk i sør ville ikke ha krig. Men vi hadde ikke noe
valg. Vi måtte ta opp våpen for å forsvare oss selv. Vi hadde ikke
mulighet å forsvare oss mot Nord-Vietnam, som hadde støtte fra
Sovjetunionen og Kina, så vi måtte be om hjelp fra USA. På tross av
dette tenkte vi aldri å angripe Nord-Vietnam og straffe våre
slektninger og brødre. Vi forsvarte oss selv for å bevare vårt liv i
frihet. Å kalle det for en frihetskamp er den fulle sannhet. Vi
ville ha et liv i frihet, uten at Nord-Vietnam skulle bestemme alt i
oppbyggingen av et trygt samfunn, og fred på vår måte.
Men fordi vi var
avhengig av et annet land, kunne regjeringen vår ikke foreta viktige
beslutninger. Siden Norge ikke deltok i 2.verdenskrig, klarte de å
bygge opp økonomien uten å være avhengig av andre. Samtidig var ikke
Norge helt nøytrale siden de lot amerikanerne bruke deres U2
rekognoseringsfly og B52 kampfly. Som medlem av NATO har Norge
rettigheter, men må også oppfylle noen plikter. En av pliktene er å
være en demning som holde tilbake spredningen av den kommunistiske
ideologien i nord. Ikke skam deg over den kapitalistiske ideologien
som ble spredt gjennom Marshall. Amerikanerne var i begynnelsen
virkelig redd for den "kommunistiske bølgen". Mac Carthy tiden
skapte panikk i samfunnet og ble stygg plett på den amerikanske. Med
USA i spissen ble mitt land en demning for den frie verden. Som før
nevnt fikk vi ikke ta del i viktige beslutninger, som den at USA
begynte å sende sine tropper til Vietnam i 1965. Det trodde de
skulle klare å vinne krigen med sterke tropper. Til slutt valgte de
å trekke seg ut etter mektig påvirkning fra media som førte til
antikrigsbevegelsene inne i landet og pga. USAs interesser i
forbindelse med Kina og deres konfliktløsning i Midt-Østen. De
overlot Sør Vietnam til å bære byrden av krigens smertelige
konsekvenser.
Sannheten
er at vi før krigen ble avsluttet i 1975, hadde blitt sterkt
påvirket. Da amerikanske troppene kom inn i Vietnam, kom også
livsstilen. Som før i tiden, da vestlige skip kom til et nytt land
for å drive med handel, hadde de med seg teknologi, mye bråk og et
raskt tempo. Livsstilen skaper et samfunn kalt forbrukersamfunn, med
en høy grad av konkurranse. Samfunnet er i så stor grad
kommodifisert at idealet nesten alltid er penger, og en persons
verdi er nesten kun målt i dens årsinntekt. Derfor, når verden måler
nasjonenes verdi, måler de den etter hvor mye folket tjener.
Mitt hjemland har ikke
noe valg annet enn å la seg påvirke av disse nye ideene.
Før den krigen i
Vietnam, var mitt hjemland et jordbrukssamfunn på vei mot
industrialisering. Hadde det ikke vært krig, ville landet likevel ha
blitt sterkt påvirket av vestlige kulturen, men fordi krigen satte
sine alvorlige sår har møtet med den blitt vanskeligere. Sårene er
ikke bare overfladiske. Men har også skadet sjelen til det
vietnamesiske folk. Mange som var ungdommer på den tiden, meg selv
inkludert, følte at vi var i eksil i vårt eget land, som om vi ble
kuttet vekk fra folke røttene våre. Vi levde i Vietnam, men var
skilt
Fra samfunnet.
Samfunnet som til nå hadde fødd oss var et enkelt samfunn. Våre
landsmenn var oppriktige, snille, og levde sammen i harmoni og fred.
Det var et samfunn bygget på verdier som gikk tusenvis av år
tilbake, og helt forskjellig fra den nye levemåten. Den franske
livsstilen hadde allerede skapt en forandring som både hadde gode og
dårlige elementer. Men denne gangen angrep den amerikanske
livsstilen altfor sterkt og voldsomt. Vi ville gjerne reagere. Men
fordi vi ville gjøre vår plikt overfor den frie verden, hadde vi
ingen andre valg enn å ta opp kampen mot Nordvietnam først.
Med dette vil jeg viske
vekk misforståelsen om hvorfor amerikanske tropper var i Vietnam.
Hvis ikke amerikanske tropper hadde vært i Vietnam, hvis ikke noen
landstropper hadde vært i Vietnam på det tidspunktet, ville det
likevel ha blitt krig, en annen type krig. Grunnen til dette er at
de som følger kommunismen vil at alle andre også skal følge denne
måten å byge opp samfunnet på, etter Marxistisk-Leninistisk teori!!
Før 1975 var Nord Vietnam et satellittland for dem. For å innføre
kommunismen, laget regjeringen i Nord Vietnam en organisasjon kalt
MTGPMN ( Mat Tran Giai Phong Mien Nam - Slagfront Revolusjon Sør
Vietnam ) for å yppe til krig i Sør. Hvis MTGPMN virkelig hadde vært
en organisasjon som bestod av folk fra Sør Vietnam, som samlet seg
for å slåss mot USA, kunne ikke den nåværende regjeringen si at det
var fordi folket var så lite nasjonalisk at de måtte
fortsette med det kommunistiske regimet til i dag, 29 år etter at
Sør Vietnam tapte krigen.
Selv om de sør
vietnamesiske troppene sloss tappert, tapte de i 1975 fordi USA
sviktet dem. Bare over 100.000 mennesker kom seg ut av landet i
april 1975. Det resterende folket i Sør Vietnam måtte, etter alle
lidelsene, holde ut med styret til den nye regjeringen. De hadde
ikke noe valg.
De nye lederne er ikke
fremmede. Det var de samme som hadde tatt med seg den kommunisteske
ideologien til Vietnam i 1930. De hadde basert seg på folket
nasjonalisme for å jage ut franskmennene. De brukte den samme
strategien i forhold til amerikanerne da de vant Sør Vietnam, som et
ledd i å la kommunismen sper seg over hele verden. De kunne ikke se
at ideologien er utdatert, og skulle bli forkastet av Sovjetunionen
gjennom en revolusjon
i 1989. De fulgte denne
doktrinen iblandet den kinesiske måten. I virkeligheten var
situasjonen til Vietnam totalt forskjellig fra de to andre landene,
både når det gjaldt økonomisk struktur og verdier og tradisjoner som
gikk langt tilbake i tid.
Før sårene fra krigen
hadde blitt leget, ble samfunnet igjen utsatt for en omvelting som
gikk ned til røttene fra en fremmed doktrine. Denne gangen var det
frykteligere enn angrepet fra amerikansk kultur; denne forandringen
kom sammen med våpen og lokalpoliti som hver overvåket kun 10-20.
Familier.
Økonomien i landet ble svekket. Ikke bare måtte folket leve av
utilstrekkelige rasjoner, men det ble også fratatt grunnleggene
menneskerettigheter. Det vietnamesiske folket hadde ikke annet valg
enn å finne en måte å rømme fra det usynlige jerngrepet regjeringen
holdt omkring dem.
De flyktet på alle
måter de kunne. En kurv av bambus som vanligvis blir brukt som
livbøye når man sjekker om de har fått sik i garnet, blir festet til
en større båt. Noen risikerer livet med en kano, selv om sjansen for
å møte en større båt som tar dem opp er veldig liten. Hvis de hadde
båt som ikke ville synke fordi den var for gammel, ville de kanskje
møte pirater som voldtok, drepte eller kjørte flyktningenes båt i
stykker med sin båt. Men denne ondskapen kunne ikke måle seg med
regjeringens ondskap. De båtene som måtte snu fordi det ikke var mer
bensin, eller strøm ..osv ble ofte skutt i stykker av havnepolitiet
og alle ble drept. Det drepte på en slik barbarisk måte fordi ordren
ovenfra hadde stemplet alle som flyktet som landsforrædere. De
eneste som kunne være sikre på at de overlevde var de som nådde
land. Men hvem vet hvor mange som døde på det åpne havet? Kanskje er
tallet 3,4 eller 10 ganger så mange som nådde frihetens bredder??
Menneskehetens
samvittighet åpnet sine armer. Norge, der den første FNs høykommisær
for flyktninger, Fritjof Nansen kom fra, tok villig imot.
Båtpassasjerer fra Vietnam vil aldri glemme bildet av skipet Lysekil
i operasjon " En båt til Vietnam " som seilte opp og ned
Sør-kina-havet, og tilfeldigvis reddet de flyktninger hvis båter som
seilte opp og ned Sør-Kina-havet, og tilfeldigvis reddet de
flyktninger hvis båter hadde blitt slept ut på havet av
havnepolitiet i Malaysia eller som fløt i flere dager uten drikke,
uten mat. De vil alltid huske Eigil Nansen, Odd Erik, Oddvar Næss …
og andre mennesker som deltok i operasjonen. Vietnameserne som kom
1979 kan aldri glemme da Norge bestemte seg for å doble kvoten av
flyktninger som kom fra Vietnam. I desember 94 og januar 95 var det
vietnamesiske miljøet uendelig trist på grunn av bortgangen til
Annette Thommessen og Tore Schjoth. Hun var den som initierte
operasjon "En båt til Vietnam ", og han var rådgiver i
Utlendingedirektoratet, velgjøreren for mange vietnamesiske familier
og miljøer. All den før nevnte hjelpen har trøstet oss og skapt en
generasjon unge vietnamesere med mye kunnskap.
Men menneskenes
nestekjærlighet kan ikke utrydde et diktatorisk regime ved å ta imot
alle menneskene som forlater regimet. Døren som ønsket velkommen
båtflyktningene fra Vietnam ble lukket i 1989.
Jeg hadde ikke annet
valg enn å være i flyktningeleir nesten 3 år 5 i behandlingsperioden
for utskillingsprosessen|. Jeg kom til Norge fordi jeg utrykte ønske
om det i et intervju med fjernsynet i Malaysia, etter å ha blitt
godkjent som en politisk flyktning: " Jeg skal dra til hvilket som
helst land, bare det er et fritt land."
Jeg elsker dette landet
fordi det er et land som huser friheten. Alle som har blitt
fengslet, torturert,
Alle
som må leve et liv i restriksjon og trusler, vet å sette pris på
frihet. De som har munn men ikke tør tale eller ser løgn og
urettferdighet men må tie, vet at talefrihet er en grunnleggende
menneskerettighet. Dette landet har gitt meg frihet og de
grunnleggende menneskerettighetene, så jeg kan ofre mitt liv for å
forsvare dette landet. Dette er lett å forstå .. for oss
båtflyktninger fra Vietnam, som minst en gang, desperat som gale,
har lett etter måter å flykte på. Verre enn gale fordi
sannsynligheten for å leve eller dø omtrent ikke spilte noen rolle.
Den skjøre situasjonen er som en soldat lever i før han går inn i en
voldsom og fryktelig kamp. Er mine følelser for Norge, uttrykt på
denne måten for overdrevet? Jeg mener ikke at denne måten å skrive
på er å gjøre det til noe viktigere enn det er. Det er noe naturlig
som er medfødt i mennesket. På samme måte som jeg før tok våpen i
min hånd for å forsvare mitt elskede Sør Vietnam, for å få et liv i
frihet. Jeg kjempet ikke for noen ideologi. Stakkars ungdommer i
Nord før 75, og hele Vietnam etter 75, som ble hjernevasket til å
elske sin nasjon, en nasjon som kaller seg kommunistisk, etter
regjeringens ønske!!
Denne patriotismen er
medfødt, ikke et produkt av tanker, som tidligere nevnt, men
omfatter også miljøet jeg lever i.
Jeg har forståelse for
mine venner som spør meg om mine tanker og følelser for livet her.
De
spør ikke av
nysgjerrighet, men fordi de bryr seg. Husker du innsamlingsaksjonen
for ikke så lenge siden, da Redd Barna samlet inn penger til de
fattige barna i Afrika? Etter noen dager var sammen blitt ganske
høy, og gjennomsnittlig var det over 100 kr per person. Dette er
nestekjærlighet og omtanke for andre. Hvis du er tilstede i hjemmet
til en nordmann, vil du se
dette. Spesielt når du
har en rolle der du skal hjelpe brukere som er pasienter på et
sykehjem. Hos dem, hjemstedene, er disse situasjonene for
ille til at du kan være sikker på at en person som skulle har
mottatt 100 kr ville levere tilbake den hele summen fordi den
mottakeren ikke var klar over at det er folk som har gitt til dem
100 Kr som kan leve under dårlige omstendigheter og de
mangler så mye materialistisk!! ..Til tros for at Norge har en høy
levestandard, er det ikke slik at deres tilstand kan være som om
" gatene er oversvømmet av olje ". De gamle som vil bo på
aldershjem må stille seg i kø for å få plass. Alle vet at de eldre
har bidratt mye til samfunnet. Folk må stå i kø i mer enn 6 måneder
for å komme på sykehus og kurere latterlig ufarlige sykdommer.
Vennene spurte ikke bare
om mitt liv, men de brydde seg også om dypere ting. Jeg liker den
enkle måten mine nye venner viser at de er interessert i mitt
hjemland på. De er imponert over hvordan vi kjempet mot
franskmennene og amerikanerne kanskje fordi de synes at det passer
med måten vi er stolt av vårt
Folk
på. Deres kunnskap har de fått fra bøker. ..men den " mest ekte
boken " er likevel det mennesket som snakker med dem. Fordi de
glemte dette, ser de situasjonen kun fra et ståsted.
Jeg må le når vennen min
står på sitt: Selv om han er veldig snill Han har lest en bok
skrevet av en forfatter fra Nord, som har blitt oversatt ti
engelsk(og deretter til norsk ?) Kanskje det er fordi han ikke har
lest en bok om krigen skrevet av en vietnamseer som bor i utlandet,
som tar opp de samme temaene, at han ikke kan sammenligne. Men selv
om han hadde kunnet sammenligne, kan han vanskelig snu om et minne
han hadde fra da han var student. På den tiden var han medlem av en
antikrig-studentgruppe, som kjempet mot amerikanernes innblanding i
krigen i Vietnam. Han hadde vanskelig for å akseptere en sannhet som
er annerledes fra den sannheten ha før har trodd på og som var
idealet han levde med da han var ung. Ingenting er bedre enn når han
ved siden av studiene kjempet imot urettferdighet, styggedom og
ondskap. Med slike tanker, tenker lederne som ledet kampen mot
franskmennene og amerikanerne at deres patriotisme og tro på
kommunismen gjorde at de vant. De klamrer seg til disse to tingene.
De glemmer at hvis de bruker ideologien som en metode for å vinne
krigen, glemmer de det motsatte, at hvis en regner med patriotismen
til et helt folk for å tjene en ideologi, et annet land, vil det
helt sikkert lede til nederlag før eller senere. Videre, hva er
vitsen med å vinne når livet til folket ikke har forandret seg noe
særlig og menneskerettighetene ikke blir tilstrekkelig respektert.
Lederne i Vietnam har for lengst sett forskjellen mellom de to
førnevnt tingene. Men de vil ikke åpent innrømme sine feil. Derfor,
selv om staten kan lære av historien, ser sannheten, men om de tør å
gjøre forandring eller ikke, er annen sak. Deres konservatisme og
stahet gjør at erfaringens lærdom har ikke noen nytte i fremtiden.
Kanskje de trenger en eller to generasjoner til for å skrive om
historien etter deres ønske.
Som før nevnt, er Norge
ikke så konservativt som Vietnam på dette feltet. Norge har ikke
brukt Sovjetunionens kommunistiske ideologi som en modell for
samfunnet.
Hvis men elsker et folk,
en person, bør man finne ut sannheten om historien og personligheten
ti dette mennesket. Derfor, istedenfor å bare lese noen bøker,
romaner ..eller noen aviser, bør utlendinger som oss forstå Vietnam
bedre ved å lete i historien eller kulturen. Men en ting de bør være
observant på er at de tar feil hvis de tror at de kan finne ut den
hele og eksakte sannheten ved å lete etter den i Vietnam. Hvis de
tror dette, har de glemt Mao Tse Tungs uttrykk " Pistolmunningens
sannhet ".
Den
objektive sannheten til vinnerne av krigen er bare halve sannheten.
Den andre delen av sannheten ligger hos taperne, og vil øke verdien
til enhver undersøkelse. I Vietnam i dag er det ingen forskere som
kan forske uten at staten følger med på deres arbeid, I motsetning
til dette, fra før 75 til i dag, både inn og utland, var og er det
folk som har gjort dette gjennom begge tidsperiodene, og dette
arbeidet har ikke blitt sensurert av staten.
Menneskets følelser
fungerer slik at hvis du liker noen, vil du like alt som har noe med
vedkommende å gjøre. Derfor omfatter mine følelser ikke kun mine
venner, men også folk som jeg aldri har snakket med.
Før, hver gang jeg gikk
forbi Grønland, dannet det seg inni hodet mitt et bilde av en gammel
dame. Hun var ikke høyere enn en meter og fire fordi tiden har gjort
ryggen hennes krum. Når hun gikk, så det ut som om hun lette etter
noe på gaten. Jeg hadde hørt at hun samlet flasker som hun pantet
slik at hun kunne sende penger til veldedige organisasjoner! På den
tiden var hun rundt 70 år. Nå trenger jeg ikke henne mer. Kanskje
hun hviler et sted, et sted der hun ikke trenger å bekymre seg for
menneskers liv. I mine øyne er hun Norges mor Theresa.
Jeg bor på Tøyen, et
område som grenser til det før nevnt området, hvor det også er en
spesiell mann. Han pleier å gå omkring med en fløyelshatt på hodet.
Det ser ut som om han går en tur fordi klærne er velstelte og han
ser frisk ut. Selv om han ikke er så krum i ryggen som den før nevnt
damen, ser de ut til å være på samme alder. Han går rundt og plukker
opp søppel som han putter tilbake opp i søppelkassene til
borettslagene. Folk ser ham av og til vandrende i skumringen. Jeg
har sett ham tidlig om morgenen mens det ennå var tåke og snø som
dekket bakken. Minst en gang har jeg tatt film i kamera som jeg har
gjort klar ved vinduet for å ta bilde av ham mens han gjør sin
daglige aktivitet. Det er ingen som presser ham til å gjøre dette.
Hvis han får alderspensjon er det ingen stat som kan tvinge en så
gammel mann til å gjøre dette. Jeg forberedte en kamera for å ta
opp den gjerningen … men ikke en gang jeg fullføre det fordi han
ikke har bedt noen om å takke ham for det han gjør. Ikke heller
for å vente på roser fra noen. Men jeg vil skrive om dette fordi
hans gjøremål er en uforglemmelig opplevelse for meg ! …For
han selv, så lenge han har krefter til å gjøre nytte for samfunnet,
selv om det er en liten, enkel ting fortsetter han sakte men sikkert
å gjøre det som om livet som går forbi.
Ved siden av disse
bildene, får noen eldre av og til en liten trøst. For ikke lenge
siden så jeg en gammel mann som prøvde å krysse en vei for å komme
til fortauet på andre siden. Det var veldig glatt på veien fordi den
var dekket av is. Beina hans beveget seg som om han ville måle
bredden av veien. Hvis dette var tilfellet, ville konsekvensen av
dette vær en negativt siden
Armene
hans skalv og han hadde ikke en stokk å støtte seg til. Heldigvis!
En person som kom forbi støttet ham trygt over på det andre
fortauet. Av og til er det en som reiser seg for å overlate plassen
sin til en eldre på bussen. Disse dagligdagse bildene, i sin
enkelhet, rører meg. Kanskje det er fordi det er lenge siden jeg har
opplevd slike gester. Hvor lenge siden kan det ha vært? Kanskje
siden min far var i live og jeg var under 15 år. Hvis vi går tilbake
i tid, kanskje 100 år, gjetter jeg at folk levde i fordragelighet og
behandlet hverandre på en fin måte. Slike bra samfunn har eksistert,
ikke bare i Vietnam, men også i Norge. I en lang stund har jeg følt
at Norge er mitt andre hjemland på grunn av overfloden av
medmenneskelighet.
Og det er andre ting.
Noen ting gjør at de som kommer for å bo her blir forundret. Og
synes er morsomt! Parken ved siden av hovedtogstasjonen er
samlingspunktet for en gruppe mennesker. De treffer hverandre for å
selge, kjøpe eller dele med hverandre hasj eler narkotika. Turister
som ser dem, skynder seg vekk. Metoden politiet har for å stoppe
dette negative inntrykket på turistene er ikke tydelig; av og til er
den slik og andre ganger slik.
Ikke langt derfra, i en
park ved Akerselva, utspiller en scene hver formiddag kl.11:00. En
bil, som enten tilhører Frelsesarmeen eller Bymisjonen, kommer med
mat som de deler ut til de narkomane. Av og til hører en sirene fra
en ambulanse. De må kjøre fort for å redde en som ligger livløs et
eller annet sted fordi de har fått en reaksjon på en sprøyte de har
tatt. Et rom som kalles sprøyterom som er bemannet av statlige
sykepleiere, ikke så langt fra togstasjonen, som av og til trues med
nedleggelse og nå er åpent, er for å gi sprøyter til narkomane som
ikke har råd til å skaffe seg stoff.
Langt fra
hovedjernbanestasjonen, men i nærheten av rådhuset, er et område der
gledespikene holder til. Når kvelden kommer, begynner deres
arbeidsdag. De går rundt på fortauene og venter på kunder som
stopper opp og forhandler om pris ..de går inn i bilen for å bli
kjørt til stedet hvor de gjør sin lettsinned jobb. Dette fenomenet
har eksistert i mange år, slik at så å si alle i Oslo vet om dette
området. Til og med dette, vet ikke politiet ikke hva de skal gjøre
med Grunnen er lett å forstå. styresmaktene vil noen ganger bruke
sterke virkemidler for å jage dem vekk, menes andre ganger synes de
at de er urettferdig!
Når man hører om disse
tingene er man ikke forundret når man vet at statsreligionen i Norge
er kristendom. Folket som lenge har levd i velferd, er enig med
statsministerens ord under
Siste
del av nyttårstalen: " Glede er ikke kjøpt med materiell " Når man
tenker etter kan dette være riktig..fordi materielle ting kan være
komfortable, men det er ikke sikkert at du blir lykkelig og rolig i
sinnet.
Akkurat derfor er det
nesten tomt for mennesker i byen ved store høytider. Det virker som
om nordmenn hater bakgrunnsstøy. Alle drar på landet eler opp på
høyfjellet, inn i skogen. Her
Kvepper jeg ved lyden av
en bil som tuter, noe som jeg aldri ville gjort i Vietnam. Men jeg
er helt avslappet og rolig når jeg går i byen på nasjonaldagen 17.
mai. Det er kanskje den eneste dagen da nesten hele befolkningen i
Oslo drar til byen. På nesten alle veier i sentrum av byen er
bilkjøring forbudt. Alle, uansett hvilken organisasjon de
tilhører, med unntak av korpset, uansett om de er store, eller små,
unge, gamle, jente, gutt går sammen over slottsplassen med
bare flagget i hånden og ordet " hurra… " i munnen. De har ikke
store kanoner og små håndvåpen. De har ikke fly og tanks. Bare en
rad med mennesker som flyter gjennom byen på byens glade dag. Jeg
husker fremdeles hvor forbauset mine norske venner var da jeg
fortalte dem at jeg skulle vise Youngstorget til venner som kom på
besøk til landet.
For dem er kanskje dette
bare en stor, tom plass i sentrum av byen. Men for meg er dette en
plass som har satt sterke følelser i meg. Dette skjedde i vinteren
2002. I -10C samlet over 60.000 mennesker seg på dette torget. De
var her for å demonstrere mot rasismen som forårsaket døden til en
ungdom fra Afrika. Når menneskelige følelser kobles til et sted, vil
omgivelsene bli vakere og ha mer mening!
Mennesker fra dette
landet er slik. Og hvordan er dette landet?
Arealet er omtrent som
Vietnam. Landet resurser er omtrent det samme. Folkets
dyktighet
er ikke forskjellig. Det
eneste som er annerledes er befolkningstallet og været. Selv om det
er fire årstider, ble landet som ligger nord i Europa beskrevet som
om det er bare 6 måneder med dag og 6 måneder med natt. I Sør
Vietnam er det to årstider, regntid eller tørketid. Barna i Vietnam
liker regnet sikkert av samme grunn som barna i Norge liker snø. Det
er et vietnamesisk ektepar, som noen venner av meg kjenner, som har
en litt rar levemåte. Hver jobber på et sted, med en avstand på 5
eller 6 hundre kilometer fra hverandre. Men når vinteren kommer, når
de treffer hverandre, drar de på fjellet for å gå på ski. Mannen har
ikke blitt presset av konen til å bli med på dette. Han er selv en
entusiastisk skigåer. Kan hende at deres hete kjærlighet holder dem
varme i vinteren? Og sommeren i Norge er veldig spesiell. Før var
det aldri varmere enn 20 C. Men kanskje fordi landet er i nærheten
av nordpolen, svir solen røde flekker i huden på ansiktet eller
ryggen til de innfødte her. Jeg har ikke fått anledning til å reise
til Nord Norge om sommeren for å se på solen skinne om natten og
skinne helt til neste dag. Men jeg har fått anledning til å se det
vakre i sommersolen på biltur gjennom mange byer. Etter klokken 9 er
naturen opplyst
Uten
å blende. På denne tiden er det helt mørkt i noen steder i Vietnam,
uansett om det er sommer eller ikke. Men i Norge, med lys som om
klokken var 5-6 på landet i Vietnam, er naturen vakker og beveger
menneskehjertet. Denne bevegelsen er kanskje ikke opphissende som
sommersolen i Vietnam, slik at selv om de to landene er like store,
er det 20 ganger så mange mennesker i Vietnam som i Norge!!
" Ja, jeg elsker dette
landet ! "
Phäi, tôi yêu đất nước
này !
Her skriver jeg dette på
to språk, på språket ti det landet som har tatt seg av mitt folk og
på mitt morsmål. Men jeg har ikke oversatt det til vietnamesisk, de
naturlige følesene mine får meg til å uttrykke noe som allerede var
inni meg. Denne linjen kommer fra den norske nasjonalsangen. Etter
at jeg sa det. Kom jeg på mitt morsmål. Jeg kan ikke utenat alle
ordene i denne nasjonalsangen .. men jeg kan hele melodien til
sangen. Jeg vet ikke når dette skjedde. At nasjonalsangen smøg seg
inn i mine tanker.
Riktig, jeg elsker
dette landet!
Menneskene, landet er så
vakkert. Men kanskje fordi mine venner ikke har de samme tankene som
meg, så de erter meg med å si: NO WAY (men ikke Norway). Det de
mener er at jeg ved å leve her, har ingen vei foran meg, jeg har
ikke mulighet å skape en fremtid som er bedre enn den jeg hadde i
Vietnam.
Ertingen deres har en
del av sannhet. Hvis jeg hadde vært i USA hadde jeg kunnet få
godkjenning for min universitetsutdanning etter noen år på skolen.
Hvis jeg anstrenger meg mer, kan jeg ta en høyere grad. Dette er
ikke altfor vanskelig fordi det språket de snakker der, er det samme
som jeg var lærer i på videregående skole, da jeg var i mitt
hjemland. Det er to typer mennesker som blir ansett som vellykkede i
USA, det er de som har fullført en høy utdannelse eller de som har
en høy inntekt på grunn av jobben de utfører. I følge disse vennene,
siden jeg ikke har penger som jeg kan bruke til å starte en
forretning eller investere i en forretning, men jeg tilhører
akademikerne, som også kan være en grunn til å risikere livet på
åpent hav. I følge dem er vestlige veldig påvirket av vitenskap og
teknologi. Denne påvirkningen er nesten som å forgude trollmenn
eller hekser i primitive samfunn. Derfor er det bare stemmene til
akademikere som teller i dagens samfunn!
Mitt liv er i realiteten
som et ekko av det de sier. Jeg har ikke kunnet gå tilbake til å bli
lærer,
jeg lever heller ikke av
sosialstønad. Selvfølgelig, siden jeg er eldre, har jeg ikke fast
jobb. Jeg har ikke råd til å kjøpe egen leilighet fordi jeg bare
vikarierer og har for mye i studielån fra nesten tre års studium.
Vietnamesere har et ordtak: å leve i fred
Og
være fornøyd med ens jobb " . Uten et fast sted å bo, er det
vanskelig å konsentrere seg om noe. De nye lovene for utleie gjør
det lettere for de som har sikker økonomi. Men lovene gjør det
vanskeligere for de som har lav inntekt. Pensjonsreglementet
forandrer seg nå uten at man vet hvilke fordeler det bringer de
eldre. Samfunnet har forandret seg mye på 30 år. I fortiden var
befolkningen ikke mindre enn nåtiden og nåværende nasjonal brutto
inntekt er mer enn før men virker det som om livet før var bedre.
Hus og veier var rene og ordentlige. Offentlig transport var
tilpasset folket. Før trengte man ikke å låse sykkelen, som kunne
bli overlatt i byen flere dager uten at den ble stjålet. Nå, selv om
sykkelen er låst, etter noen timer er det bare et hjul eller
sykkelrammen igjen. Biler som har alarm blir borte, ikke for å
snakke om sykler. Man hørte sjeldnere om tyveri før. Nå er det hver
dag gjennomsnittlig ti saker der eldre har blitt frastjålet
lommebøker og vesker. På noen buss og t-banestrekninger står det
skult om at passasjerene må passe på verdisakene sine. Før var det
lite vinningskriminalitet. Nå er det folk som har høy posisjon i
samfunnet som svindler og driver med underslag for mange hundre
millioner, ikke for å nevne bankran.
Livssituasjonen i
Vietnam er bedre enn før økonomisk sett, men går fremdeles i
sirkler. Selv om landet er et av de fattigste i verden bærer byene
preg av luksus. Dette luksuslivet er ikke produktet av at Vietnam er
verdens nest største eksportør av ris. Industrien er ikke utviklet
så mye fordi utenlandske firmaer ikke har investert mye i landet,
ikke for å snakke om innenlandske firmaer. Dette fordi lovverket
ikke er godt nok utviklet. De som lager lovene er av og til
avhengige av andre, som ikke har høyere posisjon i hierarkiet, men
som har en viktig posisjon i det kommunistiske partiet.
Ettpartisystemet har gjort korrupsjonen verre i samfunnet. Norge har
et flerpartisystem selv om befolkningen her ikke engang er så stor
som den i Saigon. Selv om Norge har pressefrihet er det mange
bedragerier og korrupsjonssaker, som svindler hundre
millionvis av kroner fra folket. Ikke for å snakke om et land
med et parti, kommunistpartiet og folket har ikke grunnlegende
menneskerettigheter. Alt som staten viser frem til omverden er bare
formaliteter. Regimet har produsert et styresmaskineri med mange
småkeisere; fra de store keiserne sentralt til de små keiserne som
er lokale politimenn. Disse menneskene lever som parasitter av
bestikkelser, så de har mye penger. De har fått disse rettighetene
gjennom makt de har fått ved å bli medlemmer av kommunistparitet.
Lenge har folket hatt et ordtak som sier:" Tyver på høylys dag er
keiserne ". Lederne i samfunnet blir til en hemmelig mafia.
Det
er få jobber fordi industrien utvikler seg sakte. Men hvis du vil ha
en god jobb må du bestikke noen. Det er ikke rettferdighet i
samfunnet. Ungdommer ser ikke noen framtid. Narkomani og beruselse
blir utbredt. Hver kveld, er det fullt av folk både på store og små
barer. Når de er fulle ….er det ikke noe å bry seg om. Ikke
heller om framtid!! …Hvem er de som også drikker og spiser, men
som virkelig har et liv i luksus ? Det er "keiserne" og deres avkom.
De oppmuntrer og aksepterer et forbrukssamfunn, og etterligner livet
i USA. Ved å realisere et slikt samfunn trenger de ikke å bekymre
seg om protester fra folket om politikk. Et menneske som bare løper
etter penger og ikke bryr seg om noen andre enn seg selv. At andre
taper for at du vinner er en selvfølge i et konkurransesamfunn, den
sterkeste overlever og de svake dør. Noen individer eller grupper
mennesker lar de store og små keiserne ta deres penger for å beholde
jobben eller rettighetene sine. Disse menneskene har et godt forhold
til de lokale og sentrale styresmaktene fordi de mottar penger som
familie og slektninger i utlandet sender dem. Derfor, når staten
ikke lengre får bistand fra vestlige land, ikke får inn penger som
vietnamesere i utlandet sender, vil du ikke se realiteten av hvor
dårlig det går med økonomien.
Det vietnamesiske
samfunnet er i dag et kunstig og oppblåst samfunn. Presset mot
forbruk i samfunnet er en kunstig tvang fordi økonomien generelt, og
spesielt industrien ikke er tilstrekkelig utviklet. Tidligere ville
de bygge paradis med den kommunistiske ideologien, etter modell fra
Sovjetunionen og Kina, selv om det vietnamesiske samfunnet ikke har
infrastruktur eller de samme betingelsene, Nå har de gått tilbake
til den samme drømmen, men metoden er kapitalisme, med et påtvunget
forbrukssamfunn. Denne ideologien der man bare tenker på seg selv,
hvis den slippes løs uten å bli balansert av andre begrensninger i
samfunnet, vil få alvorlige konsekvenser, på samme måte som den
kommunistiske ideologien. Når staten ikke kan balansere med
institusjoner i samfunnet, men påtvinger eller skaper kunstige
institusjoner for å vedlikeholde en monopolistisk kult for det
regjerende parti, kan de få til noen fremskritt, men de er ikke
reelle og går likevel rundt i en lukket ring.
Jeg kom til Norge fordi
jeg trodde at det var frihetens land. Da jeg valgte å emigrere til
Norge, visste jeg ikke at det var et land med et slikt høyt
velstandsnivå. Og i tiden jeg har bodd her har jeg aldri vært en
reell klient på sosialkontoret. Jeg har levd uavhengig, med de
jobbene jeg har hatt. Jeg har møtt de samme vanskelighetene som
andre arbeidere i landet. Har jeg en mulighet å slippe unna
vanskelighetene? Eller uttrykt slik mine provoserende venner ville
sagt: har jeg noen måte å skape en ny framtid som var bedre enn min
tid i Vietnam?
Min
vei fremover er ikke til USA. Vi har en gang reagert på livsstilen
der. Den gangen kunne vi ikke kjempe så hardt imot fordi vi måtte
prioritere våre plikter som innbyggere, å delta i krigen som
soldater.
Min vei tilbake er ikke
til Vietnam. Der begynner en ny kamp. En kamp mot et nytt beist som
har oppstått ved en forunderlig forening av kapitalisme som blir
anvendt på økonomien og politisk vet man ikke lengre om det er
kommunistisk eller hva det er. Dette udyret ødelegger
restene av de gode samfunnsforholdene i Sør-Vietnam, etter den
først ødeleggelsen som ble skapt av den kommunistiske
ideologien. Forbruket i Vietnam i dag er ikke noe mindre enn i USA.
Det vietnamesiske samfunnet ligger bare etter USA i det at de later
som de fremdeles verdsetter frihet og demokrati, eller rettere sagt
ikke har nådd helt opp.
Jeg vil bli i dette
landet, som før, selv om det var krig, dro ikke folket fra landet.
Før ville jeg ha livet til en som hadde de grunnleggende
menneskerettighetene, å leve i frihet uten å begrense andres
rettigheter, få mulighet til å delta og bidra i fellesskapet og
hjelpe andre etter in evne, Hvis jeg i dag lever et sted hvor disse
kravene er oppfylt, hvorfor må jeg anstrenge meg for å lete etter et
annet sted å leve?
Jeg pleie å erte mine
venner i USA, at selv om de har bodd lenge i USA, så klarer de ikke
å uttale landet mitt riktig. Den riktige måten er NO WAVE, som betyr
ingen bølge. Her er det ingen kjempebølge som slår i stykker båter
eller ødelegger hus. Hvis det er noen bølgetopper, som har blitt til
på grunn av store steiner som hindrer dem, men disse stimulerer bare
tilstedeværelsen til laksen: en fisk som svømmer mot strømmen i
elver eller fosser, som leter tilbake til sine røtter, stedet hvor
de ble født. Det er ingen perfekte samfunn. Hvis det er bra ting i
Norge, som hjelper oss å utvikle oss, mangler også Norge ting som
var bra i mitt hjemland. Hvis vi engang flytter tilbake til landet
vi kom fra, er det bare naturlig slik som det er naturlig for
laksen. Det er som forfedrene våre sa: " Tre har røtter, vann har en
kilde og mennesker har forfedre " Så det å komme tilbake til røttene
ikke har noe med fortjeneste eller tap å gjøre. Før, mens vi vokste
opp, tok vi opp våpen for å kjempe uten tanke på fortjeneste. Da vi
lette etter en måte å flykte over havet .. eller til fots, tenkte vi
ikke på fortjeneste eller kunne beregne noen fortjeneste. Uansett
hvilket samfunn, er det det samme. Det er mennesker som glemmer seg
selv for å gjøre det som er best for samfunnet. Vi bor i dette
landet, og hvis vi ikke har bidratt med noe stort, har vi i det
minste med oss historiske erfaringer fra hjemlandet. Og dette landet
kan hjelpe oss å formidle denne sannheten.
Jeg tror på dette. For 9
år siden, arrangerte den statlige fjernsynskanalen, NRK, en
skrivekonkurranse der en skulle skrive en personlig dagbok.. Alle
kunne delta, uansett alder, yrke og samfunnsstatus. Du trengte ikke
å være akademiker. Du trenger ikke noen universitetsgrad. Det er
informasjonsdeling for massene. I Norge, er alle også opptatt av
massemedia. Ved å gjøre det på denne måten, å dele personlige
erfaringer til individer, til miljøer i samfunnet, kan alle i dette
flerkulturelle samfunnet, som Norge har blitt, kan landet utvikles
på en åpen måte. Man vil øke forståelsen mellom menneskene. Empatien
vil bli dypere. Folk kan leve sammen i fred og fordragelighet. Glede
kan ikke bare kjøpes for penger
De som kommer fra samme
land som meg, som har kommet hit for å bo, har minst en gang følt at
de har mistet retten til å bestemme i landet sitt, å ha blitt
frarøvet frihet og grunnleggende menneskerettigheter. Men i det nye
livet, er det stabilt og selvstendig, og fordi de er opptatt og
travel har de ikke tid til å snakke om det de har mistet. Og de
innfødte venner har det også travelt og har ikke tid til å finne mer
ut om de nye landsmennene som har kommet for å bli i landet. Hvis
jeg er heldig nok til å bruke min tid i en travel hverdag for å
skape en bro som binder sammen forståelsen mellom to folk; hvis det
lykkes, er det takket være den indirekte hjelpen jeg beskrev over.
Med hjelp fra dette vil jeg stille og forsiktig fortsette mitt
arbeid. Hvis det er noen mangler, vil sikkert ingen klandre meg. Som
den gamle mannen på Tøyen som hver dag går hjemmefra og lukker
søppel fra gaten for å gjøre byen ren, som jeg fortalte om
tidligere. Hvem kan klandre noen som frivillig velger å gjøre noe
som gavner alle, men som av en eller annen grunn ikke gjør denne
jobben så bra. Når i fremtiden skal jeg gjøre noe slikt? Denne
framtiden ligger i overførselen av arbeidet til de generasjoner som
kommer. Disse menneskene, når de vet at deres forfedre har valgt et
liv i eksil for frihet, skal prøve å tjene samfunnet bedre; et
samfunn som har åpnet armene for flyktningne fra Vietnam.
Denne våpen er
kjærlighet
Kjærligheten tar vi med
alle steder
Vietnam er full av
stemmer som bygger opp nestekjærlighet.
Når vi har oppnådd dette
vil flyktningene fra Vietnam i dag, og deres barn, bevise noe veldig
spesielt at: " Flyktningene tar ikke med seg bare en bagasje til
deres nye land "
Đ.N.V.C
-----------------------------------------------------------------------------------------------
Chuyện
cổ tích: Thanh gươm trừ gian, diệt ác
Gia
đ́nh Văn Lang lánh nạn bạo quyền, đến xứ Tây vực đă lâu. Chim trời
cá biển, cây trái thực phẩm, tuy thiên nhiên như đă ban sẵn cho loài
người, nhưng hai vợ chồng phải ra công sức làm việc mới thụ hưởng
được. Hạnh phúc cho họ khi đứa con đầu chào đời. Niềm vui sướng của
cặp vợ chồng đó tăng theo thời gian, khi nhận ra đứa con của ḿnh đă
đi đúng con đường mà hai vợ chồng đă có cùng ước nguyện trong ḷng.
Một ngày nọ, khi vui chơi với những đứa trẻ cùng trang lứa, giông tố
sấm sét xảy ra chớp nhoáng, như bàn tay ác quỷ phủ chụp lên bọn nhỏ.
Vừa kịp chạy đến gần nơi trú ẩn, sau một tiếng sét lớn, thằng bé
ngất đi, không hay biết ǵ cả. Trước đó, h́nh ảnh vui chơi c̣n thấp
thoáng trong đầu. Nó cũng mơ màng như nghe tiếng cha nó nhắc nhở
nhiều lần rằng, con chơi tṛ ”Cờ lau tập trận” với các bạn th́ cũng
được, nhưng đừng đi quá sâu trong rừng.
Cha nó, thời trai trẻ, v́ vận nước, cũng một thời trong quân ngũ.
Nhưng, không chỉ v́ thế, mà có thể những truyện, tích mà nó nghe mẹ
nó kể lại đă ảnh hưởng đến thú giỡn chơi của nó. Tội nghiệp cho bà
ta ! Ngày c̣n ở quê nhà, theo lời bà kể lại, cuộc sống vô cùng khổ
cực. Xứ xa tít nơi chân trời kia, cũng đầy đủ những thứ thiên nhiên
trời ban sẵn như ở nơi này, nhưng bọn cầm quyền, thi hành đường lối
bọn ma vương nào đó, đă làm cho xứ sở của họ đắm ch́m trong tăm tối.
Bây giờ, công việc cũng đầu tắt mặt tối, nhưng tối nào, khi dỗ giấc
ngủ ban đêm, lần nào bà cũng chịu khó đọc hay kể cho nó lịch sử nước
nhà. Những chuyện đó xa như chuyện cổ tích …nhưng lại rất gần với
nó, v́ lịch sử ở đâu lại không đầy những chuyện thiện, ác đối đầu.
Trong mê man chập chờn, nó thấy nó đang ngồi trên lưng trâu, cầm một
bó cỏ dài như đuôi ngựa, tựa như cờ của một viên thống soái nào đó,
ra lệnh cho mấy đứa nhỏ cùng phe, tiến về phía trước. Kể cũng lạ !
Tuy trong cơn mê man, nó như nhủ trong đầu rằng, bây giờ nó thật sự
trở thành Đinh bộ Lĩnh, trong lịch sử Việt Nam.
Rồi chính nó bật cười, khi thấy ba nó chê rằng nó c̣n nhỏ, không thể
làm những chuyện của người lớn, nó trả lời rằng: ”Cha không biết con
là một Trần quốc Toản khi xưa hay sao ?”. Sợ cha nó không hiểu rơ,
nó thêm: ”Ngày xưa Trần quốc Toản v́ c̣n nhỏ nên không được cầm quân
ra trận. Để tỏ rơ khí tiết của ḿnh, Trần quốc Toản đă bóp nát trái
cam …. Con ngày nay, tuy chưa lớn bằng ông ta, nhưng con cũng làm
được việc khác, c̣n hơn việc bóp nát trái cam !...”. Lần này đến
phiên ba của cậu bé bật cười: ”Con có vác được súng B.40 cũng chỉ
bắn hạ được một tăng T.54 mà thôi…”. Ai ngờ cậu bé trả lời ngay:
”Một T.54 cũng là một chiến công, nhưng một trận băo Tsunami chắc
c̣n ghê gớm hơn nhiều”. ”Con làm như con là thần sấm sét vậy !”.
”Cha biết thời buổi này người ta có thể nói lên điều người ta muốn
cho mọi người trên thế giới biết bằng Internet mà”. Ông biết con ông
tài giỏi hơn ông ta thuở ông c̣n bằng tuổi của nó. Thế giới tiến bộ
về khoa học, kỹ thuật đă làm ranh giới các quốc gia thu hẹp lại; đă
làm sự trao đổi hiểu biết của loài người nhanh chóng hơn ngày xưa
rất nhiều. Ông không muốn tranh luận.
Một ngày nọ, một vị tráng niên đến gần đứa bé, nói rằng: ”Ta đă nghe
cha của con nói rằng con rất muốn làm một điều ǵ có ích lợi cho đại
cuộc. Nay, ta trao cho ngươi thanh gươm này để thực hiện những điều
con mong muốn lâu nay”. Đây là thanh gươm trừ gian, diệt ác. Thấy
đứa bé vui vẻ nhận lời và cầm ngay thanh gươm, vị tráng niên từ biệt
ra đi, không nói nhiều lời.
Với ḷng hăng say phục vụ cho điều thiện, cậu bé tập luyện ngày đêm
với thanh gươm đó. Nhưng, sự tập luyện không đem đến hiệu quả như
cậu mong muốn. Sau nhiều đêm buồn bực và lâm râm khấn nguyện, cậu đă
gặp lại vị tráng niên kia. Sau khi nghe giải thích của cậu bé, ông
ta hỏi rằng, khi luyện tập cậu bé có bị phân trí vào việc ǵ hay
không. Thành thật trả lời, cậu bé nói, v́ nơi làng đang ở có một
ngôi chùa hoang phế, người thầy trụ tŕ bị bọn gian đem nhốt nên cậu
ta muốn giải thoát vị sư già này. Nhưng, xa hơn nữa, làng bên kia,
người cha đỡ đầu, vừa là linh mục cũng c̣n đang bị bọn gian tà giam
giữ ngay trong nhà thờ của ông ta. Cậu bé phân vân không biết nên ưu
tiên làm việc nào trước. Nghe xong, vị tráng niên nói rằng, việc ưu
tiên chính do chàng thiếu niên quyết định. Nhưng, trong khi phát
nguyện tâm ư làm việc này, cậu nên nhớ đừng v́ phân biệt tôn giáo
này tôn giáo khác mà làm cho việc tốt đó bị ảnh hưởng.
Lời khuyên có hiệu quả ngay trong lần tập kế đó. Nhưng, hiệu quả vẫn
chưa vừa ḷng chàng thiếu niên. Chính vị tráng niên này lại lần nữa
xuất hiện với lời khuyên khác. Làm việc thiện đừng nên để ảnh hưởng
phe, nhóm tác động. Dù cậu bé chọn một chính đảng nào làm phương
tiện để gia tăng hiệu quả việc tiêu diệt băng đảng gian ác kia, cậu
hay những người làm việc cho tập thể, cho đất nước, phải luôn nhớ
ghi trong ḷng một điều là, quyền lợi dân tộc phải được đặt trên mọi
thứ khác. Sau hai lần được khuyên giải, việc tập luyện đă tiến hơn
xưa rất nhiều. Tuy nhiên, ông cha cậu thiếu niên, sau một lần dự
kiến việc tập luyện của người con, vẫn thấy c̣n một điều ǵ chưa ổn
thỏa. Ông ta cho rằng chiều dài và trọng lượng thanh kiếm đă hơi quá
sức của con ông. Thanh kiếm dài đến 84,06 cm.
Vị tráng niên sau cùng phải giải thích cho cả hai cha con được rơ
mọi sự việc. Để tạo được thanh kiếm này, không phải một sớm một
chiều mà ông ta đă hoàn thành việc đó. Hơn nữa, có thanh kiếm chưa
đủ. Cậu thiếu niên và những người cùng chí hướng phải làm được thêm
2 việc sau, trong bao nhiêu vấn nạn khác phải giải quyết. Phải làm
sao cho mọi người trong ṿng kềm tỏa của bọn gian ác đều biết rơ
việc làm của bọn này là, chúng chỉ làm theo đường hướng của chúng;
con đường theo đuổi việc phục vụ cho tà thuyết nước ngoài. Nhưng
chúng rất giỏi tṛ tuyên truyền xảo trá. Chúng nó giỏi tṛ nói trắng
thành đen, nói sai thành trúng. Chúng đă bôi đen lịch sử của đất
nước. Chúng lại rất gian giảo trong việc kết nạp bọn tay sai, bôi
đen cả những người có thành tâm, thiện ư với công việc chung của dân
tộc. Nhưng, việc đúc kiếm của ông đă xong, việc c̣n lại ông mong sự
giúp sức của mọi người. Khi được hỏi về quá tŕnh rèn đúc thanh kiếm
đó, ông ta kể sơ lược như sau.
Ngày
23.03.75, khi bọn gian đang từng bước thâu tóm những phần giang sơn,
ông đă xin bề trên cho ông ra ngay tuyến đầu, nơi đang có nguy cơ bị
địch quân dùng súng đạn bắn giết không thương tiếc bất cứ một dấu
hiệu phản kháng nào của người dân tại vùng đất đó. V́ phản kháng với
sự gian trá của bọn thắng trận, ông đă bị giam tù từ năm 1983 đế năm
1992 tại tỉnh Hà Nam. Ngày 19.10.2001, Ông lại bị giam vào trại Ba
Sao, Nam Hà nơi có nhà tù nổi tiếng tàn ác với tù nhân của bọn gian
trá. Cuối năm 2005, ông lại phát động cuộc chiến đấu cho quyền tín
hữu và quyền công dân. Nhưng, bọn gian trá lại quy cho ông tội làm
chính trị v́ vào ngày 08.04.06, ông đă cho ra tuyên ngôn Dân chủ, tự
do cho Việt Nam.
Tỉnh giấc, nó thấy ba mẹ đang ngồi bên cạnh. Những người hàng xóm
h́nh như đang lao xao nói chuyện ǵ về nó ở pḥng khách bên ngoài.
Nó lắng tai nghe những ǵ họ bàn tán về việc nó thất lạc trong rừng.
Có người cho rằng phải hết sức nghiêm khắc với con cái. Người khác
cho rằng nên tập tính dân chủ từ lúc c̣n nhỏ, cho trẻ em được quyền
nói và làm những ǵ chúng nó thích. Nhưng mọi người có vẻ yên lặng,
chăm chú nghe câu chuyện của một lăo niên. Sự tập trung đến nỗi nằm
trong pḥng nó cũng nghe được tiếng kể chuyện của ông già đó. Câu
chuyện nói về việc hoàng đế của Pháp khi xưa, Napoleon, tiếp xúc với
các vị mệnh phụ phu nhân của nước Pháp thời đó. Ông hỏi rằng, khi
sinh con, các bà nghĩ ḿnh phải dạy con của họ như thế nào. Một bà
trả lời là dạy con từ thuở lên ba. Bà khác, khi thấy hoàng đế không
đồng ư, cho rằng phải dạy từ khi chúng con ở trong bụng mẹ. Mọi
người, khi thấy tất cả các câu trả lời đều không có sự đồng ư của
Napoleon, đă hỏi ngược lại về ư kiến của ông ta. Câu trả lời của ông
ta là hai mươi năm trước khi sinh ra nó. Mọi người trong pḥng đợi
bên ngoài đều trầm trồ khen ngợi về câu trả lời hết sức ư nghĩa đó.
Sau khi hồi phục sức khoẻ, thiếu niên hỏi ngay về thanh gươm 84,06
cm mà cậu đă thấy trong giấc mơ.
Người cha chậm răi trả lời:
- Có lẽ khi nhận được tin về tuyên ngôn dân chủ, tự do
cho Việt Nam ngày 08.04.2006 trên Internet, lúc cha đọc cho mẹ con
nghe, vô t́nh con đă cùng nghe được.
- "Nhưng, t́nh trạng của linh mục đó giờ đây ra sao” thiếu
niên nóng ḷng hỏi.
- Ngày nào quê hương c̣n là một nhà tù lớn, việc linh
mục bị giam trong nhà tù nhỏ không c̣n là h́nh ảnh đơn giản của một
cá nhân chống lại cái sai lầm của chế độ mà đó là thân phận đọa đày
của cả dân tộc.
- Như vậy những người làm điều tốt, điều thiện sẽ không
c̣n hy vọng ǵ ?.
- Con đừng lo về một sự bi quan như thế. Lịch sử xă hội
loài người, của mỗi quốc gia, từ bao lâu nay đă chứng minh chắc chắn
là: thiện sẽ thắng ác, điều tốt đẹp sẽ thắng sự gian tà. Con hăy
nghe nhận xét của một linh mục, bạn của linh mục đă làm ra tuyên
ngôn 8406, viết về việc làm đó như sau: ”Anh đă trải qua những năm
tháng đẹp đẽ nhất, trẻ trung nhất, năng động nhất của đời linh mục,
không phải trong một xứ đạo yên b́nh, tha hồ tổ chức xây dựng, nhưng
là trong ngục tù, với thân xác bất động, sức khoẻ hao ṃn và tài
năng bỏ phế. Nhưng đó chẳng phải là thân phận của cây nến tàn lụi,
nhúm men trầm lắng, hạt muối ḥa tan để tỏa sáng, làm dậy và ướp mặn
sao ? Đó chẳng phải là thân phận của những chứng nhân anh hùng, tù
giam tử đạo, để trở thành hạt giống mọc lên bao Kitô hữu sao ?”. Con
nên nhớ rằng, tuy người linh mục này bị ”bịt miệng” khi bị đưa ra
ṭa xử, nhưng những h́nh ảnh trước toà, những lời nói trước khi bị
bịt miệng đă âm vang và mỗi ngày càng âm vang mănh liệt. Tiếng nói
đó đă đi vào tâm can của đồng bào Việt Nam hải ngoại, bất kể lương
giáo, vào tâm can của những chiến sĩ đang tranh đấu cho nhân quyền
khắp nơi trên thế giới. Tiếng nói đó sẽ thổi bùng ngọn lửa dân chủ,
gieo niềm hy vọng cho những ai mong chờ một Việt Nam có đầy đủ tự do
tôn giáo và tự do nhân quyền.
Oslo 28.05.2007
00:56
Đặng quang Chính
---------------------------------------------------------------------
ĐẠO B HAI
Đặng quang Chính
Hồi c̣n nhỏ tôi
không biết thật rơ ràng cha tôi theo đạo ǵ. Bà ngoạI, khi đă già,
ban đầu cất am, sau nhờ Phật tử ủng hộ, xây được cái chùa và ở tu
luôn trong đó. Mẹ tôi thường hay đi chùa, dù là chùa ở những nơi
khác, gần nơi gia đ́nh tôi sinh sống.
Tôi nhớ là tôi và đứa em
trai kế là hai đứa trẻ nghịch ngợm nhất trong xóm. Không những thế,
chúng tôi lại hay phá phách, la hét, khóc ầm ĩ những khi cha tôi đi
công tác xa nhà. Mẹ tôi, theo ư bà, có lần nhân lúc bà cúng giỗ ǵ
đó, biểu chúng tôi phải chui qua bàn thờ Phật. Không biết có phảI do
những lần tương tự như thế mà sau này anh em tôi đă đổi tính nết.
C̣n cha tôi, mỗi khi nghe bạn thân nói giỡn, chỉ cười cười. Câu nói
giỡn nghe lạ tai v́ thế khiến tôi nhớ măi đến khi trưởng thành:” Ba
tụi bây theo đạo B’hai” Trẻ con có tính ṭ ṃ nên tôi nhớ đă hỏI mẹ
tôi về câu nói đó. Có lẽ do tôi hỏi hoài nên có lúc mẹ tôi nói như
cho qua chuyện: “Mày muốn sống với má hai Không ? …Hôm nào mẹ dẫn
con tới đó”. Nói thế, nhưng cho đến lúc tôi đă học cấp 3, chưa khi
nào mẹ tôi thực hiện điều này.
Vào cỡ độ tuổi tôi lúc
đó, các bạn cùng lớp ít người có thể trạng như tôi. Tôi có vẻ to con
– không biết lúc đó đă có dáng vẻ thanh niên chưa- nhưng chắc mẹ tôi
e rằng dù bà đă nóng mà thằng “thanh niên nhóc t́” này lạI lừ đừ th́
chẳng nên cơm cháo ǵ. Mẹ tôi chỉ dẫn thằng em kế, đi thăm bà hai.
Nó nhỏ con nhưng mặt trông có vẻ “ngầu” lắm ! PhảI nói là đi “săn”
mới đúng. Dễ hiểu nhất đốI với độ tuổi tôi, khi đang học lớp 8, là
hai chữ “đánh ghen”. Đúng thế ! ..không biết cha tôi hồi ấy, so với
đồng nghiệp, có đẹp trộI hơn họ không mà nhiều cô lúc bấy giờ cứ
chịu để cha tôi tán tỉnh. Chắc đẹp trai có tầm cỡ nên có lúc tôi
nghe má tôi nói là “Con đó tính rù quyến cha mày”.
Lúc học cấp 2, tôi cũng
nghĩ điều me tôi nói có thể đúng. Trông cha tôi cũng có vẻ rất
nghiêm trang, đàng hoàng. Nhưng, chưa chắc cha tôi hiền, đốI với con
cái ..và cả với vấn đề trai, gái. Chúng tôi đâu dám quậy phá khi có
ông ta ở nhà. Nói thế, có nhiều lần chúng tôi quá lỳ, nói hoài không
nghe, nên ông nổI giận đánh chúng tôi tơi bời; đến nỗi mẹ tôi phảI
can ngăn, dù bà cũng muốn chúng tôi bị trừng phạt một lần thật đích
đáng. Chắc chắn là vớI lối dạy con kiểu đó, ở các nước Tây phương
hiện nay, sẽ có chung cuộc là cơ quan bảo vệ trẻ em sẽ truất quyền
nuôi con của ông ngay tức khắc.
Sau cấp 2, tôi không
nghĩ câu nói mẹ tôi là đúng. Cha tôi không hiền nhưng cha tôi cũng
không dễ bị rù quyến như ư của mẹ tôi muốn nói. Qua những lần cha
tôi nói chuyện với những người bạn thân, tôi thấy h́nh như họ rất
phục cha tôi. Từ
hồi c̣n ở ngoài Bắc,
trong chiến tranh Việt Pháp, chưa có đồn nào dưới sự chỉ
huy của cha tôi, bị mất
vào tay giặc. Có những đồn kiên cố hơn, được trấn đóng vớI quân số
nhiều hơn, với cấp chỉ huy có cấp bậc cao hơn nhưng vẫn bị giặc
chiếm được. Lư do phần
nhiều là v́ các vị chỉ huy này bị “Mỹ nhân kế”. Những sĩ quan cao
cấp đó, có thể giỏi về chiến thuật nhưng rất yếu về t́nh cảm, thấy
gái đẹp là mắt nhắm tít. Ông nào thấy gái là như mèo thấy mỡ, không
thể không cắn một miếng. Cắn rồI, ra sao th́ ra. Kết quả, các ông ấy
toi mạng đă đành mà binh sĩ dưới quyền cũng phải chết theo mới tội.
Cha tôi không dễ bị rù quyến, nhưng cũng đă bị bắt quả tang đôi lần,
đă hẹn ḥ đâu đó với ai; nhưng khi về đến nhà, lúc mẹ tôi “quậy” ông
tơi bời, ông cũng “đáp lễ” lại một cách đúng mức. Nếu như t́nh trạng
vợ chồng ngày nay, chắc ông cũng bị truất quyền làm chồng từ lâu
rồi. Diễn tả về cha tôi nghe ra ông ấy cũng dữ dằn lắm. Nhưng sự
thật ra sao, có lẽ đứa em gái út của tôi có kết luận đúng với thực
tế nhất:
- Nếu cha không thương
mẹ ..sao mà có chúng con, đến những 8 đứa !
Ông có thương mẹ tôi
không, chúng tôi không rơ, nhưng hai đứa chúng tôi được ông chăm sóc
hết mức. Chúng tôi có cảm tưởng h́nh như ông dành quyền này cho
riêng ông, để mẹ tôi có thời gian nghĩ ngơi. Nhất là vào cuối tuần.
Hai đứa, lúc đó chưa có thêm đứa em nào, thường được cha tôi dẫn đi
phố. Sau khi xem phim, chúng tôi được đưa đi ăn phở ḅ, hoặc ăn cơm
tại nhà hàng Tây. Chúng tôi không nhớ quyền lợi đó giảm đi lúc nào,
hoặc mất hẳn vào lúc nào, khi chúng tôi có thêm sáu đứa em nữa.
Nhưng đó là giai đoạn có thể nói là thích thú nhất trong cuộc đờI
niên thiếu.
Như nói trên, chúng tôi
đă chui qua bàn thờ Phật đôi lần, trong khi bà ngoại tôi làm lễ.
Tính t́nh chúng tôi đă đổi khác theo thời gian, ít nghịch ngợm khi
đă lớn hơn. Đó là một lư do. Lư do khác có thể là do t́nh thương mà
chúng tôi đă nhận được từ cha mẹ của chúng tôi.
Ba mẹ tôi, có thể không
tương hợp về tính t́nh, nhưng mỗi người lạI có những tính cách cân
xứng một cách đặc biệt. Mẹ tôi hiền ..nhưng tưởng có thể đốt nhà khi
cơn ghen bốc lên. Cơn giận bốc lên chớp nháy …nhưng có lẽ, trước
đây, mẹ tôi cũng thường chui qua bàn thờ Phật khi bà cố làm lễ, nên
dù giận ngất trời mẹ tôi cũng dằn xuống được. Cha tôi tính khí nóng
nảy cũng chẳng kém. Nhưng khi dằn được rồi …trông cha tôi như ông
bụt – tuy tôi chưa thật sự thấy nhân vật này trong thực tế-. Tôi có
cảm tưởng cái tâm tánh đó có được là do sự phối hợp của một cái ǵ
c̣n rớt lại của đạo Khổng, cộng thêm vào đó là khung cảnh thiên
nhiên đă bao quanh ông từ thời niên thiếu. Cha tôi có lúc kể rằng,
từ thuở xưa khá lâu, ǵong giơi có liên quan ǵ đó đến Mạc đăng
Dung. Sau cuộc thăng trầm, v́ sự thất thế của họ Mạc, nên ǵong họ
chúng tôi đă trôi giạt đến gần biên giới Trung quốc. Để tránh sự
giết hại theo lối tru di tam tộc, ông bà xa xưa trong ǵong họ đă
phải đổi họ, thay tên. Rồi lúc cha tôi trưởng thành, được đi học bên
Pháp. Con người chân chất, thật thà biết học thêm những cái hay của
người thành phố. Ông bị gái Pháp “dụ dỗ”, cùng sống đời vợ chồng,
nhưng không theo đạo Công giáo. Về lại Việt Nam, khi lập gia đ́nh
với mẹ tôi, cũng không có thay đổi ǵ hơn về mặt tín ngưỡng. Thương
mẹ tôi th́ thương nhưng không v́ thế mà ch́u ḷng bà mẹ vợ - bà
ngoại theo đạo Phật-. Không cấm vợ con đi chùa, nhưng nếu cha tôi
được hỏi rằng, có tin tưởng ǵ về các thày tu ở chùa không, có lẽ
câu trả lời của ông ta cũng là không. Sự thật cũng là bằng chứng,
giúp ông ta không cần giải thích dài gịng. Những năm miền Nam bị
ch́m ngập trong chiến tranh, nhiều nhà chùa hay các ông sư đă là
ngườI nằm vùng hay ít ra, bị những người Cộng sản lợi dụng.
Cha theo
đạo B’hai hả ? Tôi hỏI cha tôi một lần nào đó.
-
Bà hai của các con hiện giờ ở ngoài Bắc.
Tên của tôn
giáo này, đọc theo lối tiếng Việt, có âm như thế. Nghĩa của hai chữ
đó, theo
cách nói giỡn là người theo một tôn giáo có quyền được phép có hai
vợ. Cha tôi không dấu mẹ tôi và chúng tôi. Khi c̣n sống với ông bà
nội, cha tôi đă có vợ, do ông bà ép lấy, theo phong tục ngày xưa,
tảo hôn. Phong tục đó kể ra cũng khắc nghiệt. Hễ cha mẹ đă đặt định
cho con cái lấy người nào rồi, đứa con không thể từ chối.
-
Nhưng con nghe mẹ nói là bây giờ cha cũng có bà hai …
-
Người ta đối xử vui vẻ với cha, cha cũng vui vẻ với họ …chứ đâu có
t́nh ư ǵ.
Thật không
hiểu nổi kiểu giải thích này. Lên cấp 3 rồi tôi mới vỡ lẽ. Tôi nghĩ
chẳng có anh thanh niên nào lại không có máu “dê”; gặp gái là phải
chọc ghẹo, cách này hay cách khác. Lúc đó tôi cũng đă được học triết
học chút chút rồi nên càng thắm hiểu cách trả lời của cha tôi trước
đây. Thuyết phân tâm học của Freud là một bước tiến lớn trong cách
giải thích sự h́nh thành nhân cách của con người. Libido, bàn năng
tính dục của loài người, có ảnh hưởng lớn trong sự h́nh thành nhân
cách ấy. Nhưng khi bản năng này được hướng đến một hoạt động tinh
thần một cách tích cực, nó sẽ thăng hoa khiến cho con người có những
đóng góp lớn cho tập thể.
-
Nhưng mẹ cũng vui vẻ với ba vậy ?
-
Th́ mẹ cũng vui vẻ …nhưng mỗi vui vẻ một khác.
Lời giải
thích này cũng làm tôi khó hiểu, khi tôi c̣n nhỏ. Thực tế những năm
sau đó đă khiến tôi dần dần hiểu ra. Tuy là một cấp chỉ huy quân sự,
tuy nóng tính nhưng đối xử với mọi người lính thuộc cấp bằng t́nh
cảm chân thật, thương mến mọi người như anh em trong nhà, nên cha
tôi được họ dành cho nhiều t́nh cảm.
Đối với
những người có cuộc sống không biết sống chết ngày nào, thứ t́nh cảm
đó đối với họ cũng là đủ, nên không ai trong số đó quan tâm đến việc
cha tôi là người theo đạo Phật hay Công giáo.
Ông cố hay
ông nội tôi có lẽ cũng thế. Không mặc vào người một cái áo tôn giáo
nào cả, nhưng các đối xử có t́nh người khiến tá điền, không một ai
thù, ghét. Nạn đói năm Ất dậu khiến người chết như rơm rạ. Trong
hoàn cảnh đó, chính ông chúng tôi đă tiếp tế cho những người đói ăn
một cách đàng hoàng. Bởi thế, khi cái gọi là Cách mạng 45 thành công,
lúc phong trào đấu tố địa chủ được phát động, ông tôi đă thoát được
cảnh chết người đó. Tuy nhiên, cha tôi kể là cũng được người ta nói
lại rằng, có thể ông tôi đă không bị đấu tố là v́ trước đó đă có
công yểm trợ du kích quân của ông Hồ. Quân du kích, đang thời kỳ
phôi thai ở vùng biên giới mà không được nuôi ăn cũng chết, chứ mong
ǵ đến việc phát triển. Ông tôi chết thanh thản vào tuổi hơn 90, sau
khi tắm xong, nằm chờ buổi cơm chiều. Ông cố tôi cũng có cái chết
gần như tương tự.
- Ba là tín đồ của đạo này nên phải giữ đúng luật … phải không ba ?
Tôi đùa với cha tôi.
- Đạo nào cũng có luật bắt tín đồ phải tuân theo. Nhưng, thực hành
được hay không là việc khác. Bên đạo Công giáo có câu: “Khi ta bị
kẻ khác tát vào má trái, hăy đưa má phải ra” nhưng có mấy người thực
hiện được việc đó.
- Nhưng, nếu vợ ḿnh xấu cũng không được bỏ, để đi lấy người khác. Nhất
là không được lấy vợ người ?
- Đó là điều răn của đạo Công giáo và cũng là của đạo Phật. Đạo
B’hai cũng thế. Sự liên hệ t́nh dục chỉ được cho phép khi được thực
hiện giữa hai
người, vợ
và chồng. Họ không khuyến khích sự ly dị và đ̣i hỏi sự không có liên
hệ t́nh dục ngoài đời sống hôn nhân; bởi họ đề cao định chế hôn nhân
và xác nhận việc cưới hỏi như là mệnh lệnh trường cửu của thượng đế.
Học thuyết đạo này xem hôn nhân như thành tŕ của sự cứu rỗi và hạnh
phúc, đặt hôn nhân và gia đ́nh như nền tảng của cấu trúc xă hội loài
người.
-
Đạo này xuất hiện từ lúc nào ?
-
Nó được thành lập vào thế kỷ 18 tại Iran, pha trộn nhiều sắc thái
tôn
giáo khác
nhau, nhưng tính văn hóa và tôn giáo có phần dựa trên chất liệu của
giáo phái Shite, Hồi giáo.
-
Như vậy kinh thánh của họ là kinh Koran ?
-
Họ có kinh thánh riêng và đă được dịch ra 800 thứ tiếng.
-
Cứ theo nội dung vừa nói, đạo này nghe ra cũng c̣n khá hơn đạo Hồi
nguyên thủy,
v́ riêng về đời sống hôn nhân, đạo Hồi nguyên thủy chấp nhận cho
người đàn ông có nhiều vợ. Có thể có đến 3 hay 4 người. Nghe đâu ông
Mohamad c̣n khuyến khích các chiến sĩ của ông ta là: “Hăy lấy những
người đàn bà không có chồng ở trong cộng đồng của các ngươi”
- Đúng thế. Khi những người lính của Mohamad đă chết trận, vợ họ
được người khác lấy; có nghĩa là, các goá phụ này cũng có nơi nương
tựa. Phần những chiến sĩ đă chết trong những trận đánh dưới quyền
Mohamad, được xem như tử v́ đạo, sẽ có 5,6 người thiếu nữ đồng trinh
phục vụ lạc thú t́nh dục cho họ suốt đời trên cơi thiên đàng.
- Kích
động theo kiểu này của ông Mohamad khiến binh sĩ của ông ta
chiến đấu
hăng say, đến chết th́ thôi.
- Đúng. Nguồn gốc đạo Hồi bắt đầu từ năm 625, lúc Mohamad được
53 tuổi. Từ lúc đó, thế kỷ 7 đến thế kỷ 13, đạo Hồi bành trướng mạnh,
tạo thành khối Hồi giáo Ả rập. Suốt những thế kỷ này, đă có nhiều
cuộc chiến tranh giữa những khối Hồi giáo.
- Hồi
giáo cũng có nhiều khối khác nhau ?
- Cũng
như đạo Công giáo và Phật giáo thôi. Nào là Hồi giáo Mông cổ,
Hồi giáo
Ottoman, Hồi giáo Safavids. Từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20, ba đế quốc
này luôn chém giết lẫn nhau. Lịch sử phát triển và bành trướng của
đạo Hồi luôn gắn liền với máu lửa và chết chóc, với chiến tranh và
bạo lực. Kinh Koran của Hồi giáo được các nhà nghiên cứu tôn giáo
gọi đó là: “Cuốn sách của tử thần” và đức tin của Hồi giáo là “Đức
tin của hung bạo”.
Tuy nhiên, cũng chính v́ sự phát triển của nó nên đă chặn
đứng được sự phát triển của La Mă, v́ từ thế kỷ thứ 1 cho đến thế kỷ
6, toàn vùng Bắc Phi và Trung đông thuộc về lănh thổ của các giáo
phái Thiên chúa giáo.
- Như vậy lịch sử của loài người, nói riêng về tôn giáo đă mỗi
lúc mỗi tiến bộ vươn lên …phải không cha ?
- Nh́n chung là thế ..Nhưng trong sự tiến bộ đó, có lúc, có
những suy
thoái đáng
sợ.
Như đă nói,
đạo B’hai ra đời tại Iran, ông giáo chủ sinh ra vào đầu thế kỷ 19
(1)
Gần như
cùng thời gian đó, tại London, Karl Marx ra đời (2) và chết vào cuối
thế kỷ 19 (3). Ông này cùng ông Engel cho ra tuyên ngôn Communist
Manifesto 1847, một năm trước khi các cuộc cách mạng xảy ra tại Âu
châu 1848. Marx xuất bản bộ sách Das Kapital khoảng bốn năm trước
khi xảy ra vụ Paris Kommune (4), năm 1871. Rồi cách mạng tháng 10
năm 1917 tại Liên xô đă làm cho chủ nghĩa Cộng sản từ đó bành trướng
ra khắp nơi trên thế giới. Nhưng từ Lenin, lư thuyết Cộng sản đă bị
thêm bớt và càng về sau, những người lănh đạo các nước áp dụng chủ
nghĩa này đă có ư muốn biến nó thành một loại tôn giáo mới. Tuy dựa
trên căn bản vô thần nhưng họ muốn người dân trong nước xem nhóm
lănh đạo có tính tuyệt đối và bất khả thay thế. Nhóm lănh đạo này có
một người do họ bầu ra, như vừa là ông vua vừa là giáo chủ v́ họ
không những cai trị người dân theo lối riêng của họ mà họ c̣n muốn
đặt ảnh hưởng của họ trên đời sống tinh thần của người dân.
-
Như vậy từ 1917 đến năm 1989 là những năm xuống dốc ?
-
Không đúng hẳn, v́ nếu tính từ ngày sanh Karl Marx, đến lúc chế độ
Cộng sản
gần như sụp đổ hoàn toàn, thời gian lâu hơn, coi như được 200 năm
(5). Không đúng hẳn, v́ về mặt lănh thổ, đế quốc Cộng sản bành
trướng ra khỏi Liên xô sau năm 1917 và lan ra nhiều nước khác trên
thế giới. Nhưng về mặt tinh thần của con người, chế độ đă làm giảm
sút một cách đáng sợ. Nhân phẩm con người bị coi rẻ và những đảng
viên Cộng sảnh cuồng tín có thể giết người không cùng chánh kiến một
cách dễ dàng, không thua ǵ việc giết một con gà hay con vịt. Thật
khác xa với đạo Phật, một trời một vực. Giáo lư đạo này khuyên rằng,
người ta không nên giết hại chúng sanh, và chúng sanh có nghĩa là
bao gồm tất cả những vật thể có sự sống.
Đạo Phật từ
lâu đă thấm sâu vào người dân Việt nên một trong những luật đạo đă
trở nên phổ biến, đó là luật nhân quả. Muốn nói đến hậu quả của
những việc làm sai trái của người nào đó, người ta cứ thường hay đơn
giản đưa ra những câu nói có liên quan đến luật này. Chẳng hạn: “Nó
làm việc đó mà không suy nghĩ chin chắn ..chắc nó không biết luật
nhân quả là ǵ !”. Luật này càng lúc trở nên dễ hiểu v́ tương đồng
với luật nhân quả trong khoa học. Hồi c̣n nhỏ, có lần tôi đă đọc
được một câu chuyện ngụ ngôn. Nội dung đại để như sau: Có một người
cha, thấy con cứ cặm cụi, cưa cắt, mài giũa ǵ đó với cái vỏ khô bên
trong của một trái dừa. V́ c̣n nhỏ, nó cứ làm măi công việc đó trong
nhiều ngày. Thấy thế, cha nó thắc mắc hỏi về lư do của việc làm đó.
Đứa con trả lời đơn giản và ngắn gọn. Nó nói: “Ngày trước, cha cho
ông nội ăn với cái chén bể. Bây giờ, con làm cho cha cái chén ăn cơm
bằng cái gáo dừa “.
Ông bà
chúng ta, dạy dỗ con cháu bằng cách dễ hiểu hơn thế nữa: “Đời cha ăn
mặn, đời con khát nước “. Câu nói tuy đơn giản nhưng cả là một bài
học luân lư thâm thúy. Ông nội thương yêu, chăm sóc ông cố đàng
hoàng và cha tôi cũng muốn đối xử với ông nội tôi như thế. Ông bà cố
thương yêu tá điền như con cháu trong nhà. Ông nội tôi thương yêu
người khác như anh em. Có lẽ cha tôi cũng không có cách đối xử nào
khác hơn như vậy với tha nhân.
Nhưng, cha
tôi có nỗi buồn không bao giờ giải quyết được. Đó là nỗi buồn xa xứ
và gia đ́nh. Sau năm 1954, khi đất nước bị phân thành hai miền Nam,
Bắc, cha tôi đă không thể về ở cạnh bên ông bà nội. V́ thế, lẽ ra
cha tôi có thể đă là người rất giàu, nhưng ḷng yêu mến gia đ́nh đă
là một sự ngăn cản. Trước khi người Pháp rời khỏi Việt Nam, cấp có
thẩm quyền đă nói với cha tôi rằng, muốn lấy bao nhiêu đất ở khu
quanh ṭa tỉnh trưởng Gia Định cũ, cứ vẽ ra và ông ta sẽ cấp giấy
chứng nhận. Cha tôi không làm việc đó, bởi lúc nào ông ta cũng có
suy nghĩ là, chỉ chờ đến khi b́nh yên, sẽ trở ra ngoài Bắc, sống gần
với cha mẹ. Cuộc chiến kéo dài 20 năm đă ngăn cản mong ước đơn giản
đó.
Không gặp
được cha mẹ đă đành, cha tôi cũng không có dịp về thăm lại nơi chôn
rau cắt rún, thăm anh em ruột thịt c̣n sống sót. Ông bệnh nặng, nằm
tê liệt một chỗ. Một người suốt đời dấn thân trong trận mạc, đă
không chết, nhưng lại ngă quỵ sau những đau khổ chồng chất. Sau
tháng 4.75 không lâu, đứa em trai thứ 5 trong gia đ́nh đă bị tên
trưởng công an phường bắn chết, bởi đă chống cự
với chúng,
không chịu để ngôi nhà bị chúng tịch thu. Rồi việc cưỡng bức đi vùng
Kinh tế mới đe dọa thường trực tuổi già. Rồi gia đ́nh bị kiểm kê tài
sản trong những đợt đánh tư sản mại bản ! ..(thực chất là truy lùng
xem có chứa tài liệu hay vũ khí ǵ không). Con cái khi xin việc làm
phải có chứng nhận của phường khóm trong đơn xin việc. Những việc đó
và các việc khác xảy ra, tất cả đă nằm ngoài sự suy nghĩ b́nh thường
của người dân. Hầu hết người dân miền Nam đều mong muốn chiến tranh
chấm dứt. Nhất là sau Hiệp định 1973. Những năm tháng gần kề
30.04.75 mong muốn đó càng tăng cao. Nói là “suy nghĩ b́nh thường”
là đúng, v́ không nhiều th́ ít, họ có con em tham dự vào cuộc chiến
20 năm; nhưng con em họ không con đường nào khác để chọn. Người dân
miền Bắc cũng thế. Thanh niên ngoài Bắc cũng thế. Nếu có khác, là v́
trong Nam không tấn công ra Bắc nên thanh niên ngoài Bắc không cần
phải cầm súng để chiến đấu. Do đó, nếu chiến tranh chấm dứt rồi, họ
không có mong muốn ǵ khác hơn là có được một cuộc sống b́nh thường.
Họ sẽ làm ăn để nuôi sống bản thân và nếu khả năng cho phép, họ sẽ
đóng góp ǵ đấy vào việc xây dựng đất nước. Thế mà, v́ muốn thực
hiện cho được chủ nghĩa Cộng sản tại nước nhà, những người cầm quyền
lúc đó đă u mê đưa đất nước vào con đường đói khổ.
Cha tôi mất,
lúc đó tôi đang c̣n ở trại tỵ nạn. Suốt thời gian từ sau 1975 đến
ngày tôi đi vượt biên 1989, v́ nhiều lư do, tôi không có dịp gần gũi
nhiều với cha tôi. Tôi không có dịp t́m hiểu cặn kẽ về cuộc đời niên
thiếu của cha tôi. Tôi không có cơ hội đào sâu để t́m ra yếu tố nào
đă tạo ra được một con người đầy ḷng thương người như ông và cách
đối xử với người khác chân chất, thật thà. Đức nhân ái và sự tin cậy
là một trong những đức tính của đạo Khổng. Đó là nhân, nghĩa, lể,
trí, tín. Cho nên, như đă nói trên, tôi chỉ đoán rằng: “ …Cái tâm
tánh đó có được là do sự phối hợp của một cái ǵ c̣n rớt lại của đạo
Khổng, cộng thêm vào đó là khung cảnh thiên nhiên đă bao bọc quanh
ông từ thời niên thiếu”. Nếu kết quả đào tạo nên một con người được
gọi là tốt dựa trên các yếu tố là: cá nhân, gia đ́nh, học đường và
xă hội và khi ta đă giải mă được các yếu tố đó, kết quả đưa đến
đương nhiên phải là cái ǵ tốt đẹp. Đơn giản cứ như là bấm trúng
code (6) bốn con số của một thẻ ngân hàng !
Nếu không
v́ thời gian nằm bệnh kéo dài, không chừng cha tôi cũng đă viết một
cuốn hồi kư. Cũng đơn giản thôi. Ông viết để kể lại cuộc đời của
ḿnh, đủ nỗi vui buồn. Ông viết để con cháu có cơ hội biết thêm về
nguồn gốc của ḿnh. Chúng ta không quên là yếu tố cá nhân và gia
đ́nh có tác động lẫn nhau. Những ǵ ông đă chứng kiến cũng khá lư
thú. Ông đă từng gặp một số nhân vật của nhóm ông Nguyễn hải Thần
(7) lúc ông trong quân đội Pháp, theo lực lượng đồng minh, hỗ trợ
cho quân đội Tưởng giới Thạch. Ở hải ngoại, tôi đă được xem những bộ
phim, phim truyện cũng như tài liệu, nói về cuộc chiến Việt Nam. Có
cuốn phim Mỹ (tôi quên tựa) nói về công trạng của một tướng Mỹ khi
ông này phục vụ tại Việt Nam. Đặc biệt, do tài điều khiển quân sự
của ông đă giúp ông tạo được chiến thắng trong biến cố tết Mậu Thân
(theo nội dung phim). Nhưng, nếu tôi có tài làm phim, tôi sẽ có một
cuốn phim hay hơn cuốn phim đó; nhất là đoạn nói về biến cố này.
Tiểu đoàn 1 Công vụ, chịu trách nhiệm an ninh thủ đô Sài G̣n, dưới
sự điều động trực tiếp của cha tôi, đă đóng vai tṛ then chốt trong
việc giải quyết thắng bại vào những giờ phút ban đầu. Lực lượng tổng
trừ bị như Dù, Thủy quân lục chiến, Biệt động quân, cũng như Biệt
kích giải quyết dứt điểm sự xâm nhập của Việt Cộng vào thành phố.
Nhưng t́nh h́nh có lẽ sẽ nhiều gây cấn hơn, nếu những nơi quan trọng
như đài phát thanh, khu phát tuyến Phú Lâm, sân bay Tân sơn Nhất ..v.v…đă
bị chiếm đóng ngay trong những giờ phút ban đầu. Sau 75, ông đă dẫn
tôi đến thăm ông Trần trung Dung (8) lúc ông này trở về nhà, sau khi
bị tù cải tạo. Gia đ́nh ông này có liên hệ sao đó với ông nội của
tôi. Chúng ta cũng không quên là yếu tố xă hội, trong đó có sự liên
hệ với những nhân vật có dính líu đến những sự kiện lịch sử, có ảnh
hưởng nào đó đến một con người.
Gần đây,
tại hải ngoại, có nhiều người đă viết hồi kư. Trong nhiều người đă
viết, có ông Nguyễn cao Kỳ. Tôi chưa xem. Có lẽ tôi c̣n chờ một dịp
thật thoải mái để xem, xem cùng lúc với những cuốn sách khác, chẳng
hạn như “Xuân tóc đỏ” của Vũ trọng Phụng. Dĩ nhiên, một nhân vật đă
đóng vai tṛ lănh đạo khá quan trọng trước năm 1975, khi kể về cuộc
đời của ḿnh, có nhiều việc để nói. Những việc được kể ra sẽ cho
chúng ta thấy được các yếu tố để tạo nên một con người tốt đă tác
động hỗ tương với nhau ra sao. Nhưng không chắc tôi đă t́m được
trong đó những đức tính của một con người theo đạo Khổng; hay nói ít
ra, một con người chân chất, thật thà.
Ở Việt Nam
cũng có sự việc tương tự như thế xảy ra. Một anh bạn, sau khi thăm
gia đ́nh, đă cho tôi xem một cuốn hồi kư của một nhân vật hiện c̣n
đang sống tại Việt Nam. Ông ta là nhà báo và là dân biểu trước năm
75, ở miền Nam. Tôi không muốn nói đến chức danh cuối cùng, v́ ông
ta là Tổng trưởng thông tin của chính phủ được lập ra vội vàng để
đối phó với t́nh thế khẩn trương trong những ngày c̣n lại của tháng
4.75; chính phủ Dương văn Minh. Trong hồi kư, ở phần kết thúc, ông
này nhắc đến việc gặp Nguyễn cao Kỳ. Xem xong cuốn này, nếu tinh ư,
độc giả sẽ thấy hai người này có vài điểm khá giống nhau. Ông này có
đến 4 bà vợ, dĩ nhiên không phải là cùng một lúc sống chung, mà lần
lượt đi qua cuộc đời của anh ta. Anh ta khen từng ngừơi. Dĩ nhiên.
Nhưng dù với bà nào mà anh ta ghép chung cuộc sống, anh ta cũng có
những lư do hợp t́nh, hợp lư sao đó để giải thích nguyên nhân anh ta
đi thêm bước nữa với những người ấy.
Dĩ nhiên …nhưng
là đối với anh ta. C̣n riêng với tôi, điều đó sẽ được xét lại, ở
phần sắp nói đến. Ông Kỳ có 3 bà vợ. Bản năng t́nh dục của hai anh
này có thể giống nhau. Giống nhau như một số nhân vật quan trọng
khác của đảng Cộng sản hiện nay ở Việt Nam. Trước hết là ông Hồ chí
Minh. Rồi Lê Duẫn .v.v .chẳng hạn. Nhiều lắm. Họ đă theo đạo B’hai,
theo nghĩa tiếu lâm của người b́nh dân. Hơn thế nữa, v́ họ có đến ba
bốn bà vợ. Nhưng, theo thuyết của Freud, có thể bản năng đó đă được
thăng hoa nên họ đă có cuộc sống tích cực, dồn hết tâm sức vào việc
phục vụ cho người khác-tha nhân- theo nghĩa rộng nhất. Nhưng theo
nghĩa hẹp, họ làm những việc đó cũng chỉ là để bồi đắp cho bản năng
tính dục của riêng họ thôi.
Ông cựu
Tổng trưởng thông tin-nhà báo Chánh Trinh, sau 75- giải thích sự lựa
chọn chính trị của ông ta như sau. Khi lớn lên, thấy các chính phủ
thay đổi liên miên sau cuộc lật đổ chính phủ năm 1963, ông ta chán
ngán. Càng thất vọng hơn khi các chính phủ sau này bị lệ thuộc chính
phủ Mỹ. Rồi những tṛ nhố nhăng trong Quốc hội thời ông Tổng thống
Nguyễn văn Thiệu. Tất cả điều đó đă khiến cho lập trường của ông ta
ngày càng phù hợp với đường lối của một thành phần gọi là “thành
phần thứ ba” lúc nào không hay. Chính thành phần này ít nhiều đă góp
phần đưa đến sự ra đời chính phủ Dương văn Minh. Có chi tiết khá thú
vị là việc ông ta thuật lại đă gửi một lá thư riêng đến ông Vơ văn
Kiệt, lúc bấy giờ là chủ tịch Hội đồng bộ trưởng. Thú vị ở chỗ, nếu
Kim Hạnh, tổng biên tập báo Tuổi trẻ, không biết chuyện này do ông
Kiệt nói ra, chưa chắc ông cựu nhà báo này đă tiết lộ. Thú vị ở chỗ,
không biết nội dung lá thư ra sao mà ông Kiệt lại nói ra cho người
sếp (9) của ông nhà báo biết, v́ nếu chỉ là một bức thư tâm t́nh
thông thường, tại sao ông Kiệt lại nói đi nói lại ? Nhưng không phải
thế …Ở một đoạn sau đó, ông Chánh Trinh nói rằng ông ta muốn bày tỏ
với ông Kiệt nguyện vọng ngày nào đó sẽ trở thành đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam. Kể cũng hay …nhà báo “nhạy bén với khía cạnh
thời sự”(10), theo nhận xét của ông Trần bạch Đằng, đă kịp thời chạy
theo thời cuộc. Nếu sự kiện Liên xô và Đông âu sụp đổ vào năm 1989
xảy ra vài ngày sau khi gửi thư, chắc ông lại làm đơn, rút lại cái
nguyện vọng đó rồi. Chính tại điểm này cho chúng ta thấy ông chưa
chân thật đúng mức như ông ta nói. Một nguyện vọng cao đẹp như thế
đă được gửi đến một người có chức quyền, một người được ông ta nể
phục mà lại không được ông ta nhớ là đă gửi bức thư riêng đó vào năm
nào, năm 1987 hay 1988 ǵ đó (theo cách viết của ông). Trong khi đó,
những việc ông ta làm trước 1975 lại được ông ta thuật lại khá đầy
đủ. Thôi cũng được ! …chúng ta cứ xem như là một chuyện nhỏ. C̣n
chuyện lớn là ǵ ? Vào năm 2004, ông ta đă được 64 tuổi. Tuổi này
không thể cầm súng được rồi. Nhưng ông ta c̣n đủ sức để nói lên
những sự thật đang diễn ra đầy dẫy trong xă hội Việt Nam ngày nay.
Quốc hội
hiện nay chắc c̣n có nhiều tṛ nhố nhăng, bát nháo hơn Quốc hội
trước 75, ở miền Nam. Trước hết, họ được đưa vào Quốc hội, gián tiếp
qua Mặt trận tổ quốc, một cánh tay nối dài của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Khi ngồi trong ngôi nhà đó rồi, mọi cuộc biểu quyết quan trọng
đều gần như được tất cả đồng ư. Rồi nạn tham nhũng tràn lan, từ cấp
cao nhất đến cấp thấp nhất là anh cán bộ khu vực. Rồi lănh thổ, lănh
hải bị cắt xén. Có lẽ ông ta không nghe, biết. Có lẽ v́ quá già
nên tai, mắt ông ta đă kém tinh nhạy ?!.. Ở đây, có lẽ nên nói thêm
một ít nữa. Ông tướng Trần Độ, suốt đời theo đảng Cộng sản, nhưng
khi gần xuống lỗ, thấy xă hội không như lư thuyết đă được vạch ra mà
ông đă hăng say theo đuổi và chiến đấu để thực hiện nó, ông ta đă có
thái độ phản kháng. Ông Hoàng minh Chính cũng thế. C̣n nhiều người
khác nữa. Nhưng ít ra, hai người này về tuổi đời, trước kia và hiện
nay đă lớn hơn ông nhiều. Đừng nói họ là người trong Nam, là ngườI
từng phục vụ cho chế độ Cộng ḥa trước 75. Như vậy, lư tưởng nào,
hoài băo nào mà ông Lư quư Chung đă theo đuổi ?! …Như nói trên,
những ngườI đàn bà đến với ông ta trong đời đều có những t́nh lư
hay, đẹp của nó, theo cách giải thích của Chánh Trinh ở phần trên.
Tôi nói phải xét lại điều này, do dẫn chứng vừa kể. Do đó, có thể
nói, suốt cuộc đờI chính trị của ông ta, chế độ nào cũng là hay đẹp
với ông ta cả, nếu nó đă cung ứng cho ông ta một chỗ đứng thích hợp;
cũng như người vợ nào cũng hay, đẹp v́ đă thỏa măn ông ta, ở mức độ
này hay mức độ khác.
Ông Nguyễn
cao Kỳ, về phương diện này cũng không khác lắm. Ông ta bị chính
quyền Mỹ loạI khỏi chính trường Việt Nam trước 75. Ông ta, nếu có
ghét Mỹ, cũng là chuyện thường t́nh. Ông ta đă tháo chạy vào
30.04.75 nên sau khi nước nhà thống nhất, ông ta đă không hứng chịu
những đớn đau, nhục nhă như những thuộc cấp, dù họ là sĩ quan trong
quân đội hay là công chức trong ngành hành chánh. Ông ta có quyền hô
hào đại đoàn kết theo kiểu ông ta, cũng không khác với lời kêu gọi
sẽ biến Sài G̣n thành Leningrad trước đây. Nhưng, ông ta không nên
nói cuộc chiến 20 năm trước đây giữa hai miền Nam, Bắc là cuộc chiến
bẩn thỉu. Làm ǵ có việc đó, khi một miền đất nước ở vị trí phải
chống trả để tự vệ. Và những tệ hại của xă hội hiện nay, chắc ông Kỳ
đă già mất rồi nên cũng không thấy và biết. Ông ra vẻ khách quan khi
chỉ ra rằng, các nước quanh vùng Đông nam Á, đă phải có một thời
gian chịu đựng chế độ độc tài khá lâu, trước khi có sự tiến bộ như
ngày nay. Nhưng, nếu có học cái hay của nước khác, cũng phải đọ xem
t́nh trạng thực tế của đất nước ḿnh ra sao, có phù hợp với cái ḿnh
thấy là hay ở nước khác không. Ai mà không thấy được rằng, chỉ một
việc không thể làm được chuyện “nối ṿng tay lớn” sau khi thống nhất
hai miền đất nước đă 30 năm, cho thấy chính quyền đương thời thiếu
kém khả năng chính trị. Nói đúng hơn, không phải họ không có khả
năng mà chỉ v́ họ muốn duy tŕ cái quyền lực và quyền lợi mà Đảng
của họ đang được hưởng. Đất nước không phát triển được cũng không
cần. Dân t́nh có chết cũng mặc thay ! …Nhưng, không phải ông Kỳ
không thấy những điều đó. Ông ta nói né tránh để có sự thuận lợi
trong vai tṛ môi giới hiện nay của ông ta. Công việc ông ta đă và
đang sắp làm là đưa tư bản lớn-tầm quốc tế- vào làm ăn tại Việt Nam.
Phần đông, theo ông, những tập đoàn tư bản đó là người Mỹ. Không lạ
ǵ khi ông nhà báo Chánh Trinh nói về ông Kỳ như sau: “.. .bởi ông
Kỳ
là con
người nghĩ ǵ nói nấy, không lắt léo che giấu những suy nghĩ của
ḿnh” (11). Đúng là hai anh đồng bệnh, mặc áo dài thụng, ra khen
nhau trước công chúng. Những con người không thật thà như thế, cũng
giống như bọn Cộng sản trá h́nh, lấy cứu cánh biện minh cho phương
tiện, có thể làm bất cứ việc ǵ, miễn là các việc đó đem lại lợi lộc
cho họ. Thái độ sống không chân thật với với ḿnh và với người khác,
đă làm cho đạo đức xă hội càng ngày càng xuống dốc một cách thê
thảm.
Những câu
chuyện cha tôi thuật lại, tuy rời rạc, nhưng cũng đủ để tôi h́nh
dung ra được một con người biết trọng sự công bằng và yêu thương
người khác ; dùnhững người này nghèo và không có địa vị trong xă hội.
Thời đó,
lúc ông nội tôi c̣n sống, ông cố đạo người Pháp râu xồm có vẻ o bế
gia đ́nh ông nội tôi lắm. Ông ta thường đến thăm và thỉnh thoảng
dùng cơm chung với gia đ́nh. Ông ta ít ghé nhà các tá điền, có lẽ v́
con chó bẹc giê (12) to lớn của ông ta cũng không thích vào nhà họ.
Ghé vào nhà ông tôi, có thể có những thức ăn, thức uống hợp khẩu cho
ông ta và con chó của ông. Vật dụng trong nhà, loại đặc biệt, được
đặt hàng ngay từ bên Pháp. Ngọn đèn măng xông (13)
làm cho
những buổi tiệc gia đ́nh thêm phần long trọng. Tuy ông cố đạo râu
xồm
có vẻ quí
mến gia đ́nh nhưng ông ta có vẻ coi rẻ tá điền khiến cho cha tôi
cũng không mấy thiện cảm với ông ta. Là thiếu niên mới lớn, nhưng
cha tôi đă có khả năng châm biếm đúng mức. Có lần ông hỏi:
-
Thưa cha …sao cha để râu rậm như thế ?
-
Để ấm mồm …nhất là vào mùa đông
-
Vậy cha ăn mắm ruốc có được không ?
-
Cha phải vén râu lên như vầy …(ông cố đạo vừa nói vừa ra điệu bộ và
cười ..)
Ông cố đạo nói được ít câu tiếng Việt thông thường là đă khá rồi.
Nhưng, cha tôi hỏi cho có chuyện. Ông ta từ lâu đă nẩy sinh cái ư
muốn trừng phạt con chó của ông cố đạo. Con chó có cái tội là cứ mỗi
lần nh́n thấy các tá điền là như nó muốn cắn một cái, như muốn làm
một cái ǵ để ghi lại dấu tích nơi các tá điền.
Một buổI
chiều, cha tôi xách theo một cái gậy, to và chắc, đủ dài như một cây
côn, đến nơi ông cố đạo ở. Sau khi cha tôi đập cửa, con chó đă xông
ra, sủa to và định chồm lên để cắn. Nhưng, sau khi nhận được mấy cái
đập điếng hồn, nó kêu ăng ẳng và cà nhắc chạy trở vô. Ông cố đạo sai
hai người giúp việc đuổi theo bắt cha tôi. Cha tôi, khi đă vào nhà,
lấy cây súng săn của ông nội, lên c̣ để trả lời thái độ dữ dằn của
hai ngườI kia. Thế là họ đành phảI quay về. Cha tôi chạy trốn đến
nhà người em của ông nội, tạm thời lánh nạn để chuẩn bị chịu đ̣n.
Sau khi bị đưa về nhà, mấy roi đầu không làm cha tôi bị đau. Nhưng
tiếng kêu khác lạ của mo cau độn dưới quần đă làm ông bị đau hơn với
mấy roi sau đó. Và dĩ nhiên, cha tôi phải cùng ông nội đến nhà ông
cố đạo để xin lỗi vào ngày sau đó. Nhưng từ đó, con chó bec giê của
ông cố đạo hết lớn tiếng sủa mỗi khi nh́n thấy các người tá điền.
Tuy nghịch ngợm nhưng ông anh và cha tôi cũng được ông nộI cho đi
học ở Hà Nội. Thời bấy giờ chỉ có vài ông giáo sư có điều kiện để đi
dạy bằng chiếc xe đạp. Trong khi cha tôi, c̣n đang học Trung học, đă
có chiếc xe đạp, được đặt mua từ bên Pháp, cùng lúc với những vật
dụng trong gia đ́nh. Ông anh, người bác của tôi, khi học năm cuối
trường Luật, đă bị thủ tiêu v́ không ủng hộ những người theo đảng
Cộng sản.
Tuy gia
đ́nh thuộc loại cao hơn trung lưu, nhưng h́nh như cha tôi sống với
t́nh cảm dành cho những người có giai cấp thấp hơn. Ông ghét sự bất
công. Do đó,Ông luôn giúp đỡ người cô thế, chống lại thái độ khinh
rẻ con người của những kẻ có quyền thế. Ông bênh vực thuộc cấp,
chống lại thái độ quan liêu, hống hách của cấp trên. Hồi theo quân
đội đồng minh ở vai tṛ thông dịch viên (v́ biết cả tiếng Pháp và
tiếng Tàu) cha tôi đă gặp ông Lam Sơn, lúc ấy, mới là Trung úy trong
quân đội Anh. Tính ông này cũng nóng và ngang bướng nên có lần ông
ta đă đánh một sĩ quan huấn luyện viên người Mỹ. Do đó, suốt đời
binh nghiệp, ông Lam Sơn không qua được cấp tá; trong khi những sĩ
quan đàn em thời đó, sau này có nhiều người đă lên được cấp tướng.
Cùng tính cách đó, sau khi đồng hóa sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng
ḥa, cha tôi không qua được cấp úy trong gần suốt cuộc đời binh
nghiệp. Nói đúng hơn, ông ta đă xin giải ngũ nhiều năm trước khi đến
tuổi về hưu vào những năm 1970 hay 1971 ǵ đó. Ông xin về hưu sớm v́
không chịu được t́nh cảnh dưới quyền một số cấp chỉ huy không có tài,
lại tham nhũng.
Cha tôi bị
bệnh nên không làm việc viết nhật kư. Nếu không bị bệnh, chắc cha
tôi cũng không làm việc đó. Ông đủ sáng suốt để thấy trước việc làm
của bọn người giả nhân giả nghĩa. Ông đă tránh được tù cải tạo v́ đă
khai giảI ngũ-cũng là sự thật- và do khai là không có công trạng ǵ
cả. Trong khi bạn cha tôi, có người cũng đă giải ngũ trước 30.04.75
nhưng vẫn bị tù cải tạo. Có người bị tù khá lâu v́ đă thành thật
khai báo trong những lư lịch trích ngang trích dọc mà họ đă nhận
được. Ông thấy trước sự thâm hiểm v́ cho đến những người lính trong
quân đội
VNCH, những
người đă nằm xuống tại nghĩa trang quân đội Biên Ḥa, mồ mă của họ
cũng không được để yên sau ngày nước nhà đă được thống nhất.
Cha tôi đă
không viết nhật kư. Điều này gây bất lợi trong sự t́m hiểu về cuộc
đời của ông, về gịng giơi của ông bà chúng tôi. Nhưng, tất cả những
công trạng, chiến tích thật đặc biệt của đời một con người, khi được
ghi nhận lại, sẽ có ư nghĩa ǵ khi thực chất chỉ là để phục vụ cho
cái tôi riêng rẻ của một cá nhân nào đó. Tệ hại hơn nữa, khi v́ muốn
đánh bóng lịch sử cá nhân, họ bày tỏ ra như là những công việc đó đă
được họ thực hiện chỉ v́ ư đồ muốn phục vụ tha nhân. Lịch sử của các
đảng phái, của các giáo phái, của các tôn giáo, đôi khi cũng chứa
đầy những giả trá kiểu đó. Và cũng thật là tai họa khủng khiếp cho
loài ngườI, có khi hơn cả thiên tai như lụt lội, bảo lụt .v..v.. khi
những giả trá đó được nâng lên thành những tín điều, giáo điều,
những giá trị, những nguyên tắc sống mà các thành viên trong một xă
hội, một tôn giáo, một đảng phái, phải tuân thủ và thực hiện.
Cha tôi đă
không viết nhật kư nhưng tất cả những hành động của ông đă là một
tấm gương sáng. Ông đối xử thành thật với người khác. Ông thương mến
họ như anh em. Ông bảo vệ, giúp đỡ họ với khả năng ông có. Ông tôn
trọng sự công bằng. Ông không có thái độ bợ nịnh cấp trên, hà hiếp
thuộc cấp dưới quyền. Ông nhận trách nhiệm việc ông đă làm. Ông
không phô trương, thêu dệt về những việc đă làm trong cuộc đời đă
qua của ông. Riêng trong cuộc sống gia đ́nh, ông có vợ và biết
thương yêu vợ con. Nếu ông đặt nặng vấn đề hôn nhân và gia đ́nh, xem
nó như là nền tảng của cấu trúc xă hội loài người, ông có thể đă là
tín đồ của đạo B’hai. Nhưng ông không là tín đồ của đạo này, kể cả
theo nghĩa khôi hài để gán cho một người có hai vợ. Những ngày tháng
ông nằm liệt trên giường bệnh, ông đă nhận được sự chăm sóc cẩn thận
của ngườI đàn bà
đă có 8 đứa con với ông.
Không một người đàn bà nào khác đă nhận chịu cũng như chia xẻ với mẹ
tôi những tháng ngày khó khăn đó; một khó khăn riêng cho cha tôi,
cũng như đối với bà. Tín ngưỡng ông tin và thực hiện có lẽ là đạo
làm người. Đạo làm người của ông, dù được trích ra từ đạo Phật, đạo
Công giáo hay đạo B’hai, đều lấy con người làm chủ thể có giá trị
duy nhất trên thế gian và cái chủ thể này biết tôn trọng tha nhân và
muốn cùng họ sống cuộc sống yên b́nh và ḥa hợp. Nhưng, thật là đặc
biệt khi sự kết thúc cuối cùng của cuộc đời của cha tôi diễn ra qua
những nghi thức của Phật Giáo. Có lẽ ông muốn được như các vị Đạt
lại lạt Ma của Phật giáo Tây Tạng, hóa thân vào kiếp sống mới, tiếp
tục hạnh nguyện đang làm của ḿnh. Ông đă là người đấu tranh cho
công bằng, bảo vệ người cô thế. Ông đă là một chiến sĩ tự do, không
muốn ḿnh và người khác là nô lệ cho một cuộc sống bị ép chế, phải
tuân thủ và thực hiện các giáo điều chết ngườI của một tôn giáo mới,
chủ nghĩa Cộng sản. Ông đă dành gần hết cuộc đời làm việc đó và sẽ
tiếp tục làm việc đó trong một kiếp lai sinh.
Đặng quang Chính
Kiểng Phước 20.07.2006
Ghi chú:
(1) năm
1817 – 1892
(2)
05.05.1818
(3)
14.03.1883
(4)
Công xă Paris
(5)
1817 – 1989
(6)
Mật mă
(7)
Việt Nam phục quốc đồng minh hội
(8) Bộ
trưởng quốc pḥng đời Tổng thống Ngô đ́nh Diệm
(9)
Người lănh đạo trong một cơ quan
(10) Trang 09,
trong cuốn “Hồi kư không tên” của Lư quí Chung.
(11) Trang
476, trong cùng cuốn sách trên.
(12)
Bergie, (tiếng Pháp)một loại chó có h́nh dáng như chó sói, nhưng đầu
không bằng phẳng như đầu của chó sói.
(13)
Manchon (tiếng Pháp) một loại đèn lớn hơn đèn dầu hôi, có tim đèn
được chế biến đặc biệt, không thể dùng vải
thường thay
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------
T́nh bạn
Thuở c̣n đi học, thấy
những cặp bạn thân gần gũi với nhau như anh em, tôi thường hay thắc
mắc là, có bao giờ t́nh bạn giữa hai người khác phái kéo dài đến hết
cuộc đời. Thời gian gần đây, tôi thường đùa với các bạn thân là sẽ
viết một cuốn sách về những mối t́nh tuyệt diệu mà tôi đă chứng
kiến. Nói đúng hơn, có thể có những câu chuyện tôi biết rơ ngọn
ngành, có thể tôi biết qua loa, nhưng câu chuyện sẽ rất ăn khách;
bởi v́ tôi sẽ yêu cầu họ thuật lại. Nhưng, trong công việc này,
chuyện của ḿnh được kể ra sẽ là sức kéo, lôi theo sự hưởng ứng của
những người khác. Tuy biết thế, nhưng nói về chuyện của ḿnh cũng
không phải là chuyện dễ. Tôi cứ loay hoay măi. Tối nay, xem sách
xong, chuẩn bị đi ngủ, tôi phải nhắc điện thoại v́ tiếng chuông reo
kéo dài.
- Anh có
thể nghe tôi nói chuyện một lát không ?
- Chuyện
ǵ quan trọng thế ? Tôi hỏi vậy nhưng cũng đoán là chắc đă có vấn đề.
Anh bạn
có vẻ ngập ngừng giây lát, rồi nói như trút xong gánh nợ
- Có lẽ
tôi sẽ dọn nhà xuống ở gần anh
Kể cũng
hơi ngạc nhiên v́ lần rồi, khi điện thoại nói chuyện với nhau, anh
ta dự trù là sẽ ở nơi tỉnh xa đó ít nhất là 2 năm nữa. Lúc nghe
chúng tôi trao đổi qua điện thoại như thế, vợ tôi cứ tủm tỉm cười
hoài. Đứa con gái lớn, hơi ṭ ṃ, hỏi mẹ nó mới biết rằng chú ta đă
quen một cô bạn gái. Nói là cô cũng không đúng v́ bà này đă có con
bằng hay lớn hơn nó đôi tuổi. Con của anh bạn tôi, đứa lớn nhất có
lẽ cũng chỉ nhỏ hơn con của bà bạn quen vài tuổi. Hai bên, kẻ thôi
vợ, người thôi chồng - có lẽ thế - nếu kết hợp với nhau cũng chẳng
có ǵ phiền toái. Cũng có gần đến cả 7 hay 8 năm rồi, từ ngày họ
quen biết với nhau.
Hồi đó,
vào tối cuối tuần như hôm nay mà bây giờ tôi c̣n có cảm tưởng như
c̣n nghe giọng cười khoái trá của anh bạn kể lại thành tích của
ḿnh:
- Hôm qua, chạy được cuốc xe từ phố về một nơi cũng gần chỗ ở
của ḿnh mà được khách chi xộp …lại c̣n được uống rượu nữa chứ ! Hôm
nay, mới vừa về đến nhà đă có điện thoại, đặt hàng cho tối cuối tuần
sắp đến.
Từ dạo ấy,
người khách hàng cứ chờ xe anh ta đưa về, sau những tối đi uống rượu
ngoài phố.
Rồi họ
cùng đi uống rượu cuối tuần với nhau …và sau đó là việc cô ta đến
thăm anh chàng vào những tối cuối tuần. Khi nói chuyện điện thoại
với tôi, thỉnh thoảng anh bạn nhắc đến cô nàng, có lúc không. Những
lúc anh ta không nhắc đến v́ cơ hồ anh ta cảm thấy tôi cũng chán cái
màn t́nh cảm lằng nhằng bởi chữ “samboer” (sống chung) của nước này.
Chữ này đă mặc nhiên chấp nhận một lối sống phóng khoáng. Hai người
nam và nữ, sống chung, có khi đă có đến 2 con rồi mới làm đám cưới.
Đằng này, hai người, đàn bà và đàn ông, mỗi người đă có con riêng,
có quá kinh nghiệm về cuộc sống chung của lứa đôi, đâu cần phải vội
vă để tính chuyện sống đời với nhau. Những lúc anh bạn nhắc đến cô
ta là những lúc có chuyện ǵ đó rất vui, liên quan đến hai người.
Hoặc anh bạn muốn nhắn khéo là anh ta không kẹt trong cái cảnh “già
kén chọn hom”; cũng có thể là anh bạn khoe rằng anh ta đă t́m được
một người có nhan sắc hơn người vợ trước của anh ta.
Tôi chưa
từng gặp người bạn gái của anh bạn. Nhưng có lẽ, đẹp th́ chưa biết
thế nào, nhưng giọng nói nghe rất ngọt ngào, lôi cuốn. Tôi tưởng như
đang nói chuyện với một cô gái độ tuổi sồn sồn, trong một lần bà này
gọi điện thoại, để thăm chừng là anh ta đă xuống đến nhà tôi hay
chưa. Anh ta thăm tôi có vài ngày. Dù đă được anh chàng căn dặn là
đừng gọi nhiều sẽ làm phiền tôi nhưng bà này gọi đến, tính trung
b́nh ít ra cũng hai lần một ngày. Anh bạn giải thích là bà bạn có
tính hay ghen. Anh nói thêm là bà ta đă trù tính về Việt Nam, ít
nhất một lần, trong những năm tháng hai người quen nhau. Bà sẽ về
với anh ta như đi du lịch và để như tŕnh diện bà mẹ chồng tương lai.
Cứ nghe
những ǵ anh bạn kể về mối t́nh nở muộn đó, tôi cũng mừng v́ bạn
ḿnh có được hạnh phúc mới. Nhưng cũng cảm thấy có ǵ không ổn !...
Không lẽ cứ măi kéo dài cái cảnh chỉ gặp nhau cuối tuần ? Độ hai
tuần trước, sau khi đi Việt Nam về, anh ta không giấu được sự vui
mừng khi thuật lại là đă quen một người bạn gái mới.
Một người
bạn khác, thân với cả hai chúng tôi, khi biết chuyện, cho rằng đó là
dấu hiệu không tốt. Độ vài ngày sau khi về đến Việt Nam, lúc điện
thoại thăm chúng tôi, anh ta than rằng xă hội bây giờ đă xuống dốc
đạo đức quá mức. Anh ta nhấn mạnh là, nếu về thăm gia đ́nh hoặc chỉ
để du lịch vài tuần, thời gian đó cũng quá đủ. Không bao giờ có
chuyện sống luôn tại đất nước này. Thế mà, qua lại Na Uy được vài
tuần, anh ta nói là sẽ tính chuyện về bên đó hưởng già ! Hai chúng
tôi không phản đối ǵ với ư định đó. Mỗi người có một hoàn cảnh
riêng. Hoăc dở hơn v́ họ bắt chước kiểu làm của người khác th́ cũng
chẳng có ǵ quan trọng. Không phải ông Kỳ, cựu thủ tướng miền Nam
trước 75, đă nói là ông ta muốn làm người tiên phuông trong việc bắt
nhịp cầu hoà giải à ? Khỏi phải đợi ông này làm chuyện đó. Lớp trẻ
hải ngoại, thế hệ thứ hai và cùng lắm là thế hệ thứ ba, đặc biệt với
thành phần không quan tâm hoặc không hiểu đúng mức các sự việc đă
xảy ra cho lớp ông, cha và t́nh h́nh chính trị hiện tại; họ xem
chuyện ngày xưa như là chuyện cổ tích. Nhưng, lối diễn tuồng quay
hẳn một góc 360 độ kiểu này khiến không ai c̣n tin cậy anh ta được.
- Hôm
về thăm bà già, tôi đă không ở tại nhà mà ra ngoài băi cát gần nhà
ngủ. Tụi Việt cộng gian ác lắm. Chuyện xích mích của tôi với cán bộ
phường trước khi rời Việt Nam đến bây giờ không chừng chúng c̣n ghim
trong bụng. Ban đêm chúng đến nhà mời đi “làm việc” là không xong
rồi !. Đó là lời thuật lại của anh ta trong lần thăm gia đ́nh lần
đầu.
-
Tôi đến thăm người bạn. Anh ta khẩn khoản giữ tôi ngủ đêm tại nhà
của anh ta. Tôi và con anh ta ra phường xin cư trú qua đêm. Tôi
nói xa gần để dằn mặt tên công an khu vực.
“ Na Uy
lúc này làm việc tích cực hơn trước. Ngoài toà đại sứ ở Hà Nội, họ
c̣n có toà lănh sự tại Sài G̣n. Mọi việc liên quan đến công dân của
họ được những người làm việc tại hai nơi này giải quyết mau chóng
“. Đó là lời thuật lại của anh ta trong lần thăm gia đ́nh lần rồi,
khi nói chuyện qua điện thoại. Về lại Na Uy và sau khi báo tin là
đă quen với một người bạn gái bên Việt Nam, anh ta nói:
-
Thời gian ở Việt Nam, tôi cảm thấy khỏe ra. Khí hậu thích hợp với
ḿnh. Tôi sẽ về ở luôn bên đó. Ḿnh có là ǵ đâu …ḿnh đâu phải là
những người tai to mặt lớn, những người chống đối Cộng sản đâu mà sợ
! Người phát biểu câu nói này có bộ mặt khác hoàn toàn với chính anh
ta, người đă nói rằng: “ Trước đây ḿnh thua là thua về quân sự.
Nhưng trận chiến mới, trận chiến của những người tự do, vạch trần
những gian trá của bọn Cộng sản bắt đầu “
Dấu hiệu
không tốt chúng tôi nói ở trên không phải là chuyện anh ta đă quen
với người bạn gái mới, không phải là chuyện anh ta sẽ về Việt Nam
dưỡng già mà thật là may mắn v́ anh bạn thứ ba đă không nói ǵ về
những dự tính của anh ta cho anh bạn hưu trí kia. Trước kia, khi
Việt Nam mới mở cửa, anh bạn thứ ba đă về nước, thi hành một công
việc do một tổ chức chống Cộng ở hải ngoại giao phó.
Tiếng anh
hưu trí qua điện thoại cắt ngang ḍng suy nghĩ của tôi:
- Tôi không dự chuyến đi chơi bằng tàu của gia đ́nh cô ấy, qua
Tây ban nha, vào dịp lễ quốc khánh vừa qua. Tối qua, tôi đă dứt
khoát với cô ấy rồi.
Tôi chẳng
biết nói ǵ hơn khi nhớ đến, có dạo nào đó, cô ta đă đến thăm và
chăm sóc anh ta tại bệnh viện suốt ba, bốn ngày liền v́ anh chàng bị
bệnh bao tử nặng, tưởng đă phải giải phẫu. Tôi cũng chẳng tập trung
được khi nghe anh ta giải thích lung tung sau đó.Nào là:
- Trước kia cô ta hưởng hưu trí non, bây giờ ḿnh cũng
thế. Sống chung cũng chẳng ai phải lo cho ai.
Anh này bị tai nạn trong khi làm việc cách nay khoảng 3 năm. Trước
khi anh vào làm tại hăng này, anh ta đă có thời gian thất nghiệp khá
lâu. Trong thời gian đó, mọi khó khăn của anh đều có phần giúp đỡ
của người bạn gái.
- Thời gian quen nhau, ḿnh cũng giúp cô ta nhiều việc. Trước khi
quen ḿnh, cô ta ghiền rượu dữ lắm ! Mỗi tối ra phố, cô ấy uống cả
chai rượu vang là thường. Sau này, cô ấy hỏi ư ḿnh ..và không bao
giờ uống hơn ba ly rượu nhỏ. Ngoài ra, nhờ lời khuyên của ḿnh, con
gái cô ta đă đi học lại và sau đó ra trường, có công ăn việc làm
đàng hoàng.
Tôi không
tập trung được v́ cứ nghe như anh ta đang làm bài toán cộng trừ nhân
chia những lời lỗ mà hai người đă có trong thời gian quen nhau.
Nhưng,
tôi hơi bất ngờ khi nghe anh chàng nói qua điện thoại:
- Cô ấy khóc nhiều lắm ! …và nói lời chúc phúc đến tôi (anh bạn
lại giở kinh thánh ra nói chuyện). Cô ấy nói là chúc tôi có hạnh
phúc mới. Sau này, nếu không muốn ở Việt Nam, cứ quay lại bên này và
đến thăm cô ta.
- Tôi cũng nói là tôi mong muốn cô ta sẽ quên tôi, sẽ có cuộc sống
mới. Người bạn mới, nếu có của cô ta, sẽ thương yêu cô ta hơn tôi
nhiều. Khi nào về Việt Nam, cứ điện thoại cho biết, tôi tự nguyện sẽ
làm người hướng dẫn, giới thiệu những danh lam thắng cảnh (chắc là
anh này nhớ lại những nơi anh ta đă từng giới thiệu và hứa với cô ta
là hai người sẽ cùng đến khi làm chuyến du lịch về thăm gia đ́nh) .
Tôi không biết tôi hơi bị “sốc” khi anh chàng kể là “cô ta khóc
nhiều lắm” hay tại v́ chi tiết tiếp theo, cũng chính do anh ta nói:
- Trước đây, cô ta cũng đă hai lần khước từ việc sống chung, khi
tôi bàn về việc đó. Một lần khi chúng tôi quen nhau đă gần 4 năm.
Suốt thời gian đó, cô ta đang chăm sóc ông già đang bệnh nặng. Lần
sau, khi cô ta nói rằng, cô ta c̣n phải chăm sóc người mẹ già.
Chi tiết
này do anh ta ”phịa” ra để đẩy phần lỗi về phía cô ta ?... V́ từ
trước đến giờ, tôi có bao giờ nghe anh ta thuật như thế, mỗi khi tôi
hỏi anh là đến khi nào cho tôi được uống rượu cưới.
Có thể
tôi bị bất ngờ cũng v́ con toán của anh ta đặt ra, sau hai sự kiện
vừa nói.
- Tôi cũng cảm thấy khó có thể sống hạnh phúc lâu dài với
cô này. Cô ta nhỏ hơn tôi gần chục tuổi. Làm sao cô ta sống được ở
Việt Nam. Rồi khi tôi chết th́ cô ấy sẽ ra như thế nào …Phần tôi,
tôi đâu thể sống lạnh vào mùa đông và chết ở bên này. Dù sao Việt
Nam cũng là quê hương của chúng ḿnh.
Tôi không
biết có ư kiến ǵ hơn. Vả lại, c̣n ư kiến ǵ nữa, khi sự việc đă
xong rồi. Tôi không nhớ là anh ta hay tôi là người đă buông điện
thoại xuống trước. Tuy thế, tôi đă trằn trọc măi. Chuyện người ta mà
cứ như chuyện của ḿnh. Thật ra, nói thế cũng đúng mà cũng
sai.Chuyện t́nh cảm riêng tư là chuyện của hai người nhưng chuyện sống
như thế nào cho phải là chuyện của xă hội, kéo dài hết đời này đến
đời khác. Sự vị kỷ trong con người có từ thời xa xưa nhưng tiến bộ
khoa học, kỹ thuật không làm giảm mà trái lại c̣n làm cho phát
triển một cách đáng sợ. À ! …th́ ra đó là yếu tố quyết định ? Thời
gian trước, khi hai người quen nhau, họ không nghĩ xa gần như thế.
Rồi sau đó, sống cái t́nh trạng gọi là “samboer”(sống chung), họ
cũng chẳng nghĩ xa vời. Họ chỉ biết hưởng thụ cái thời gian đă cho
phép họ được gần nhau; dù rằng chỉ gần nhau vào cuối tuần. Họ cùng
đồng lơa trong việc kéo dài thời gian gần gũi đó. Cũng hạnh phúc cho
cô ta khi đến chăm sóc anh bạn vào những lúc anh ta nằm bệnh viện.
Có lẽ cô ta cũng vui vẻ làm tṛn việc nội trợ của người đàn bà, khi
dọn dẹp nhà cửa, dù rằng chút ít, lúc cô nàng đến thăm anh ta cuối
tuần. Khi đôn đáo ngược xui, nhờ người em giúp anh bạn xin việc làm,
không biết cô ta làm như thế với tâm t́nhcủa một người vợ hay là của
một người bạn thân ? (Người em phải điện thoại nhiều lần mới tiếp
xúc được với người bạn là ông chủ hăng).
Người bạn
thân suốt đời của ta, theo tiếng Việt là người bạn đời; cũng có
nghĩa là người vợ hay chồng. Tiếng Na Uy cũng có chữ tương tự. C̣n
“sống chung”(samboer) chắc chỉ có nghĩa là hai người cùng sống với
nhau mà thôi; nghĩa là cùng góp chung của cải vật chất, cùng chung
việc chăn gối. Khi không đồng ḷng, cứ lấy phần của ḿnh mà ra đi.
Thời gian hai người nam, nữ đến với nhau là thời gian hai người có
dịp t́m hiểu. Có nhiều yếu tố, kể cả yếu tố xác thịt, đă kéo họ lại
gần nhau. Trước khi lập gia đ́nh, ngoài việc duy tŕ những yếu tố
đă có, c̣n có phần chung mà hai người phải chia xẻ, cùng lưu tâm. Đó
là tương lai của con cái. Cũng dễ hiểu… v́ chúng nó dù sống trên
đống vàng mà chỉ sống lủi thủi với cha hoặc với mẹ bởi họ đă ly dị
th́ đó là bất hạnh lớn lao nhất trong đời sống của một con người. Có
cùng quan điểm sống như thế mới có thể kéo dài cuộc sống của hai vợ
chồng cho đến khi chấm dứt cuộc đời. Mà quan điểm này, nếu được chấp
thuận, người ta dù sống ở Việt Nam hay ở đâu trên trái đất này cũng
có thể có được một hạnh phúc nho nhỏ.
Văn
Chương
24.05.2006