HỘI NGƯỜI NAUY GỐC VIỆT

               DET VIETNAMESISK-NORSKE FORBUNDET

Ngày    

 

 |  Trang Chủ  |  Chủ Trương  |    Cộng Đồng  |    Tin VINOF  |    Phỏng Vấn  |   Phóng Sự   |    Video  |   Hình Ảnh   Cứu Trợ   Tin Việt Nam  |   Tin Na uy  |   Luận   Truyện  |  Thơ  | 

 |   Sức Khỏe & Y học     Món ăn Việt  |    Nối mạng  |   Liên lạc VINOF    Lưu Trữ  |

 

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VINOF- Cuộc Gặp Gỡ Với Ông Øivind Sand, Thị Trưởng Thị Xã Ræalingen, 28.09.2011  
Phóng sự đêm " LIVESHOW KONGSVINGER", 18.06.2011  
Ô sin ...Aupair ..gratis (7)  
Ô sin ...aupairs ...gratis (4)  
Ô sin...Aupair...gratis (3)   
 Ô sin …aupair…gratis (2)  
 Et hyggelig møte med vietnamesisk kultur  
 Ô sin ...Au pair ...gratis!  
Hội nhập  
Thuyền nhân tị nạn điều hành công nghệ khách sạn   
 Nghĩa tình cứu trợ của đồng hương người Việt tại Oslo trong đêm nhạc 29.10.2010  
 Sài gòn bây giờ    -  Thiên hương  
 VINOF - Cứu trợ, 22.11.2009   
Båtflyktninger: Den store klassereisen - Av ikke-vestlige innvandrere er vietnameserne blant dem som har

   klart seg best i Norge. Hva kan det skyldes?

 
Hiep Hoang er en av de ti vinnerne av årets Top10-kåring, 2008.  
 Dr. Phuong Ngoc Nguyen er en av de ti vinnerne av årets Top10-kåring, 2005  
 Vietnamesisk melakoli  
   
   

 

 

 

Phóng sự:

 

VINOF- Cuộc Gặp Gỡ Với Ông Øivind Sand, Thị Trưởng Thị Xã Ræalingen

28.09.2011

 

 

Hôm nay trời gần cuối mùa Thu đã bắt đầu se lạnh. Nhưng vẫn là một ngày tương đối đẹp vì có chút nắng le lói qua một vài cụm mây trắng mỏng trải dài trên bầu trời xanh nhạt. Lá cây phong bắt đầu chuyễn từ màu xanh sang màu vàng, dễ nhận ra rãi rác xen kẻ với rừng thông trên ngọn đồi xa xa. Tôi dậy sớm hơn thường lệ, vì hôm nay tôi có hẹn với anh Tú, Hội trưởng VINOF. Chúng tôi sẽ có cuộc gặp gỡ với ông Øivind Sand, Thị Trưởng Thị Xã Rælingen vào lúc 11.00 giờ ngày 28.09.11 tại văn phòng của ông ở tòa thị sảnh Rælingen.

Anh hội trưởng VINOF trước tòa thị sảnh thị xã Rælingen.

 

Tôi đến nhà anh Tú khoảng 10.00 giờ. Vừa bấm chuông thì cũng là lúc cửa mỡ ra, anh mời tôi vào nhà. Sau khi pha tách cà-phê nóng ấm. Anh đưa tôi xem bản thảo chương trình sẽ làm việc với ông Thị Trưởng Rælingen hôm nay. Đồng thời anh nói.”Mình phải soạn sẳn chương trình chứ khi đến nói chuyện mà không có chuẩn bị thì dễ quên đầu quên đuôi”. Lần đầu làm việc với anh, tôi ghi nhận đây là một cung cách làm việc cẩn trọng của anh.

 

Sau khi hai anh em bàn thảo với nhau, xem có còn thiếu sót vấn đề gì nữa không ?. Tôi đề nghị đưa vấn đề thuê mướn gymsal cho đội banh Vinof tập dợt. Nếu như được ông Thị Trưởng giúp một tay thì hiệu quả rất cao. Nhưng rất tiếc, anh Tú cho rằng: ” Địa điểm thuận tiện cho sự tập dượt của đội banh Vinof phải nằm trong khu vực Oslo”. Vì thế chúng tôi gác lại vấn đề nầy lại và sẽ nêu vấn đề này lên trong cuộc họp Ban điều hành của VINOF sắp tới.

 

Chúng tôi lái xe đến Tòa Thị Sảnh Thị Xã Rælingen, nơi làm việc của ngài thị trưởng Øivind Sand. Đến nơi còn sớm chừng mười lăm phút. Tôi vội lấy máy ảnh và nói với anh Tú làm cảnh, chụp vài tấm hình trước mặt tiền của Tòa Thị Sảnh . Sau đó chúng tôi ngồi đợi ở phòng tiếp tân của Thị xã. Chưa ấm chổ ngồi thì ông Øivind Sand đã đi ra tươi cười, bắt tay từng người và mời chúng tôi vào văn phòng của ông ở bên cạnh.

 

Chụp lưu niệm với ngài thị trưởng thân thiện

 

Qua lời chào hỏi xã giao và sau vài hớp càphê thơm phức, nóng hổi. Anh Hội trưởng Tú đã đưa ra bản ” Dự Thảo” chương trình làm việc với ông Thị Trưởng qua những đề mục đã được thông qua với nhau như sau :

 

1) Về Hội Trường: Ban nhạc Vinof tập dượt mỗi tháng 02 lần. Họp BĐH mỗi tháng 01 lần. Sinh hoạt cho trẻ em và người lớn tối thiểu 06 lần mỗi năm.

2) Về sinh hoạt sắp tới: Vinof. Có 05 sinh hoạt phải làm trong thời gian tới đó là:

a) Làm julekort dành cho trẻ em ,do bà Kari Elsval. phụ trách.

b) Hướng dẫn cho trẻ em về phương cách giữ gìn răng , do Cô Y Tá Kim

Phượng phụ trách.

c) Tổ chức Tết Nguyên Đán cổ truyền Việt Nam.

d) Tổ chức cho các em đi tham quan thư viện

e) Tổ chức cho các em đi thăm sykehjemme nhân dịp Giáng sinh.

3) Vinof cần giúp đỡ về tài chánh.

4) Vinof muốn có một buổi hướng dẫn về khái niệm về chính trị tại Nauy cho lớp thanh thiếu niên Việt Nam.

5) Vinof mong có một vòng du lịch bằng tàu tại nội địa cho người lớn và trẻ em.

6) Và phần cuối cùng là trong khả năng của Vinof có thể làm được gì cho quý vị.

 

Qua trao đổi và ghi nhận của ông Thị Trưởng Øivind Sand.

 

1) Ông sẳn sàng giúp cho Hội Vinof mượn Hội Trường miễn phí khi Hội thông báo cho Ông biết ngày giờ chính xác lúc nào tổ chức.

2) Ông sẽ thông qua Rælingen kommune tìm cách giúp đỡ cho Vinof một ít tài chính cho các sinh hoạt sắp tới. Và nhất là cây đàn gita và đàn base cho ban nhạc.

3) Ông sẽ thông qua Ban xây dựng của Rælingen Kommune, tìm cho Vinof một vài công việc thiện nguyện để Vinof có thu nhập cho ngân quỷ.

4) Ông dự kiến vào ngày 16.11.11 sẽ tổ chức một buổi hướng dẫn khái niệm về chính trị của Nauy cho thanh thiếu niên VN. Do Ông hướng dẫn . Có phục vụ giải khát.

5) Ông sẽ liên lạc và giúp cho Vinof có một buổi đi du ngoạn bằng xe buss và tàu thủy cho người lớn và trẻ em vào mùa hè sang năm.

  6) Và cuối cùng Ông nói rằng sẽ đưa những tin tức cần thiết lên trang mạng Vinof để cho mọi người được theo dõi và cập nhật. Và Ông hứa sẽ giúp đỡ Vinof nhiều hơn nữa trong phạm vi khả năng mà Ông có thể.

 

Tôi đề nghị ông cho phép tôi được chụp vài tấm ảnh lưu niệm. Ông cười dễ giải và ngồi xích lại gần anh Tú cho dễ chụp hình hơn. Sau khi anh Tú nói lời cám ơn. Chúng tôi chia tay nhau trong cảm giác lưu luyến và hẹn một buổi nói chuyện mới vào một dịp khác. 

 

Thật là một ngày tuyệt vời sau khi làm việc với một vị Thị Trưởng bình dân, cởi mỡ, đầy nhiệt tình và thân thiện. Bước ra xe, hai anh em chúng tôi còn mang nụ cười không dứt trên môi. Nghĩ đến anh chị em trong BĐH và một VINOF trong ngày mai, một lộ trình tràn đầy ánh sáng và hy vọng.

 

Làm tại Oslo ngày 28.09.11

Người tường thuật

Nguyễn Quy

 

 

 

 

 

 

 

-----------------------------------------------------------------

 

 

 

 

Phóng sự: Đêm nhạc " LIVESHOW KONGSVINGER"

 

 

Chiều ngày thứ bảy 18.06.2011,  từ 17.00 - 01.00 giờ , một chương trình ca nhạc sống và dạ vũ mang tên LIVESHOW KONGSVINGER đã được khai mạc thật long trọng và sôi động tại hội trường giáo xứ St. Klara , Kongsvinger.

 

Đêm nhạc "Liveshow Kongsvinger" được phối hợp giữa 2 đoàn thể, Hội Người Nauy Gốc Việt (VINOF) và Đoàn Thanh Thiếu Niên Dũng Lạc tại Kongsvinger. Chương trình được bắt đầu bằng nghi thức chào Quốc kỳ VNCH thật trang nghiêm, trong tiếng nhạc dập dồn oai hùng của bài quốc ca đã đưa tâm hồn người tham dự vào giây phút cùng lắng đọng để hướng về 2 màu cờ Việt - Nauy được treo trên trần cao thật trang trọng.

 

Tiếp đến là phần giới thiệu 2 vị đại diện cho 2 đoàn thể, anh Nguyễn Tiến Thành, hội trưởng hội VINOF và anh Nguyễn văn Thìn, đại diện Đoàn Thanh Thiếu Niên Dũng Lạc Kongsvinger cùng  nói lên mục tiêu và ý nghĩa của đêm  "Liveshow Kongsvinger". Trọng tâm của chương trình hôm nay là nhằm gây quỹ để góp sức với Ủy ban Xây Dựng Tượng Đài Thuyền Nhân Việt nam tị nạn tại Na-uy.

 

Bích chương giới thiệu xây dựng tượng đài thuyền nhân tỵ nạn

 

Nhìn quanh số quan khách tham dự tuy không đông như sự mong đợi của Ban tổ chức, nhưng không vì thế mà lấy làm buồn, vì thử đảo mắt nhìn trong hội trường sau 8-9 giờ tối, thì bàn nào cũng chiếm đầy chổ, bên ngoài sân từng tốp bạn trẻ đứng hóng mát trò truyện rôm rã, một vài đồng hương tay bắt mặt mừng vì lâu ngày có cơ hội gặp lại người thân quen nơi điểm hẹn. Phần lớn số khách tham dự đến từ các vùng phụ cận quanh tỉnh nhà Kongsviger và từ Moss, Oslo, Lillestrøm, Kløfta... xa nhất phải kể đến 1 anh bạn trẻ lặn lội từ Stavanger đến để góp mặt.

 

Chương trình LIVESHOW KONGSVINGER được sự giúp vui về âm nhạc của chính ban nhạc VINOF. Ban nhạc hòa âm, với những tiết tấu, giai điệu thật sôi động và nhịp nhàng. Đây chính là kết qủa của những tuần tập dợt kiên trì để rồi khẳng định lối chơi trẻ trung và đầy triển vọng của các anh em trẻ trong ban. Họ tìm đến với nhau qua niềm vui chung "Phục vụ vì lợi ích cho cộng đồng ". Sau phần trình diễn của Ban nhạc, tiếp đến là phần "anh chị hát chúng tôi đàn", thế là các giọng ca "cây nhà lá vườn" cùng với các giọng ca "tưởng rằng đã quên" của giới trung niên được thay nhau lên sân khấu trình diễn thật hào hứng, tạo cho bầu không khí   "Đêm Liveshow Kongsvinger" thêm phần vui nhộn và sống động.

 

 

 

Ban tổ chức khá chu đáo khi đề ra một lối ẩm thực cho quan khách. Bước tới quầy vé bạn được đóng mộc vào tay với giá ủng hộ 100 kroner, trong vé này bao gồm cả 1 dĩa thức ăn cơm nóng với món thịt heo xào rau cải thơm ngon, cộng thêm mấy cái chả giò đặc sản của ban ẩm thực Kongsvinger. Chẳng thế mà nhiều vị khách đã phá lệ làm luôn đến 2-3 dĩa  trong suốt chương trình (50 kroner cho mỗi dĩa bạn muốn ăn thêm..). Nước giải khát , bia lạnh bạn tự mua riêng không nằm trong xuất ăn.

 

Chương trình "Liveshow Kongsvinger" kéo dài đến 1 giờ khuya với các tiết mục từ đơn ca, song ca, hợp ca, cho đến màn dạ vũ disco. Hòa trong tiếng nhạc dập dìu cha cha cha, từng  đôi  từng đôi mời nhau ra sàn nhảy lả lướt  tạo nên một không gian lãng mạn như trong lời  của bài hát Hôm nay ai đưa em về; " Thời gian ơi xin dừng lại, thời gian ơi xin dừng lại, cho đôi tình nhân yêu trong muộn màng ....".

 

Âm nhạc tạo cho đời sống thêm thi vị. Âm nhạc mở cửa cho tâm hồn. Vâng, sau những giây phút lo toan trong cuộc sống hàng ngày, đây chính là cơ hội cho các bạn trẻ cùng qúy vị trung niên tìm lại những giây phút thư giãn tinh thần sau một tuần làm việc mệt nhọc. Sự có mặt của đồng hương trong đêm "Liveshow Kongsvinger" cũng nói lên niềm vui cho chính mỗi người trong việc góp tay chung sức với Ủy ban Xây Dựng Tượng Đài Thuyền Nhân Việt nam tị nạn tại Na-uy đang trong thời gian tiến hành. Đồng thời hơn lúc nào hết đây chính là dự án "Để Đời" để nói lên niềm tri ân của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn của chúng ta đối với đất nước Nauy, lưu lại cho hôm nay và mãi mãi cho các thế hệ con cháu chúng ta mai sau.

 

Lê Nguyên

 

 

---------------------------------------------------------------------------------------

 

 

 

 

Ô sin ...Aupair ..gratis  (7)

Intet Våger, Intet vinner (*)

 

Tôi không giỏi chữ ”Tây” của xứ này, nên dịch lối nói ở tựa đề bài viết là: ”Không vào hang cọp, không bắt được cọp”. Viết xong, để chắc ăn, tôi lấy cuốn tự điển ra tra, xem nghĩa chính xác của nó là gì. Tự điển ghi rõ: ”Kẻ nào có gan thì làm giàu”. Chà!...không hiểu lối dịch của tôi có đồng nghĩa không. Bây giờ, tôi kể ra sự việc đế người xem cho ý kiến.

Sau khi hẹn tới lui đôi lần, chúng tôi gặp nhau vào lúc 14:00 ngày thứ năm vừa qua (Xin nói qua là: không phải vì ” Ô sin” của tôi là phái nữ mà được sự ưu tiên đó, một người khác - người đã dành căn phòng của anh ta để ” Ô sin” làm cuộc phỏng vấn đầu tiên) cũng đã cho tôi ”leo cây” nhiều lần, hơn cả  ” Ô sin” nữa.

 

-         Vừa rồi, không gặp được vì đã có hẹn một cuộc phỏng vấn khác. ” Ô sin” nói.

-         Tôi tưởng lúc đó đang ở Luân Đôn, nên gửi mail nói vui là, coi chừng bị bắt cóc.

-         Vừa rồi, tôi có liên lạc với một nhóm trẻ và đã đi ăn sáng với họ đôi lần...

-         Việc phỏng vấn được nới rộng đến những khu vực khác, tạo sự dễ dàng hơn là chỉ làm

việc tại khu vực Groruddalen.

 

Tóm lại, như người đọc đã theo dõi, ” Ô sin” của tôi không chỉ có ”jobb” này (liên quan đến luận án còn đang dang dỡ ...chưa biết có được công nhận  (god kjent) hay không) .... mà còn có công việc ”Støtte kontakt” ...rồi làm việc cuối tuần trên du thuyền có tên Color Line. Do đó, thật sự mà nói, một cái hẹn được thực hiện là một sự sắp xếp khá công phu.

 

-         Tôi chưa thật sự hiểu tại sao anh lại muốn tôi ghi lại những cảm xúc trong những lần

Làm phỏng vấn ..?

-         Dĩ nhiên, ghi lại rồi lưu giữ thôi ...còn để đăng các bài viết về những sự việc đó không

phải là lúc này.

-         Mục đích ...

-         Một cuốn sách, dù viết về đề tài nào, nếu do một người nước ngoài thực hiện, vẫn có

nét hấp dẫn riêng. Có thể điều đó có tỉ lệ là trên 50%. Nhưng, nếu do một người bản xứ cùng cộng tác, sự hấp dẫn, theo riêng ý tôi, sẽ tăng nhiều hơn !....

 

Việc cho in một cuốn sách là việc dự định từ lâu của tôi. Dự định khác là cho in một cuốn sách nói về những điều đã xảy ra tại đất nước này (nói rõ hơn, nếu nội dung cuốn sách đó là một cuốn truyện tình cảm, tình cảm ấy sẽ có liên quan kiểu nào đó với một người bản xứ một cách cụ thể). Tôi đã nói điều này, dù thoáng qua cho cô ta nghe, ít nhất đã một lần.

 

-         Nhưng, bằng cách nào.

-         Tôi vừa đọc được một thông báo đăng trên báo, nội dung là  Hội nhà văn và dịch thuật

Na Uy (Norsk faglitterær forfatter- og oversetterforening) sẽ tài trợ tiền (gọi là stipend) cho những người muốn in một cuốn truyện hay một cuốn sách chuyên ngành nào đó. Tạm thời chúng ta quên chuyện này ...Bây giờ, nói về việc làm hôm nay.

 

Qua lần gửi mail của cô ta trước đây, cô ấy gợi ý sẽ cùng đi dán "quảng cáo" lớp dạy tiếng Việt dành cho người Na Uy. Sau đó, khi làm việc này tại trường Cao đẳng, cô ấy sẽ tự làm một mình. Có ai tích cực được như thế này nhỉ ?!...Trong Ban điều hành, anh cựu Hội trưởng và tôi đã đôi lần làm việc này ngoài phố, khi Hội cần đưa thông báo đến mọi người  (bên cạnh việc đưa tin lên trang mạng).... nhưng, với một người mới "làm quen" với Hội như cô Ô sin này, đây không phải là chuyện thường tình.

Lúc cô ấy đến phòng vệ sinh, tình cờ tờ giấy trong cuốn sổ ghi chép mà cô ta ghi lại những điều chúng tôi đã bàn lúc nãy, rớt ra ngoài cuốn sổ. Cuốn sổ được đặt hơi chênh, trên túi xách căng phồng, nên đã rơi xuống đất, vô tình giúp tôi giảm được nỗi thắc mắc từ lúc cô ta gửi mail đến tôi, để có cuộc gặp mặt hôm nay. "Twenty years from now you will be more disappointed by the things that you didn't do than by the ones you did do. So throw off the bowlines. Sail away from the safe harbor. Catch the trade winds in your sails. Explore. Dream. Discover (Marktwain) (**)

Cám ơn nhà văn Marktwain ...và những hoạt động của các Hội đoàn mà cô ta đã từng là thành viên, trong thời gian cô ấy đi học. Nếu chỉ thuần túy đi học, chắc cô ta không cảm nhận nhanh chóng về các việc làm vô vụ lợi này. Chúng tôi làm xong công việc ấy một cách hài lòng ...vì việc này phù hợp với chủ trương ban đầu, khi chúng tôi bàn về lớp học này là (cũng như lớp dạy kèm các môn học sinh Việt Nam yếu, kém trong trường học), nếu mọi việc như tính toán, chỉ cần bù đắp xong những chi phí và không phải bỏ tiền túi ra là tốt.

Tạo ra một chương trình làm việc chung (có thể gọi là dự án không) mà cả hai đều hăng hái bỏ công sức -ít ra vào thời gian đầu- không nề hà điều chi ...và chưa biết sẽ gặp trở ngại gì trong khi thực hiện, có khác chi đi vào hang cọp. Bắt được cọp hay không thì chưa biết được, nhưng có tính lời lỗ gì ở đây đâu mà nói là: ”Kẻ nào có gan thì làm giàu”.!!..

 

Đặng Quang Chính

Oslo 11.04.2011

00:19

 

 

Ghi chú:

* Nothing venture, nothing gained.

**  Tạm dịch: Hai mươi năm tới, anh sẽ thất vọng hơn bởi những việc anh đã không làm hơn là những gì anh đã làm. Hãy dong buồm. Hãy ra đi từ một cảng an toàn. Nắm bắt lấy những ngọn gió thuận lợi trong chuyến hải hành. Mạo hiểm. Mơ ước và khám phá.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ô sin ...aupairs ...gratis  (4)

 

Vấn nạn lớn nhất của con người là: có cuộc sống nào sau khi người ta đã ”đi khỏi” cuộc đời ô trọc này. Và trong cuộc sống đó, đôi khi lại có những vấn đề nảy sinh với những câu hỏi khác nhau. Lần này, tôi xin được nêu ra hai vấn đề có liên quan đến vụ cô ” Ô sin” của tôi.

 

 

 

 

Trong bài viết vừa rồi, có câu hỏi được đặt ra rằng: liệu tôi đã làm việc ”Giao trứng cho ác”?. Tôi chưa dịch bài đó để gửi cho cô sinh viên này ...bởi như đã nói, tôi thắc mắc rằng điều ấy có thể gây ra ấn tượng nào đó không tốt nơi người đọc. Nay, được email của cô ta, nội dung nói về 2 điểm như sau: (1) phỏng vấn một người làm tại một cơ quan công quyền của Na Uy (2) việc mời cô ta dự lễ Tết Việt Nam.

 

"Câu hỏi được đặt ra là: tại sao phỏng vấn người làm việc tại một cơ quan công quyền?...Đúng ra, phương hướng của cuộc nghiên cứu là làm phỏng vấn những người Việt ở trong khu vực Grorudalen!....Do đó, dù ai gợi ý việc làm này (cô sinh viên hay anh chàng nhân viên đó)...điều đó có cái gì không ổn. Người nghiên cứu, vì say mê một khía cạnh nào đó, có lúc đi lạc hướng; điều đó không có gì phải ngạc nhiên. Nhưng, anh chàng kia, nếu có chủ ý gì khi gợi ý việc đó  (để được phỏng vấn) thì chủ ý đó nhằm vào mục đích gì. Trong bài trước, tôi có viết đại ý rằng, người Giám đốc trường sinh ngữ (chúng tôi đến thăm) còn chưa chắc phân biệt được anh chàng này thuộc loại "mèo trắng" hay "mèo đen" ...nói chi là cô sinh viên người bản xứ. Anh ấy, chắc chắn biết anh ta thuộc loại nào rồi. Nhưng, từ trước đến giờ, anh có bao giờ tự mình giới thiệu cho kẻ khác biết anh ấy là ai đâu...vì hình như có điều gì không tiện (?) khi anh ta phải kể ra, anh là người của tổ chức nào. Do đó, nếu cô này tiếp nhận được những thông tin của những người mà họ không dám nêu đích danh tổ chức mình phục vụ ...liệu những thông tin ấy có đáng tin cậy không?....

 

Thôi thì!...chuyện nghiên cứu là chuyện của người khác. Dở, hay, mặc xác họ. Nhưng chuyện đúng, sai, phải, trái thì khác. Như văn hào Liên xô Alexandre Soljenitsim nói: "Khi thấy thằng CS nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở lại nghe nó nói láo. Nếu không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác". Đằng này, chẳng phải ta phải ngồi nghe, mà ta biết có người sẽ nghe người khác nói láo, liệu ta có thể làm ngơ!...

 

Cái tính khí: "Giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha" tiềm ẩn trong nhiều người, những người Việt Nam lưu vong. Vì thế, cuộc chiến cho tự do, nhân quyền, dân chủ đã kéo dài hơn 30 năm qua. Họ chẳng phải là công thần của chính quyền miền Nam, trước năm 1975. Họ chẳng có chút ân huệ, bổng lộc gì của chế độ đó. Bây giờ, chẳng ai thuê mướn họ. Việc họ làm, họ thấy đó là chuyện phải làm...vì bất công tràn đầy tại nơi mà họ đã trưởng thành, sinh sống trước kia. Có thể nào chấp nhận được chuyện, người dân nghèo đói, vì sự sống mà rời nước ra đi, bị gắn tội phản quốc, bị bắn chết còn hơn con thú bị người khác bắn vì săn thịt; -kẻ bị bắn trong trường hợp này nhằm chỉ để thoả mãn thú tính của kẻ đã nắm được quyền hành- trong khi đó, bọn cầm quyền, có đủ quyền lợi trong tay, gia sản đời con cháu ngồi chơi, ăn không hết ...đem lãnh thổ, lãnh hải ra bán cho nước khác, lại có quyền săn đuổi người khác. Trước đây, khi dân chúng vượt biên, họ cho lính săn lùng, tìm bắt. Nay, kẻ nào đem tiền về, họ gọi là "khúc ruột ngàn dặm". Nhưng, dù kẻ đó có đem tiền về, nếu bị ngờ là tìm cách chống đối sự cai trị sai trái của chúng, chúng không cho phép kẻ đó về, dù là thăm lại quê hương. Làm như là đất nước VN là của riêng họ!!....

 

Như thế, nhân cơ hội cô ấy cùng đi dự buổi lễ mừng Tết, tôi sẽ tìm cách nói ra sự thật này?. Hôm ở trường sinh ngữ, tôi không nhớ có chính thức mời cô sinh viên này tham dự lễ Tết không. Nói thế, vì có thể, do anh Giám đốc gợi ý việc đi dự lễ (có lần, trước kia, anh ta đã cùng với tôi đến dự buổi lễ mừng Tết ở Chùa)...rồi gợi ý cô này cùng đi để biết thêm vài nét về văn hóa người Việt, nên tiện thể tôi mời luôn cô ấy. Dù sao, cái việc tôi đã làm ...bây giờ, sự gắn bó với cô ấy vẫn còn.

Vấn đề gắn bó với cô ấy chỉ là một thể hiện khác của sự gắn bó với việc làm phục vụ tập thể của tôi; ở nhiều mức độ cao, thấp khác nhau. Câu nói dân gian: "Con tằm đến chết vẫn còn giăng tơ", trong trường hợp này, có vẻ đúng ít nhiều, cho đến thời gian bây giờ.

 

Không nói đến chuyện lâu rồi, trước năm 1975 (mà đúng ra, thời gian đó, tôi chưa bước hẳn vào tuổi trung niên). Thời gian 14 năm sau khi chính quyền miền Nam thất trận, bị lật đổ, tôi có dịp biết rõ hơn về chế độ CS; hơn là những gì tôi biết trước kia, khi còn học dưới mái trường của hai nền Đệ nhị Cộng hoà. Lúc đó, tôi đã có ý nghĩ là, nếu kiếm được cách nào liên lạc với các tổ chức yêu nước tại hải ngoại, liệu chăng cách đó mới đem lại sự thay đổi đối với chế độ. Từ năm 1985 trở đi, khi nhiều người cho rằng, đời sống có phần dễ thở hơn trước, là lúc tôi cảm nhận phải ra đi ...bởi một sự liên hệ xa gần trước đó, mà người chủ chốt là một nhà sư, đã bị án tử hình (sau, đổi thành chung thân?). Sau bao cố gắng, đảo Bi dong là miền đất tạm dung của tôi vào năm 1989. Thế là từ đó, từ ngay lúc còn ở trại tị nạn, "con tằm" đã làm việc giăng tơ từ lúc ấy.

 

 

Kể cũng lạ!...Trong khi mọi người sống hồi hộp, căng thẳng với sự bị thanh lọc, bị xếp vào thành phần tị nạn về kinh tế, có thể bị gửi trả lại VN...thì tôi, như đinh ninh rằng, mình sẽ hưởng được qui chế tị nạn chính trị. Không phải vì tôi là cựu quân nhân và đã bị tù cải tạo (có ông Đại tá đã bị đánh rớt trong đợt đầu!...). Không thể chỉ vì cái nhóm mà tôi đã thành lập (Nhóm "Câu lạc bộ Khoẻ", một nhóm do tôi khởi xướng và có sự góp công sức của nhiều anh em khác. Đó là nhóm duy nhất trên đảo không do bộ phận làm việc của Cao uỷ tị nạn thành lập, cũng chẳng là bộ phận làm việc của chính quyền cơ sở tại đảo Bi Dong (Malaysia). Tên gọi nghe giản dị, nhưng nhóm này đã có nhiều hoạt động sôi nổi tại trại. Nhóm đã cùng với những thành phần khác của trại tiến hành việc dọn dẹp, chỉnh trang lại các ngôi mộ hoang trên đảo. trước khi đảo bị đóng cửa. Nhóm đã có một thành viên mổ bụng để phản đối chính sách thanh lọc của của Chương trình hành động chung -Chương trình do Cao ủy tị nạn LHQ đề ra, do nhiều quốc gia Tây phương khác thoả thuận hợp tác thực hiện, nhằm chấm dứt việc vượt biên tại VN-)... mà vì tôi tin vào cái tính chính trị đã đi liền với con người mình; nói đơn giản, là cái tính "muốn sửa đổi cái việc không ngay thẳng". Nói chi tiết hơn là, đi vì kinh tế hay chính trị, qua được thanh lọc hay không, là việc làm của người khác (Cao uỷ tị nạn) ...còn tính chính trị có hay không, mình tự biết nơi mình. Có về lại VN, tôi sẽ tùy cơ tiếp tục cái tính đó. Có đi nước ngoài, tính ấy vẫn còn tiếp tục. Vì thế, vào lúc này -lúc tôi đang viết những dòng chữ này- nghĩ lại việc tôi làm hồi đó, tôi thấy quả là hơi "Lãng mãn cách mạng"! (cái lối suy nghĩ của Tiểu tư sản trí thức, theo lối nói của người CS). Hồi đó, tôi muốn nói ở đây là, ngay khi vừa bước chân đến đất nước này, tôi vẫn còn gửi một lá thư cho Cao Ủy ở trại, gợi ý một chương trình, nhờ họ giúp tôi cùng các anh em trong Câu lạc bộ ở Bidong -những anh em bị sẽ bị trả về VN- được cùng nhau làm một việc gì đó, ngay tại VN!. (Lá thư đó và thư trả lời của Cao Uỷ hiện giờ vẫn còn được tôi cất giữ đâu đó).

 

Cách nay khoảng 5(6) năm, tôi gặp lại một người cùng trên ghe vượt biên (MC 411), cùng trong Câu lạc bộ, cùng ở trại Bataan (Phi), cùng qua Na Uy (trước sau nhau không lâu). Anh chàng, khi đến đất nước này vẫn còn độc thân; bây giờ, hai con, nhà cửa đàng hoàng. Anh có vẻ hơi ngạc nhiên, khi thấy rằng, công việc cộng đồng vẫn còn sức thu hút tôi như thuở nào. Hiện nay, nếu gặp lại anh ta...và nếu anh không còn ngạc nhiên, tự đặt lại bài toán như có lúc anh đã hỏi, ý đại khái: "Sao ông thầy không lo gì vụ nhà cửa để ổn định đời sống ...cứ làm việc cho tập thể mãi hay sao?...", (anh ấy học Anh văn với tôi ở đảo ...và kêu thế theo phép lịch sự của riêng anh ấy), tôi sẽ đọc cho anh hai câu thơ (?) mà tôi mới thấy đâu đó.

 

Hãy cứ cho thêm, hãy còn cho mãi

Mai ta đi nào kịp vẫy tay chào.                                   

(Phạm Nhuận)

 

Viết ra vài điều riêng tư, mong người đọc thông cảm, không nên tưởng rằng, đó là cách tôi muốn "đánh bóng" mình. Tôi lấy một chút kinh nghiệm bản thân, để chứng minh rằng, như đã nói trên, "...Vì thế, cuộc chiến cho tự do, nhân quyền, dân chủ đã kéo dài hơn 30 năm qua. Họ chẳng phải là công thần của chính quyền miền Nam, trước năm 1975. Họ chẳng có chút ân huệ, bổng lộc gì của chế độ đó. Bây giờ, chẳng ai thuê mướn họ. Việc họ làm, họ thấy đó là chuyện phải làm...vì bất công tràn đầy tại nơi mà họ đã trưởng thành, sinh sống trước kia". Qua đó, tôi muốn nói, có nhiều người ra sức đóng góp về việc chung còn nhiều hơn tôi; vì thế, cuộc đấu tranh cho chính nghĩa đến bây giờ vẫn còn tồn tại.

 

Bởi vậy, nay mai, nếu các bạn thấy tôi không còn làm việc với cô Ôsin này...chắc hẳn, tôi còn làm việc với nhiều cô Ôsin khác của người bản xứ; nghĩa là, vẫn tiếp tục phục vụ tập thể, dù chẳng ai bó buộc. Tóm lại:

 

                                         ”Khi chưa chết tôi sẽ cùng bè bạn

                                          Dẫu sức tàn tôi cũng quyết đấu tranh

                                          Trời Âu Mỹ đâu cần gươm với súng

                                          Chỉ cần lòng chung thủy với non sông(*)

 

 

Đặng quang Chính

Oslo 30.01.2011

11:48

 

 

 

 

 

Ô sin...Aupair...gratis (3)

Trong bài viết trước, tôi có nói về vai trò trung gian của mình, một vai trò không đem lợi ích cho riêng bản thân. Cuối bài đó, tôi nghĩ rằng vai trò của mình đến đây là chấm dứt. Nhưng không...

Hôm gặp nhau tại nhà ăn Fredrerikk của Đại học Oslo, Catherine nói ý là, lúc này, ngành học về Châu Á, có nhiều sinh viên ghi danh. Tôi nói thêm, số sinh viên du học Trung Quốc khoảng 10 năm gần đây đã tăng lên con số đáng kể. Số sinh viên Mỹ sang Trung Quốc học cũng thế. Nghe vậy, Catherine hỏi là tại Đại học này đã có môn về Nhật, Đại Hàn...mà không thấy có môn học về Việt Nam. Tôi trả lời, hơn 15 năm trước, tại Đại học Bergen, có môn học này...nhưng nay đã chấm dứt. Catherine nói, cô cũng muốn học nhưng không biết học ở đâu. Tôi đành trở lại chuyện cũ, khoảng năm 1995 (1966) khi chúng tôi mở một khóa tiếng Việt cho người Na Uy.
Chuyện cũ được khơi lại khoảng một tuần sau đó, từ ngày hai người gặp tại nhà ăn, như nói trên.
- Ở đây chỉ có thể có các khóa học dành cho các nhóm từ 6 người trở xuống. Ông Giám đốc trung tâm ngoại ngữ giải thích cho người khách mới đến, đang ngồi bên tôi.
- Trong lúc chờ ông đến, tôi đã nói với bạn đồng nghiệp của tôi...(vừa nói tôi vừa đưa mắt nhìn người bên cạnh)
- Với cách tổ chức khóa học như vầy, việc học mới có hiệu quả!...Ông ấy nóng lòng giải thích tiếp.

Lần tổ chức dạy tiếng Việt cho người Na Uy, tôi không thể mướn trường của ông Giám đốc này là vì lý do đó. Hội đoàn tổ chức dạy tiếng Việt mà lấy học phí quá cao thì xem sao được. Hội đâu phải là một trường tư thục. Đồng ý là, lối dạy đó (hạn chế học viên) cho hiệu quả cao, vì dạy học là nghề "của chàng"; tôi biết quá rõ điều này mà. Còn tôi giới thiệu vui "Ô sin" mà tôi quen là đồng nghiệp...vì trước đó không lâu, trong khi chờ đợi người Giám đốc đến, Catherine đồng ý sẽ gia nhập nhóm dạy học của chúng tôi (Dĩ nhiên, nếu được phân công, trước nhất, cô ta sẽ dạy lớp cơ bản, cho người Việt mới học tiếng Na Uy....rồi chuyện gì nữa, sẽ tính sau).

Tuy là Giám đốc Trung tâm sinh ngữ, ông ấy được đào tạo như là một người chuyên ngành về kinh tế và thương mãi. Nghề "Marketing" chắc ông ta cũng thông ...nên đưa thí dụ rất vui vui, nghe dễ hiểu như sau:

- Đi xe buýt, giá rẻ...nhưng không thoải mái. Đi Taxi, được phục vụ tốt hơn, nhưng đắt tiền. Còn trường đây như là Mini Taxi, không mắc như Taxi, nhưng hiệu quả phục vụ cũng ở mức đáng kể. À!...còn trường ông bạn của anh ở VN ra sao. Ông ấy hỏi và cười cười....

Vì biết có lần ông ấy đã dự định mở Trung tâm sinh ngữ ở Thượng Hải, tôi biết ông ấy hỏi dò câu này cho có chuyện, nên tôi lại hỏi ngay ông ấy về dự tính cũ, xem công chuyện đã đến đâu rồi.

- Dân Châu Á nhanh lẹ, láu cá (smart!...) lắm!. Ở đây, mọi việc cứ từ từ, chậm rãi. Việt Nam bây giờ cũng giống như Trung Quốc. Đời sống người dân đã khá hơn trước. Nếu có thay đổi, không biết mọi việc có khá hơn không?.....
- Mọi việc đâu có thể ở thể tĩnh được. Các yếu tố bên trong hay ngoài sẽ làm nó tự thay đổi đi.

Tôi nói thêm ít câu nữa. Nhưng, có một câu lẽ ra là câu kết luận, tôi lại không nói ra. Đó là, doanh nhân là người cần các yếu tố có lợi cho việc họ đầu tư mà thôi. Có người nói, bọn tư bản là loại người không có tổ quốc. Ai cũng biết, các xí nghiệp, công ty lớn của Mỹ, kéo đến làm ăn tại Trung Quốc, không phải vì quyền lợi của nước Mỹ. Chỉ vì túi tiền của riêng họ. Nếu tôi nói ra, chắc anh chủ trường này cũng đồng ý...mà rồi cũng chẳng đến đâu. Mục đích tôi giới thiệu Trung tâm sinh ngữ đến người sinh viên này, để cô ta biết được, đây là nơi tôi tiếp xúc đầu tiên, định mượn địa điểm tổ chức khóa học tiếng Việt. Nơi trước kia tổ chức khóa học đó, bây giờ là tòa nhà của UDI (Sở Di trú), làm sao mà đến được. Hơn nữa, nay mai, nếu dự định mở tiếp khóa học đó (trong đó có cô Ôsin này là học viên) và chỉ có ngần ấy số người tham dự (6 học viên), biết đâu, chúng tôi cũng giúp đựơc một ích lợi gì đó cho học viên, bằng cách cho họ đi Mini Taxi, nếu họ muốn.

Tôi không muốn nói hết sự thật, có thể vì vậy ông ta muốn nói hết sự hiểu biết của ông ấy về VN. Ông kể là có lần được Toà Đại sứ VN mời tiệc. Nhà họ ở, lớn như dinh thự ...nhưng dù đi Mercedes, họ không có tiền đổ xăng. Lúc đó còn thời bao cấp. À!... ông ấy nhớ hồi ông ta còn ở bên Pháp. Tôi lại định nói thẳng là, dù ông có quen biết họ đến thế nào, ông cũng không phân biệt được, hiện nay, người Việt mà ông quen, ai là người thân Cộng hay không. Mà quên! ...với những doanh nhân, mèo trắng hay mèo đen cũng không sao, miễn là nó bắt được chuột!.

Trên đường về, chúng tôi không đi xe buýt, xe Taxi... không đi Mini Taxi và cũng chẳng đi xe điện ngầm (a). Nhưng, nhờ đi bộ, chúng tôi có thời gian trao đổi thêm một số câu chuyện. Tôi nói về cuốn sách "Nest stopp Nordpolen"(Sách do cơ quan NOVA tuyển, nhà xuất bản Orkana, -(b). Tôi muốn nói về lý do rời nước, ra đi tìm tự do của người Việt ở hải ngoại. Nhưng, hơi khó nói cho tôi, ở chỗ, nếu đó là những điểm đối chọi với câu chuyện của anh chủ trường, hóa ra, dù anh ta có đôi điều nói sai, nhưng vì việc có thể mướn Trung tâm của anh ấy, mình vẫn vác xác đến ngôi trường này?.... Nghĩ mà ấm ức làm sao?....
Chợt nhớ đến câu chuyện của một người quen, được thuật lại qua điện thoại, trong ngày hôm trước, tôi cảm thấy cái ấm ức đó vừa buồn cười...vừa muốn nó biến mất cho rồi. Anh ấy kể, một hôm hai vợ chồng anh ta tham dự buổi phỏng vấn của một người Na Uy. Người phỏng vấn làm việc bên ngành sức khỏe, muốn tìm hiểu xem, người nước ngoài, khi về già, ở trong các Trại dưỡng lão, sẽ có những nhu cầu gì. Một vài người nói, ngoài thức ăn theo kiểu Á Đông, họ còn muốn có sách báo tiếng Việt cho cha mẹ, ông bà của họ xem. Hai vợ chồng trình bày, ý nói là, đừng đòi hỏi quá đáng. Những người kia bèn hỏi ngược lại rằng, có thể vì hai vợ chồng người này không đi làm, không đóng thuế....nên cảm thấy ngại khi đưa ra những nhu cầu cần thiết. Họ nói thêm, hồi cha mẹ, ông bà của họ còn đi làm được, họ đã đóng thuế, bây giờ có quyền đòi hỏi đúng mức chứ!.
Nghe anh chồng kể chuyện trên, tôi thấy có gì hơi lấn cấn. Chẳng qua, cũng như việc đi thông dịch mà thôi. Nói theo ý của người "mướn" thông dịch (vai chánh trong sự việc) thì đôi khi người làm công việc thông dịch thấy kỳ kỳ làm sao...mà không nói như ý họ thì họ tỏ ý buồn phiền!. Tuy nhiên, sự việc tiếp theo khiến tôi thấy cũng kỳ kỳ không kém.

Nghe hai vợ chồng đã tham dự một cuộc phỏng vấn, tôi mau mắn giới thiệu về luận án Master của cô sinh viên Na Uy. Người chồng hỏi, rồi đến người vợ. Bởi trình bày bằng tiếng Việt, tôi bảo đảm nội dung đã được chuyển đến hai người không có gì khác nhau (Nếu có, chắc chỉ khác một đôi chữ). Nhưng, khi tôi hỏi người vợ của anh ta có thể cho một cuộc hẹn không, tôi được hỏi lại như sau:
- Anh có số điện thoại của cô sinh viên đó chứ?
- Để tôi xem lại trên trang mạng..rồi sẽ cho hay (www.vinof.no)
Xem xong, tôi gọi lại. Anh chồng bắt máy
- Bà xã tôi nói, nói với cô ấy, nếu muốn làm cuộc phỏng vấn, cô ấy điện thoại đến chúng tôi.
- Sau khi tôi đã trình bày mọi việc....chị ấy nói tôi cho số điện thoại của cô sinh viên để chị trực tiếp trao đổi với người đó mà...

Sự việc xảy ra không quá 3 phút (từ lúc ngưng, lên mạng- máy vi tính đang hoạt động- đến lúc gọi lại) thế mà cứ y như là chuyện đã xảy ra một hai ngày trước. Tôi còn nhớ đến cảm tưởng là lạ nơi tôi, khi người vợ đòi hỏi muốn có số điện thoại để nói trực tiếp (gây cho tôi ý nghĩ là, tôi có thể hiểu sai ý của cô sinh viên)... rồi sau đó không lâu, bà vợ lại muốn cô sinh viên trực tiếp gọi đến. Trời ơi!...gì mà nhiêu khê thế. Chả bù với hai lần phỏng vấn vừa qua....Mọi người thoải mái, vui vẻ. Cả bên phỏng vấn lẫn bên được phỏng vấn. Làm "nghề" trung gian, không có lợi (cho cá nhân, trong trường hợp này)... mà đôi khi còn gặp điều có vẻ rắc rối đấy!.

Cô sinh viên, có lẽ thấy tôi, trong lúc nói chuyện mà nét mặt, lúc đăm chiêu, lúc buồn cười sao đó...nên nói cho tôi hay về dự định sẽ gặp một người, cư trú tại Drammen. Người đó sẽ giới thiệu cho cô gặp những người khác để thực hiện các cuộc phỏng vấn sau này.
- Làm sao người ấy biết Catherine
- Anh ấy nói là đọc tin trên trang mạng của Vinof
- Anh này làm việc ở đâu
- Ở UDI
- Tên gì ?...
- Tên ….
- Thôi rồi …Với người này, anh chủ trường quen với tôi còn chào thua, không biết phân biệt đó là mèo trắng hay mèo đen ..huống hồ là cô sinh viên này.

Chia tay cô sinh viên, sự ấm ức nhường chổ cho sự băn khoăn. Mình, vì tập thể, muốn người bản xứ hiểu rõ hơn về quá trình hội nhập của người Việt tại xứ sở này. Tuy thế, khi gặp điều khó giải thích, tôi biết nói sao cho người ta hiểu hết ý mình. Đôi lúc, mình nói sự thật, mà ấn tượng để lại nơi người nghe lại là điều không tốt; vì với tình thế rối rắm như của đất nước ta hiện nay, có khi cả những người đồng hương của chúng ta còn chưa thông cảm hết với nhau, nói chi là với người ngoại quốc. Chẳng hạn, hiện tượng ca sĩ Đàm vĩnh Hưng, bao nhiêu phần trăm chống, bao nhiều ủng hộ. Do đó, tuy hết lòng giúp người khác, nhưng, biết đâu tôi đã làm việc “Giao trứng cho ác”!.


Đặng quang Chính
Oslo 22.01.2011
00:56

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ô sin …aupair…gratis  (2)

 

Người đàn bà chủ nhà ngồi phía trái tôi, hơi chếch, để trực diện với cô Na Uy ”Ôsin”, ngồi hơi xéo ở phía phải tôi. Thế là sau vài lần điện thoại qua lại với hai bên, tôi đã ”móc nối” được hai đối tác. Nhưng việc trung gian này quả thật chẳng đem lợi riêng cho cá nhân tôi một chút nào!.

 

Trước nhất là phải làm ”thông ngôn” bất đắc dĩ sau khi hai người đã chào xã giao qua loa với nhau. May là, thời gian đó kéo dài không lâu, vì thật ra, chủ nhà nói tiếng Na Uy cũng tương đối tốt. Chị ta nghe cũng khá. Do đó, tôi có thời gian nhìn quanh phòng khách này.

 

Bàn thờ ông bà, có nét của người theo đạo Thiên chúa, cũng đơn giản. Đơn giản như cách nói của cô ta qua điện thoại và qua việc đích thân cô ta, ra đến chổ đậu xe, đón chúng tôi. Sự đơn giản gần như kéo theo cái chân tình làm tôi có cảm tưởng không phải đây là lần đầu đến nhà của cô ta.

-  Em cũng muốn học thêm tiếng Na Uy. Chủ nhà nói xong tiếng Việt với tôi, đồng

thời nói ngay ý đó cho cô Ô sin.

-         Hội đã định mở lớp dạy tiếng Na Uy và tiếng Việt từ lâu. Chỉ kẹt là không có và

cũng chưa mướn được một địa điểm (tôi dùng luôn tiếng ”lokal”).

- Lokal ở dưới lầu này nè!...

 

Chị chủ nhà là sở hữu chủ một ngôi nhà ”rekkehus” (nhà chung vách cất theo dãy). Gia đình cô ấy dọn đến ở nơi này đã được năm năm. Không hiểu tại sao khi tôi dò tìm địa điểm qua số điện thoại (trên mạng 1881.no) chẳng thấy nhà này trên bản đồ trang mạng. May là đã lấy tên người chồng, khi nói chuyện qua điện thoại, nên mới kiếm ra… mà cũng chẳng thấy ghi rõ địa điểm căn nhà trên trang mạng này. Câu trả lời nhanh chóng và lời mời nồng nhiệt của chủ nhà có tính cách cũng giống như căn nhà này vậy. Sạch sẽ, ngăn nắp …nhưng thanh nhã hơn, nhờ giàn cây trồng trong nhà, trong đó có những cành phong lan cao với những bông to và đẹp.

 

Sự chân tình đó lan qua cô Ôsin người Na Uy. Lúc chị chủ nhà và tôi trao đổi là lúc cô ta ghi chép lại những gì đã đôi bên đã nói chuyện. Để tạo sự cân bằng hay do sự tự nhiên có được từ cách tiếp đãi của chủ nhà, Ôsin thỉnh thoảng gát ngược một chân kia lên trên cái ghế sofa đang ngồi.

- Thật cũng hên!...Tôi thành thật nói với chủ nhà. Rồi nói tiếp: ”giới thiệu người bản

xứ nét văn hoá của người mình thì điều đó thật mênh mông…nhưng, để họ có dịp gần gũi, thấy được cách sinh hoạt trong lối giao tiếp giữa người mình với nhau, giữa người mình với người Na Uy..thì tôi đã gõ đúng cửa”.

- Em có làm được gì đâu!...

 

Lần trước, cô sinh viên Na Uy, người làm dự án lấy bằng Tiến sĩ, một dự án tìm hiểu về văn hóa nước ngoài, đã phóng vấn hai người Việt Nam. Sau đó, cô ta viết một bài ngắn, nói về việc phỏng vấn đó. Nói chung, cảm tưởng của cô ta về việc đó khá tốt. Lần này, cô ta đến đây để có sự thoả thuận về một hợp đồng. Cô ấy muốn ở trong căn nhà này một thời gian, để tìm hiểu kỹ hơn về cách sinh hoạt, trong đó có cách chủ nhà làm các món ăn thuần túy Việt; cũng như xét xem, gia đình này đã trở nên quen với các thức ăn của người bản xứ đến mức độ nào.

 

Với Thủy, chủ nhà, cô khiêm nhường nói vậy. Với cô sinh viên Na Uy, chưa biết cảm tưởng lần này của cô ta ra sao. Nhưng, riêng tôi, tôi thấy mình đã đi được một bước khá dài….và cảm thấy hài lòng về việc làm lần này. Thật thế, so với việc gửi bài viết đến cơ quan có tên NOVA (norsk institutt for forskning om oppvekst, velferd og aldring) vào năm 2004, tôi thấy có những điểm cụ thể hơn. Dự án của NOVA đã bắt đầu việc làm của mình bằng cách in đến 500 tờ quảng cáo cho mười một ngôn ngữ khác nhau. Rồi phổ biến quảng cáo bằng nhiều cách, trong đó có các Thư viện tại Oslo, Bergen, Trondheim, Tromsø, Stavanger og Kristiansand. Gửi thư mời đến hội đoàn khác nhau. Rồi thông báo dự án này đến nhiều tờ báo, đài phát thanh...v.v.. những nơi có thể tiếp xúc trực tiếp với nhiều nhóm dân khác nhau...và người chủ dự án làm việc cả

với những nhân vật trung gian nữa.

 

NOVA muốn gom tất cả các bài viết được gửi về Viện này, dịch lại các bài viết đó thành tiếng Na Uy, rồi in thành sách. Hy vọng của NOVA là với sách đó, người ta có thể có được sự hiểu biết về những gì chứa đựng trong việc dân nhập cư đã rời đất nước của họ, tự nguyện hay bị bó buộc, đến một đất nước mà nơi đó không phải là sự lựa chọn của họ. Dự án được hỗ trợ bởi: Fritt ord, forskningsinstitusjonen NOVA, og Norsk Folkemuseum. Có hai mục tiêu trong dự án này:(1) phổ biến những kinh nghiệm riêng (của những tác giả viết bài) có thể phá vỡ khuôn khổ định kiến thường thấy trên các tít của các tờ báo, khi có những vấn đề liên quan đến người nhập cư (2) đưa vào ngân hàng lưu trữ kiến thức quốc gia, những kiến thức sẽ trở thành một phần ký ức về những cuộc nhập cư đến Na-Uy, sau chiến tranh. Kết quả?.Tôi và anh bạn cùng gửi bài, không được thông báo ngày kết thúc dự án, đồng thời là ngày phát giải bài được chọn xuất sắc nhất, nên không biết buổi lễ đã tạo ấn tượng nơi người đến dự như thế nào. Bây giờ, cái nhìn của truyền thông (báo giới nói riêng) đã thay đổi ra sao khi nhìn về những vấn đề của dân nhập cư, chúng tôi không thể biết hết.

 

Nhưng, riêng với tôi, dự án có vài điều chưa hoàn chỉnh. Xào nấu những bài viết được gửi đến như thế nào là do người đầu bếp; ở đây là người thực thi dự án đó. Dự án để người gửi bài tự do viết dài hay ngắn, nhưng khi tôi và anh bạn trình bày những đoạn cần thiết phải lưu giữ (như lý do tại sao tôi không thể trở về VN) chỉ được người phụ trách dự án chấp nhận một cách không dứt khoát. Sau cùng, đoạn đó đã được tự động cắt bỏ khi đã được in sách!... mà đoạn đó không làm mất đến một trang sách.

 

Cách phân loại người tị nạn cũng hơi lạ: người có trách nhiệm với dự án, theo ý kiến của Brochmann (a), vì thế cho rằng những cách phân loại về người tị nạn (dĩ nhiên) là không giống nhau. Người Chi Lê rời đất nước vì chế độ độc tài được cai trị bởi một Tổng thống chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Mác Xít, còn người Việt rời khỏi một đất nước độc tài Cộng sản (không biết điều này đã được họ phân biệt ra sao?). Người Chi Lê anh hùng vì đã chống lại chế độ thực dân, theo quan điểm của người theo đảng cánh tả của Na Uy. Cùng quan điểm như thế, người tị nạn VN đã chọn phía sai lầm trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa thực dân. Có thể với cái nhìn như thế, nên ở đoạn trên cùng (b), người trách nhiệm cho rằng (chỉ có) người miền Nam mới xem việc thống nhất và bị chủ nghĩa CS thống trị là một rủi ro to lớn và rời đất nước vì không thể giữ được sự ràng buộc với nơi này. Từ đó, tác giả viết, người tị nạn VN, rời đất nước không vì lý do chính trị cấp bách (theo lối vượt thoát của những chính khách quan trọng?...) hoặc vì một chủ thuyết hợp lý. Nhận định này khác với quan điểm của người Việt tị nạn khắp nơi trên thế giới, khi họ cho rằng, họ rời đất nước VN vì không chấp nhận cách cai trị của chính quyền CS, và họ đã tự động bỏ phiếu "bằng chân" (trốn chạy) thay vì "bằng tay" qua các cuộc bầu cử tự do. Tại Na Uy, một chính quyền sau nhiệm kỳ 4 năm, không chu toàn trách nhiệm của họ với người dân, sẽ bị người dâu bỏ phiếu bất tín nhiệm, để thay thế bởi một chính phủ khác; như vậy, hành động đó có tính chính trị hay không?....

 

Dự án là một công trình khá lớn, ít ra với thời gian 2 năm mới hoàn thành xong. Nhưng, có thể nào ngày kết thúc lại bị đình hoãn vì lý do nào đó...và cuối cùng, không có giấy mời, nên một số người tham dự (gửi bài) không thể đến dự được (trong đó có một anh bạn cùng gửi bài như tôi)?. Tại sao xảy ra được lý do giải thích này?. Vì họ sợ sự phản đối của hai chúng tôi?. Điều này khá chủ quan...nhưng ở xứ tự do này, mọi điều đều có thể xảy ra (c)

 

Việc làm lần này với cô sinh viên đó (giúp cô ta hoàn thành dự án nghiên cứu về người Việt) cụ thể hơn, vì cô ta không rải công việc của cô qua nhiều sắc dân. Người phụ trách dự án của NOVA, nhận các nguyên liệu thực phẩm từ thị trường giao tới, rồi nấu nướng theo cách của mình. Cô sinh viên này, do giới thiệu, đến mua thực phẩm ngoài chợ để nấu theo cách mình biết. Do tự tìm kiếm sau khi được giới thiệu nên việc nấu ăn có thể được làm tốt hơn !?....

- Em chỉ sợ cái phòng (dùng để tập thể dục) không có lỗ thông hơi sẽ khiến người ở

trong phòng bị ngộp!... Cô Thủy vừa nói vừa cười vui vẻ; cái cười như thế đã theo cô từ lúc đón khách ngoài bãi đậu xe.

- Tôi không ở cố định....Có thể đôi ba buổi một tuần.

 

Sau cùng, hai người đồng ý là, Cathrine (tên cô sinh viên) sẽ đến đây ngày thứ hai, thứ

ba và thứ năm trong tuần. Có thể sẽ có một ngày ở lại đêm (?)... và đáp lại, cô ta sẽ làm công việc "lesehjelp" (giúp đỡ việc học bài) cho ba đứa con của người chủ nhà. Tuy nhiên, hai người sẽ tự liên lạc với nhau sau này, để bàn thêm chi tiết, trong năm tới, kể từ sau ngày 15.01.2011.

 

Công việc trung gian của tôi đến đây có thể xem như chấm dứt được rồi. Trên đường về, nghe cô sinh viên nói, qua anh Kim (người chủ nhà của buổi phỏng vấn trước) cô ấy được giới thiệu hai người khác. Ngoài ra, một người nào đó ở Drammen, gửi mail đến cô ta, nhận sẽ giúp cô này trong những việc cô ta cần sự giúp đỡ.

 

Như nói trên, việc làm ấy của tôi, nếu nhìn theo cách cá nhân, việc đó chẳng có lợi gì cho riêng bản thân. Nhưng, theo cách nhìn tập thể, tôi đã đóng góp phần nào vào việc giúp người bản xứ có cái nhìn đúng mức hơn về sự hội nhập của người Việt chúng ta vào xã hội Na Uy. Đương nhiên, tôi hài lòng về việc này. Theo thiển ý, những người đã cùng với tôi làm việc với người sinh viên cũng có cảm nghĩ tương tự. Riêng với cô sinh viên, thời gian sẽ trả lời.

 

Nhưng nói chung, tuy đã có những cuộc khảo cứu về người nhập cư đến đất nước này, những việc làm như vậy sẽ được tiếp tục, bởi mọi người và mọi giới có liên quan đến sự việc đó; vì mọi sự kiện sẽ còn thay đổi trong tương lai. Lúc đó, nếu giới khoa bảng Việt Nam có ý định làm một cuộc nghiên cứu tương tự, đó là điều đáng mừng. Nhưng, công trình đó chắc sẽ gặp khó khăn để vượt qua ý nghĩ của người đọc khi họ cho rằng, tác phẩm ít nhiều mang tính chủ quan. Chi bằng, ngay trong lúc này, khi có người bản xứ nào đó quan tâm đến việc khảo  cứu về các vấn đề của người Việt Nam, chúng ta sẵn lòng đón tiếp họ.Và đón tiếp vui vẻ, tự nhiên như hai lần vừa qua. Tốt hơn nữa, chúng ta hoàn thiện tổ chức các hội đoàn. Chính từ đó, giới trẻ sống với những cái hay của cha mẹ, anh em, bạn bè …và thâu nhận những cái hay khác của người bạn xứ. Người Pakistan đến đất nước này vì lý do kinh tế, nhưng những hoạt động có tính chính trị của họ đã nói nhiều hơn những gì được chứng minh qua lý thuyết. Sỡ dĩ họ làm được điều này, một trong những lý do, là vì họ đã có những hội đoàn làm việc thật tốt.

           

 

Đặng quang Chính

Oslo 25.12.2010

 

Ghi chú:

(a)  Một tác giả trong cuốn Norsk invandringshistorie. (b) Trang 135, sách ”Neste stopp Nordepolen”, Red. Kirsten Danielsen, nhà xuất bản

Orkana

(c) Thế hệ thứ hai của người Việt làm ơn điều chỉnh sự lệch lạc trong dự án của NOVA (nếu họ thấy điều đó đúng và là việc cần thiết để làm).

 

 

 

 

 

 

 

 

Et hyggelig møte med vietnamesisk kultur, 27.11.2010

Av Cathrine Mosberg

 

På lørdag møtte Chuong Dam som er styremedlem i VINOF og jeg, to vietnamesiske kvinner og en mann, hjemme hos sistnevnte i Oslo. Ingen kjente hverandre, og møtet var arrangert av Chuong for å hjelpe meg med mitt prosjekt. Jeg skal nemlig tilbringe våren med å forske på vietnamesere i Groruddalen, som en del av min masteroppgave i sosialantropologi. Temaet for oppgaven min er matvaner, noe jeg skal bruke som en inngangsport til å forstå mer om vietnameseres hverdagsliv, etter mange år som minoritet i en annen kultur.

Dette var et svært hyggelig møte med vietnamesisk kultur. Vi snakket i flere timer om både mat, tradisjoner og Vietnam. Jeg fikk også gjort mine første intervjuer og samlet litt informasjon til oppgaven min. Etterpå gikk vi på vietnamesisk restaurant, og avsluttet dagen med en fantastisk suppe. Jeg fikk en innføring i hvordan man bruker forskjellige tilbehør og hvor viktig det er med de rette ingrediensene i form av krydder og urter. Til slutt tok vi en runde i en vietnamesisk matbutikk, hvor jeg ble vist et stort utvalg sauser, krydder, nudler og andre varer som blir brukt til tradisjonelle retter. Det som gjorde mest inntrykk var imidlertid de mange grønnsakene og fruktene som jeg aldri hadde sett før! Jeg husker ikke navna på noen av dem, men jeg gleder meg til å lære mer om hvordan man bruker disse spennende råvarene i en helt annen matkultur enn den norske.

Alt i alt var dette en kjempefin dag, som gjorde meg enda mer interessert i Vietnamesisk kultur og motivert for mitt prosjekt. Jeg må bare avslutte med å takke Chuong, Trang, Huong og Kim for at de brukte sin frilørdag på å hjelpe meg!

Dersom andre er interessert i å delta i mitt prosjekt i Groruddalen, trenger jeg både folk jeg kan intervjue, besøke hjemme på kjøkkenet og noen jeg kan bo hos i noen uker for å følge i hverdagen. Tidsrommet er januar- juli 2011. Se artikkel om gratis ”au pair” lenger nede på siden.

Mvh

Cathrine Mosberg

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ô sin ...Au pair ...gratis!

 

Hai chữ ” Ô sin”, chắc nhiều người đã biết ...nhưng người bản xứ chắc không biết rồi. Còn chữ ”Au pair”, người bản xứ hiểu là gì ...nhưng dân Na Uy gốc Việt, không chắc nhiều người đã biết. Còn chữ ”gratis”, bảo đảm 100% là ai cũng biết cả. Nhưng ”gratis” là mịễn phí ..nhưng miễn phí gì với 2 món đó?

 

 

 

 

Chuyện hơi dài dòng, cho tôi thong thả kể lại. Tôi đã gửi mail nhiều lần, rồi mới hẹn được cô ta vào thứ tư vừa qua. Vừa bước vào toà nhà Eng Helg hus này, cô ta nhận ra tôi ngay. Vừa chào hỏi, xưng tên xong,  cô hỏi có phải tôi tên là ....  .  Đúng quá! Người mình gọi tên (fornavn) chứ có khi nào gọi họ (etternavn) của người khác đâu. Chứng tỏ cô này biết ít nhiều về người nước ngoài, chẳng hạn người Việt như tôi đây.      

 

Buổi nói chuyện không quá 20 phút. Trước khi ra về, cô ấy cẩn thận đưa tôi hai xấp giấy.

Đến tối, nói chuyện qua điện thoại với anh bạn trẻ trong Hội, anh ấy hoan nghênh việc làm của tôi.

-          Cô ta hơi thất vọng!...tôi nói đùa với anh ấy.

-          Không được việc à!...

-          Cô ấy thấy người làm việc trong Hội có vẻ lớn tuổi ....chắc cho rằng Hội của mình là Hội

của các bô lão

-          Năm rồi, việc này cũng định thực hiện ...nhưng cuối cùng không xong.

-          Tại sao thế...

-          Chắc họ sợ chụp hình, đăng ảnh ...v..v..

Nói chuyện với anh bạn trẻ xong...tôi xem lại hai xấy giấy cô Na Uy đưa tôi trước khi ra về. Trong tờ  giấy có nói rõ, nếu ai muốn, cô ta sẽ đến ở cùng nhà. Ai có con, cô ta đưa đi học. Ai cần giúp việc nhà, cô ấy phụ một tay (đây là một trong 2 việc của Au pair đó). Nếu có phòng trống, cô ta sẽ mướn (dĩ nhiên, trả tiền đàng hoàng). Dù mướn, cô ta cũng sẽ làm công việc nhà chung với người cho mướn phòng. Cô còn nói rõ, sẽ không là gánh nặng của người cùng ở với cô. Cô không có ý định ngồi đó với cuốn sổ ghi chép và làm như soi mói công việc của mọi người trong căn nhà mà cô ta sẽ đến sống chung.

 

Trời ơi !...Nếu tôi chưa có vợ, tôi sẽ đồng ý ngay. Hợp đồng mà cô ấy ghi rõ, nói rằng, thời gian sống chung đó (nếu có thể được) trong thời gian từ tháng 01 – tháng 06.2011. Mọi điều xảy ra trong thời gian này sẽ được cô ta dấu kín. Dấu kín do tự cá nhân ...và cũng do luật định nữa. Đang ở chung, nếu vì lý do nào đó hai bên không cùng ở chung nữa, cứ nói ra, chẳng cần viện lý do gì cả. Anh nào có vợ cũng được. Miễn là vợ chấp thuận điều này. Cái gì ”gratis” ...chứ khoảng này chắc không được rồi.

 

Nhưng, dù tôi chưa có vợ, tôi cũng không lọt vào danh sách ứng viên làm việc này. Cô ta chỉ làm việc này với những ai sống trong khu vực Groruddalen (khổ cho tôi chưa!...). Cô ấy đang làm một dự án nghiên cứu (prosjekt) có tên ”Ekslusjon og inklusjon i forstaden”, nhằm tìm hiểu điều gì đã xảy ra trong những sắc dân thiểu số khác nhau, làm cho có người đến ở nơi đó và từ đó dời đi nơi khác. Mục tiêu chánh vẫn là tìm hiểu cho rõ hơn về những sắc dân thiểu số sống tại khu vực nói trên.

 

Tóm lại, cô sinh viên Na Uy, với dự án để hoàn tất văn bằng master, nghiên cứu về thói quen ăn uống của người Việt, muốn Hội đoàn VINOF giới thiệu cho cô ta một người hay một gia đình đang sinh sống tại vùng Groruddalen.

 

Ai cảm thấy việc này có điều gì đó cũng thú vị, xin liên lạc:

 

Cathrine Mosberg

Địa chỉ: Kirkeveien 90C                                                               

e-post: cathirine_mosberg@hotmail.com         

Tlf: 91 88 95 34

 

 

Thư về VINOF: post@vinof.no

Hoặc phôn cho  Chuong Dam: 46 36 30 75

 

 

 

----------------------------------------------------------------------------------------

 

 

 

Hội nhập

 

Vì không hài lòng lắm trong lần họp vừa qua, một cuộc họp có nội dung liên quan đến vấn đề hội nhập...nên chúng tôi chẳng ai có cảm hứng viết một điều gì về việc đó. Vậy mà có một việc, tuy riêng tư, nhưng khiến tôi có hứng thú. Đó là lần đi họp mặt tại một nhà nghỉ mát (hytta) ở khu vực Holmenkollen, thứ bảy 13.11.2010. Khoảng 11:00, hai nhóm Nhu Đạo (Judo) của sinh viên Blindern và Tromsø gặp nhau tại Ullevål stadion. Sau khi mua thực phẩm, ba người được phân công chở lên hytta. Những người còn lại, kéo về phòng tập Domus gần đó.

 

Năm cặp, đủ mọi hạng cân, chiều cao...và tuổi tác đã tập thật vui tại phòng tập này. Một tiếng sau cùng dành cho việc thi đấu giao hữu. Tôi không thi đấu vì biết "giới hạn" của mình. Giới hạn đó là việc tôi đã ngưng tập ít ra cả gần 2 tháng rồi....bởi chân bị chấn thương, khi đi xuống những bậc thang của trường.

Sau hơn 3 tiếng tại phòng tập, cả nhóm kéo nhau đến trạm Majorstua, để đón xe bus đến Holmenkollen. Tại trạm này, chúng tôi được tin chiếc xe chở thực phẩm đã bị trục trặc máy móc. Một người trong nhóm, huấn luyện viên trưởng, nhận lời đi mượn xe của bạn, rồi chạy lên nơi xe bị hư, chuyển thực phẩm sang,  để tiếp tục đưa đến nhà nghỉ mát (hytta).

 

Trạm cuối của chúng tôi là Voksenkollen. Tuyết bắt đầu đổ, tuy không dầy, nhưng làm cho không khí có vẻ lạnh hơn. Ba bốn người mở máy điện thoại cầm tay, kẻ dùng "navigator", người liên lạc với trưởng nhóm, để biết rõ đường đi đến nơi xe bị hư như thế nào.

 

Đường lên dốc trơn trợt. Độ cao tăng dần. Bàn chân phải của tôi hình như muốn phản đối việc đi bộ như thế. Khi xe cứu nạn chuẩn bị lăn bánh, chở theo chiếc xe hư… và chiếc xe mới - chở thực phẩm- cũng sửa soạn rời địa điểm đó, trưởng nhóm chạy đến, yêu cầu tôi đi theo xe hơi chở thực phẩm. Tôi ngần ngừ. Trưởng nhóm cho biết, còn phải leo dốc độ 5 cây số nữa. Lần này, tôi cũng có quyết định khá tốt...khi ngồi vào chiếc xe. Lại một "giới hạn" khác của tôi. Tuy thế, một ý nghĩ khác cứ lởn vởn rằng, thời tiết như thế này, không chừng đi bộ, tuy mõi chân...nhưng độ an toàn còn nhiều hơn là chọn quyết định này.

 

Huấn luyện viên là một người khá cao và vạm vỡ. Anh chàng nhất định là không thể chịu nổi cái đói rồi. Chính anh ta, tuy hỏi tôi có cảm thấy đói sau gần 4 tiếng tập không, nhưng cùng lúc ngừng lại tại một trạm xăng, để mua thức ăn nhanh. Tôi đã có một thời gian trong quân đội mà giờ đây còn chậm hơn anh chàng, vì tốc độ ăn ngấu nghiến.

 

Xe đi vòng qua khu vực Nydalen. Phải mất ít ra 3 lần ngừng để hỏi thăm đường đi cho chắc ăn. Lần cuối, hai vợ chồng Na Uy già, sau khi chỉ đường, cẩn thận dặn dò các khúc quanh trên đường. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ, họ dặn vì trời có tuyết, đường tối, hơn nữa...sợ thanh niên chạy bạt mạng. Ai ngờ, càng lên cao, càng thấy lời dặn thật chí tình!. Từ mặt bằng khu vực Nydalen, đến độ cao của nhà nghỉ mát, tôi đoán ít ra có đến 300(400m). Mỗi lần quanh cua là mỗi lần độ cao được nâng lên. Hai bên toàn là thông. Có chổ thông sát đường, có chổ thông cách xa đường xe chạy. Trên đường, tuyết dày độ một bàn tay. May quá!...chưa đóng băng. Hơn nữa, hình như có dấu xe cày (brøyter) đi trước không lâu. Kẹt một nỗi là xe chạy bằng ánh sáng tự có của hai đèn phía trước. Những khúc cua trong đêm tối mới ngặt nghèo làm sao. Anh chàng ngồi bên tài xế, mở bàn đồ, theo dõi hướng đi của xe, nên tập trung vào việc hướng dẫn. Còn tôi ngồi sau, chỉ có một việc làm là, cứ thắc mắc về quyết định trước đó không lâu là, đi theo xe hơi là tốt hay xấu !!....

 

Khi đến nơi, nghe nhóm đi bộ nói về”tinh thần Viking” trong con người của họ, lúc lần mò đi bộ lên nhà nghỉ mát, tôi thấy tiếc đã không thâu hình lúc đang ngồi trong xe. Khi xong chuyện, diễn tả sự việc thì như thế, nhưng lúc ngồi trên xe, tôi chăm chăm nhìn vào khoảng đuờng loang loáng sáng trước xe, tưởng chừng như không thể căng con mắt to hơn nữa. Có thì giờ đâu nữa mà thâu hình!

 

Bữa tiệc được bắt đầu rất gọn nhẹ, sau khi trưởng nhóm nói không quá 3 câu. Trong khi cả nhóm bắt đầu ăn, tôi không thể không nói thêm vào. Tôi nói không quá 7 câu. Ý rằng, trưởng nhóm là người rất tốt vì đã tổ chức được cuộc họp mặt tại nhà nghỉ mát này. Bởi, ít ra từ 3 đến 5 năm nay, chưa có trưởng nhóm nào tổ chức một sinh hoạt ngoài trời (ngoài giờ tập trong phòng) như thế. Tôi nói tếu thêm rằng, trưởng nhóm rất khéo khi chọn nhà nghỉ mát này, để chỉ có một mình huấn luyện viên lái xe lên được mà thôi. Thật thế, trưởng nhóm đã tốn công sức biết bao nhiêu để gầy dựng nhóm tập Nhu đạo (trước anh ta, một sinh viên VN cũng đã là trưởng nhóm...nhưng rồi tan hàng). Cứ theo dõi việc gửi mail đến các thành viên, nói về việc họp mặt,  cũng giúp chúng ta biết được sự nhiệt tình của anh ấy như thế nào. Nếu nói việc gầy dựng nhóm là may mắn, điều đó chỉ có phần nào. Người phó nhóm, tuy có đẳng cấp cao hơn (đai đen) nên làm huấn luyện viên..nhưng anh nhóm phó này có thái độ rất khiêm nhường và tích cực trong mọi việc được giao. Thành công là do hai người phối hợp công việc với nhau rất nhịp nhàng, nên mọi việc đều diễn ra tốt đẹp.

 

Lúc ngồi hông chân bên cạnh lò sưởi, tôi thấy rõ cái ”giới hạn” khi không cùng nhóm đi bộ lên nhà nghỉ mát là đúng. Ngồi trên xe mà chân còn nhức như thế này, nếu đi bộ thì sẽ ra sao. Sau khi bị chấn thương và ngưng tập khoảng hơn 2 tháng, thế mà còn ra dợt với nhóm cả giờ là cũng cố gắng rồi. Dù họ có gượng nhẹ lắm ...lúc hăng say rồi thì còn kể số gì; họ cũng cố vật cho ngã được đối phương.

-          Anh còn nhớ lúc bắt đầu với nhóm chỉ có 3(4) người ...? Trưởng nhóm hỏi

Vì hơn ồn, nghe không rõ, nên tôi hỏi lại là anh ta đã hỏi tôi điều gì.

-          (Trưởng nhóm nhắc lại câu hỏi và thêm rằng...) Cũng do sự khuyến khích của anh.

Anh chàng này thiệt thật tình. Nếu câu nói được nêu ra sau đó, khi tôi đã biết nhiệm sở mới của anh chàng, tôi cho đó là một thái độ ngoại giao. Vì vào đầu năm tới, Trưởng nhóm sẽ nhận công việc tại Toà Đại sứ Na Uy bên Nhật.

-          Việc đó là   ....”kant” kant... gì đó.

Tôi không nhớ ra tên gọi công việc mà anh ta sẽ nhận. Cuối cùng, tôi nhớ là ”Pratikant” (1)

-          Không, làm việc như ”diplomat” (2)

 

Câu trả lời nhẹ nhàng. Điều này đáng học. Khác với anh chàng trong buổi họp do IMDI (3) tổ chức vừa qua, từ Stavanger lên. Anh kỹ sư người Á Châu đó, đến Na Uy khoảng 1985, hiện giờ đang làm việc tại một công ty ở một tỉnh phía Nam nước Na Uy. Anh ta, có lẽ đã học liên tục đến khi ra Đại học. Có việc làm. Có vợ người bản xứ. Hiện đang làm công việc Nghị viên của tỉnh kia (có lẽ thế....).  Điệu bộ có vẻ tự hào lắm. Khi được hỏi về kinh nghiệm bản thân, anh nói thao thao. Nhưng, nếu hỏi anh có làm một việc gì trong Hội đoàn của sắc dân của anh, chắc chúng ta không chừng sẽ nhận được trả lời là: không. Điều này giống như câu nói của một cô người Việt, làm việc trong một một trung tâm nghiên cứu về học đường và trẻ em. Cô ta nói rằng, hình như những người nói tiếng Na Uy khá lại không chịu làm việc với Hội đoàn. Phải. Một trong những lý do là vì họ tính kỹ lắm. Nếu công việc Hội đoàn có lợi tức, chắc cũng có nhiều người nhận làm rồi. Theo nhận xét người viết, anh chàng kỹ sư không biết thật rõ hai tiếng ”hội nhập”. Anh chỉ nhìn ở khía cạnh cá nhân. Nếu biết rõ, anh ấy sẽ thấy rằng, đây là một quốc gia có chủ trương xây dựng ”felleskap” (4). Chuyện cá nhân thành công chỉ là điển hình, chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ nào đó, và không hẳn nằm trong chủ trương đó. Các đề tài thảo  luận hôm đó cũng không sát với chủ đề được nêu ra: Menn og gutter med minoritetsbakgrunn – en ressurs i Norge!

 

Có lẽ cũng phần nào do cái tính "felleskap" đó nên việc ra trường cấp Cử nhân ở đây không có buổi lễ mặc áo, đội nón như bằng cấp Cử nhân bên Mỹ. Cũng phần nào do cái tính đó, ông giáo sư môn KOR 1504 (5) là người Liên Xô (có tên ở dạng đó) nói được tiếng Anh và Na Uy (dĩ nhiên không kể tiếng mẹ đẻ)...và có thể biết thêm một hai sinh ngữ khác, có thái độ giản dị, nhã nhặn và tươi cười. Hình như nét mặt tươi vui của ông ấy còn hơn là nét mặt vui vẻ của các cô làm việc ở quầy tiếp khách (receiptionist) của Phân khoa Xã hội, trường Đại học Blindern. Nói đến chuyện người, không thể không nhắc chuyện của chúng ta. Nhà khoa học Ngô bảo Châu (6) khi được hỏi về thái độ của anh về cách làm việc của chính quyền hiện tại ở VN, anh ấy nói ý rằng, anh ta không theo lề phải hay trái gì cả, vì theo lề nào cũng là hành động của những con cừu. Điều ấy chứng tỏ, không những rất bận trong những công cuộc khảo cứu, anh vẫn dành thì giờ tìm hiểu về tình hình thời sự nước nhà. Rồi qua những cuộc phỏng vấn, nội dung nói chuyện cho thấy đó là một con người có mức độ khiêm tốn đáng mến.

 

Những điều đáng học đó lại không được thế hệ kế tiếp của người Việt tại đây lưu ý (bao nhiêu người học tập được thái độ đó...?). Họ nghĩ "hội nhập" là làm sao cho giống người bản xứ. Bên ngoài, họ ăn mặc và làm tóc giống như thanh thiếu niên Na Uy (nhuộm đỏ, xanh...) quần xệ đáy, nhét thêm 01 chai coca vào túi quần...v.v...Chơi cuối tuần phải nhảy disco mới là người sành điệu. Ăn nói theo lối cao bồi, tục tĩu..v.v.. Tuổi trẻ của họ nói được tiếng bản xứ (chưa biết viết như thế nào) nhưng không phân biệt được "hội nhập" (Integrering) và "đồng hoá"(assimilering).

-          Có đi ”dusj” (7) không ....Trưởng nhóm hỏi

Lại lần nữa tôi có "giới hạn" của mình, biết những gì mình không nên làm quá khả năng của mình. Nhìn ra ngoài cửa sổ, một toán 5(6) anh, trần truồng như nhộng chạy vào cửa chính, để xuống hầm, vào tắm vòi nước... và sau đó tắm hơi. Họ che khăn nơi hạ bộ. Nếu muốn, tôi cũng làm được việc đó. Nhưng cái tôi không bắt chước là ra tắm ở lộ thiên, bởi trời lạnh dưới âm độ.

 

Nhớ đến một bài viết của một tác giả nữ, sinh sống tại Đức, tôi muốn cười thầm. Cô ấy tả việc đi chơi nhà nghỉ mát của nhóm học sinh Trung hoc. Có đoạn cô ấy không chấp nhận là, sau khi ăn uống và disco... bọn đó kéo nhau vào những chổ tối, làm tình "xả láng"!.... Chỉ một lần với nhóm học sinh đó, cô ấy có ấn tượng kéo dài, đến khi có gia đình và đưa sự việc vào bài viết của mình. Chứ đúng ra , ở đâu cũng thế, cũng có người này người kia. Na Uy là một trong những nước Bắc âu nổi tiếng, có những cô gái rất "sexy" (8). Nhưng, trên thực tế, trong Đại học ở Thủ đô Oslo này, trong những sinh hoạt của sinh viên, có một bộ phận do nhà trường thành lập, nhằm giải quyết việc nam, nữ sinh viên có cơ hội tìm hiểu nhau. Cũng có trang web giúp đỡ công việc đó. Bây giờ, chuyện tình dục ở VN có thể còn vượt hơn Na Uy không chừng. Cái tốt khó học, cái dở dễ làm.

 

Tôi là người thứ hai dậy vào lúc khoảng 8 giờ sáng hôm sau; chậm hơn nguời cùng phòng. Anh ta, khi mở cửa, tưởng tôi còn ngủ. Thật ra, tôi ngủ chập chờn, bởi đôi khi phải ho cho dễ chịu; bởi ảnh hưởng cái lạnh chiều qua chưa tan hết hẳn. Thế mới biết, bíết được cái giới hạn của mình là chuyện đáng kể. Biết học cái hay và tránh cái dở là điều không dễ thực hiện.

 

Nhảy Disco chẳng hạn. Chẳng tốt hay xấu. Tốt hay xấu là do khi nhảy có lợi dụng cọ quẹt hay không. Cách nhảy này chẳng qua là một dịp được cử động, vận chuyển vào cuối tuần, khi cả tuần chẳng có một ngày đi đến phòng tập thể dục. Vì thế, ở các thành phố lớn, ở nước nào cũng vậy, các nơi dạy môn khiêu vũ có bài bản vẫn là nơi thu hút nhiều người. Nhất là thành phần có tiền (học phí không ít). Khi nhảy, dù muốn hay không, vẫn phải tỉnh táo; hiểu theo cách không say, và không có ý dung tục. Hai người hòa nhịp với nhau, theo các bước đã thành chuẩn mực, hòa với điệu nhạc cả là một nghệ thuật. Còn chọc cười thiên hạ cũng thế. Có một chương trình tếu hài (người diễn bằng tiếng Anh) trên ti vi rất được nhiều người xem. Đôi chương trình tếu hài của người Việt còn ở mức độ vừa diễu vừa chọc lét vào nách khán giả. Có người lầm tưởng tếu hài là cứ nói tục mới tạo cảm giác. Thanh niên ở xứ người, tiếng Việt không vững, nên làm gì thưởng thức được nụ cười tục mà thanh của bà Hồ xuân Hương. Không kể gì đến mức độ đó, trong sinh hoạt bình thường, nhiều thanh thiếu niên cứ tưởng rằng nói huỵch toẹt theo lối của bọn nhỏ Tây Phương là hợp trào lưu mới. Vì thế, có lần sinh hoạt chung với họ, tôi phải nói thẳng theo kiểu khác

-          Tụi nhỏ bản xứ không diễn đạt theo cách của mình. Một bạn trẻ nói thế

-          Cách của mình …là thế nào? Tôi hỏi

-          Yêu không nói ngay là mình yêu ai đó …cứ loanh quanh

-          Nói thẳng ra sao ….?

-          Nếu thấy đối tượng có vẻ đồng ý…phải nhào vào làm liền. Như các phim của Mỹ vậy.

-          Trước giờ mấy em có ăn “cháo ngó” lần nào chưa?...

-          Ăn cái gì ….

Tôi thuật lại cho em đó nghe về vụ ăn chơi của sinh viên VN trong nuớc, ở miền Nam, trước năm 1975. Tôi nói rõ là, phần đầu câu chuyện là từ một người bạn của tôi kể lại (dĩ nhiên vào lúc đó đã được kiểm chứng) …còn phần sau, tôi không biết thực hư. Đó là việc tổ chức vui chơi vào ngày Noel (Giáng sinh) của sinh viên Kiến trúc. Họ bày nồi cháo vịt trước mặt, những người ngồi quanh phải “truổng cời”….

-          Có ai ăn được cháo không …?

-          Dĩ nhiên, sau cùng …nồi cháo cũng hết. Và từ đó những buổi tổ chức theo kiểu này không diễn ra nữa

-          Bị nhà trường cấm …?

-          Em có nghe vụ trình diễn âm nhạc gây xôn xao tại Na Uy này, cách đây khoảng 3 đến 5 năm?

-          Nghe loáng thoáng…Nghe rằng, hai người ca sĩ, trai và gái vừa hát vừa làm tình trước công chúng.

-          Rồi sau đó …ra sao?

-          Bị phạt …và từ đó đến nay, chưa có buổi trình diễn nào có hình thức tương tự

-          Vụ trường Kiến trúc, không có nhà trường nào cấm cản…vì nhóm đó tổ chức riêng

tư; dù rằng họ mượn phòng ốc của nhà trường.  Nhưng, nghe nói, sau đó, sinh viên trường khám phá ra rằng, một số trong nhóm tổ chức đó là sinh viên “nằm vùng” (theo Việt Cộng). Không biết tin đồn đó đúng sai. Nhưng, với nhóm thân Cộng, việc gì họ cũng làm được hết. Họ lôi kéo sinh viên bằng cách này khác. Sau đi đã trở nên quen nhau khá lâu, bấy giờ họ mới đưa công việc tuyên truyền của họ vào trong nhóm.

 

Tôi nói thêm cho vui

-          Nhóm sinh viên tổ chức ăn “cháo ngó” có thân Cộng hay không …mình không cần

đặt nặng. Nhưng, em là người có đạo …có phải không?. Em tin có Chúa, có Phật ..hay tin chúng ta từ con khỉ mà ra ?....

-          Nữa phần là Thiên thần, nữa phần là quỉ dữ mà …

-          Nhưng, em muốn “tốt khoe, xấu che” ..hay ngược lại?

-          Tùy lúc…

-          Vậy là khá rồi …Em biết ban nhạc The Beatle chứ gì ….(em này gụt gật đầu). Mới

nổi tiếng đã huyên hoanh tuyên bố là từ khi có Chúa Jesu đến giờ, chỉ có nhóm này mới có nhiều “fan” (9) như vậy ….đã được tiếp đón nồng nhiệt tại những nơi họ đến trình diễn. Lúc đó, tôi chưa lớn tuổi như em ngày nay, nhưng đã cảm thấy không ổn rồi.

             -    Họ có thành tích …họ phải khoe chứ

             -    Vợ chồng John Lennon …(tôi nói luôn là tôi không biết nhớ có đúng không..) khi làm lễ tân hôn, đã cùng nằm trên giường …để cho giới báo chí đến quay phim, chụp ảnh …Rồi ..cũng chẳng đến đâu.

            -      Cái gì cũng có lúc phai tàn chứ

            -      Những cách “quảng cáo” như thế cũng chẳng làm họ nổi tiếng hơn. Ngày nay, nếu ai còn nhớ đến họ, chẳng qua nhớ đến đôi bài hát hay, có ý nghĩa; chứ chẳng ai thèm nhớ lại cách làm tình biểu diễn của họ. Hai con khỉ cái khỉ đực làm tình thì có gì hấp dẫn đâu !....

 

Tóm lại, nếu không có những Hội đoàn của người Việt, ai sẽ là người có thể tạo được những buổi nói chuyện cởi mở. Phải có những Hội đoàn đó, trẻ em và thanh thiếu niên người Việt tại hải ngoại mới có dịp học hỏi những cái hay của ta và của người. Nếu bị cô lập, bởi vì chung đụng với thanh niên bản xứ mà không dịp cọ xát, đối chứng, từ những gì trong sách vở, đến những thực tế xảy ra trong cuộc sống ….họ cứ tưởng “hội nhập” là phải giống như người bản xứ; từ cách ăn mặc, suy nghĩ, nói năng .v..v…

 

Buổi sáng hôm sau, tại nhà nghỉ mát, thật là một sự thích thú. Đứng ngoài căn nhà này, đưa mắt nhìn quanh, trừ những nơi bị rừng thông cản lại, một khoảng trời mênh mông xuất hiện. Hoàn toàn yên tĩnh và sạch sẽ. Như thế mới cảm được cái tâm lý sung sướng khó tả của những người đã chinh phục được những đỉnh núi cao; như đỉnh Everst trên rặng Hy Mã Lạp Sơn. Như thế mới hiểu được tại sao có 2 cô sinh viên người Mỹ, đã ghi lại trong cuốn nhật ký của nhà nghỉ mát, ý nói rằng, nơi đây, một trong hai người, đã tìm thấy tình yêu của mình đối với đất nước này.

 

Ngồi trên xe, trên đường rời nhà nghỉ mát, tôi càng cảm nhận tình yêu thiên nhiên đã được xây dựng tại đây ra sao. Luật của khu nghỉ mát này bó buộc các xe (dù của du khách -điều này chúng tôi đã được nhắc nhở- hay của tư nhân có nhà ở tại khu vực này?...) phải rời địa điểm trước 10:00 sáng. Vì sau đó là thời gian của sự tận hưởng. Tôi thấy trên đường xe chạy có đủ hạng người. Họ là tình nhân (?) là vợ chồng, là người già, con nít, đi bộ hay chạy lúp xúp theo cha mẹ..Có người đi xe đạp xuống dốc, có người đạp lên trên dốc cao như để tập thể dục. Đủ độ tuổi …và tất cả đều có quyền hưởng cái không khí trong sạch này như nhau. Những người có nhà ở quanh đây, trị giá từ 5 triệu trở lên, với anh sinh viên chưa có việc làm, tất cả đều bình đẳng trong việc tận hưởng cái không gian sạch sẽ đó. Chứ đừng nghe rằng, người Na Uy sanh ra đã có đôi Ski để đi tuyết trên đôi chân của họ. Đừng tưởng rằng, hễ cứ có Thế vận hội mùa Đông là Na Uy có giải nhất hay trong ba hạng đầu là việc tự nhiên. Trên đài truyền hình, vào mùa đông, trong chương trình TV của đài NRK (một trong những đài ti vi của nhà nước) gần như phần nhiều thì giờ dành cho những môn chơi mùa đông. Nói như thế để biết rằng, tạo thành một thói quen tốt không phải là việc dễ….nhất là thói quen phải được thực hiện ngoài trời, với tuyết rơi …và cái lạnh từ 2(3) độ xuống đến âm 2(3) độ là thường.

 

Với người nhập cư, đến bao giờ mới có được tình yêu thiên nhiên như thế. Thế hệ thứ hai liệu có được chưa, và nhiều hay số ít. Hôm qua, đài TV NRK, có một đoạn phim, nói về người đoạt giải Fritt Ords (10) là Bushra Ishaq và Abid Q. Raja. Người sau là luật sư Pakirstan. Anh chàng có nhiều hoạt động nổi bật trong thời sự chính trị và luật pháp tại Na Uy. Đồng thời, với tư cách luật sư, anh đã tham dự vào việc bào chữa cho đồng hương của anh ta tại đất nước này. Bao giờ giới trí thức VN tại đất nước này mới có những hoạt động như thế?. Một tình trạng trái ngược hơi lạ. Ông bà cha mẹ giống dân này, đến Na Uy vì người bản xứ thiếu nhân sự lao động vào khoảng 40 (50) năm về trước; nói khác đi, họ đến với tính cách kinh tế. Còn người VN, luôn tự hào đã đến đất nước này với tư cách tị nạn chính trị!. Người cùng đoạt giải với anh Luật sư là Bushra Ishaq, sinh viên Đại học y khoa và là sinh viên nghiên cứu trong phân viện Vật lý học của Đại học Blindern. Cô này bắt đầu một ngày hoạt động bằng cách chạy jogge trong một vùng đồi, có ao hồ xung quanh (có lẽ gần nhà của cô ấy). Cô ấy sinh và lớn lên tại Na Uy nên tự nhiên có thói quen đó?....

 

Trước đây, tôi cũng nghe một người quen, thuật lại chuyện người bạn của họ, một mối tình (?) khá đặc biệt. Không biết hai người đó quen nhau từ lúc nào. Nàng, một cô gái Na Uy,  làm việc tại Bergen, chàng, một chàng trai Việt Nam, làm việc ở Oslo, thủ đô. Hễ rảnh cuối tuần là nàng đáp phi cơ về thủ đô gặp chàng. Mùa đông nào hai người cũng rủ nhau đi trượt tuyết ở những nơi vắng vẻ, xa thành phố. Không biết bây giờ họ đã chính thức kết hợp với nhau và có con với nhau chưa. Chắc những cặp cha mẹ như vậy mới có con yêu thích môn trượt tuyết?...

 

Nghĩ lại, tôi thấy đôi lúc mình hơi ngớ ngẩn. Có lần, có hai vợ chồng, vợ Việt, chồng gốc Thụy Điển, hỏi tôi đã có lần nào lên Lofoton hay Svolvær (miền Bắc Na Uy) ..v.v..hay đâu đó, để xem mặt trời lúc giữa đêm chưa; lúc đó, tôi cho rằng, họ hỏi có tính khoe khoang. Sau khi ra khỏi Viện bảo Tàng Vigelansparken, họ thú thật là quá tiếc, vì ở đây đã lâu, mà chưa bao giờ đến thăm Viện bảo Tàng này; dù từ nhà họ ở Vårlenga đến đó cũng chẳng xa lắm. Họ cám ơn vì tôi đã rủ họ làm chuyến đi chơi đó.

 

Nói dài dòng như nẫy giờ để nói lên cái quan niệm sống ở đời. Ai cũng có sự thưởng thức, tận hưởng cuộc đời khác nhau. Nhưng, để có được sự hưởng thụ như thế, chúng ta phải làm việc như thế nào?.

 

Làm bất cứ ngành nghề gì thích hợp với khả năng hiện có của mình, miễn là đừng trông chờ nhiều vào tiền trợ cấp xã hội. Nói đến đây, mới quay về ý nghĩa các cuộc họp do các cơ quan công quyền hay của tư nhân Na Uy tổ chức. Họ cảm thấy số người ăn trợ cấp xã hội có phần lớn nằm trong số những người nhập cư, nên họ cứ nhai đi nhai lại đề tài này; bằng dạng này dạng khác. Chúng ta có thể thông cảm với họ. Tuy nhiên, trong buổi họp đó, có nguời Na Uy (?) (tôi không nhớ tên) trong phần tổng kết, đưa ra những điểm khá đặc sắc. Anh ta nói, trong việc hội nhập, có lúc phải đặt lại vấn đề. Có quá trình hội nhâp nào lại chỉ có một chiều (đây là ý của nhiều người và của riêng tôi, từ lâu nay). Cái xã hội, cái môi trường tiếp đón người nước ngoài nhập cư cũng phải có những phương thức giúp đỡ họ hội nhập. Có lần tôi đọc được, theo thống kê của Kommune Oslo (khoảng hơn 10 năm trước), số người da trắng (bản xứ và dân nhập cư từ các nước lân cận) ăn thất nghiệp hay trợ cấp xã hội, cao hơn người nhập cư từ các quốc gia khác. Có ai trong giới thế hệ thứ hai của VN đã trình bày rõ vấn đề này trước cuộc họp, đại loại như kể trên?...Không có ai giỏi tiếng Na Uy (theo như cô gái VN làm việc nghiên cứu về trẻ em và học đường nói trên) làm việc trong các Hội đoàn người Việt. Lý do tại sao?. …

 

Ngồi trên xe, tôi cảm thấy hai anh chàng sinh viên Na Uy có máu “Viking” trong người thật. Vì khi lên, trời tối, có sự nguy hiểm của nó. Lúc xuống, trời sáng, sự rủi ro cũng thấy rõ hơn lúc chạy xe lên. Cũng như đi bộ. Lên dốc, độ trợt cũng dễ được hãm lại hơn là lúc đi xuống. Mỗi khúc quanh lại có sự thay đổi độ cao, cho là từ 5 tới 10m thôi, như thế cũng đã làm choáng được rồi. Đằng này phải chịu đến 5(7) lần thay đổi độ cao (khúc quanh) là ít. Do đó, cái tinh thần tự hào “tị nạn” của tôi cũng giảm đi. Trước kia, được tàu (sắt) của người Mã Lai, chở từ đảo Bidong vào đất liền, thấy mấy người Mã và nước  ngoài, tuy đã bận áo phao, mà nét mặt căng thẳng, tôi đã cho họ là chết nhát. Bây giờ, có lẽ tôi cũng chết nhát không thua họ.

 

“Đi một đàng học một sàng khôn”. Tham dự vào các sinh hoạt tập thể, dù của người bản xứ hay của sắc dân mình, nếu biết học hỏi, chúng ta đều có thể rút ra từ đó những kinh nghiệm sống nho nhỏ cần thiết. Trước hết, chúng ta thấy rõ rằng, cái ta là nhỏ bé, so với tập thể. Tuy nhiên, “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” và “Con sâu làm rầu nồi canh”. Cái hay khó học …nhưng cũng có thể làm được, nếu được một tập thể tốt giúp đỡ tận tình. Học cái hay cho bản thân. Ít ra là, biết mức độ khả năng của mình tới đâu –không ai là bác học trong thế giới điện tử ngày nay như thuở trước-. Thêm vào đấy, nếu được, giúp người khác phát triển cái hay đó. Đất nước nào, dân tộc nào cũng có cái hay riêng. Học cái hay và biết tránh cái dở là bước đầu hoàn thiện con người mình. Và đó cũng là bước căn bản để hội nhập vào một xã hội mới. Hội nhập không có nghĩa là đồng hoá.

 

 

 

Đặng quang Chính

Oslo 21.11.2010

13:03

 

 

 

 

Ghi chú:

(1)   Người bắt đầu thực hiện việc thực tập công việc của mình

(2)   Nhân viên Bộ Ngoại giao, người đại diện quốc gia làm việc thương thuyết với người đại diện của một qưốc gia khác, đặc biệt trong lãnh vực chính trị.

      (3) IMDI (Integrerings- og mangfoldsdirektoratet - IMDi)có thể gọi là Bộ Hội nhập và đa

            sắc dân, được thành lập vào năm 2006, khi Bộ nhập cư (UDI) tách làm hai là UDI và

            IMDI. IMDI được thành lập để làm công việc liên quan đến các sắc dân nhập cư,

            nhằm giúp họ hội nhập vào xã hội. IMDI cùng giải quyết thông qua những chính sách

            hội nhập, trong đó có chính sách giải quyết việc cung cấp chổ ở cho dân nhập cư của

            chính quyền. IMDI có văn phòng chính tại Oslo và những tỉnh khác. Bộ trưởng bộ này

            là ông Osmund Kaldheim, 2005-2010 và hiện nay là ông Geir Barvik (2010).                

      (4) Felleskap (community: tiếng Anh) tinh thần tập thể

      (5) KOR 1504: môn lịch sử, xã hội, chính trị Đại hàn.

      (6) http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2009-12-12-ngo-bao-chau-bom-tan-va-trong-dong-trong-toan-hoc-      (7) Tắm bằng vòi sen

      (8) Chữ này được người Việt hiểu theo 2 nghĩa: có thân hình hấp dẫn hoặc tình cảm rất

            khêu gợi âm dục.

     (9)  Những người hâm mộ

    (10) Xem thêm:  http://www.nrk.no/kultur-og-underholdning/1.7054971

 

           

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuyền nhân tị nạn điều hành công nghệ khách sạn

 

Nguyễn Ngọc Dũng, nay ở tuổi 40, từ một thuyền nhân thiếu dinh dưỡng trở thành một nhà tư vấn cho 60% công nghệ khách sạn Na Uy.

 

Øystein Krogsrud và Eivind Senneset (photo), Bergen

Dịch ra ra tiếng Việt: Tiêu Dao Bảo Cự

 

 

   Nguyễn Ngọc Dũng vượt thoát khỏi Việt Nam bằng thuyền. Cuộc vượt thoát chấm dứt ở khách sạn Strand Hotel,  tòa nhà màu

   trắng ở giữa bức tranh.   

 

 

Hãy xem tài sản của bạn” giám đốc khách sạn Asle Prestegard nói. Nếu khách sạn Strand Hotel, bên cạnh Chợ Cá ở Bergen, hãy còn tai tiếng như thời Nguyễn Ngọc  Dũng đến như một thuyền nhân vào năm 1978. Khách sạn đã từng là nơi lui tới thường xuyên của gái điếm, người say rượu, người tị nạn, và ngay cả một con ngựa, theo lời của Hans “Hansemann” Bru, người quản lý bar khách sạn trong năm 1996

 

.

Nhớ lại. Hans "Hansemann" Bru điều hành bar ở khách sạn Strand Hotel từ năm 1996, kể cho Nguyễn nghe

về khách sạn ngày xưa như thế nào, nơi thường xuyên lui tới của gái điếm, người say rượu và dân tị nạn.

 

 

Chuyện kể rằng nhiều năm trước, một trong những người khách đã mang con ngựa lên tầng 6 nhưng không thể mang xuống nếu không bắn nó. Có vẻ ngựa có thể lên cầu thang nhưng không xuống được. Trong những ngày đó, Khách sạn Strand Hotel là một nơi không người Bergen nào lui tới. Tương tự, các nhân viên không dám nói mình làm việc ở đó. Nhưng với Nguyễn và gia đình, và những người tị nạn khác, khách sạn tai tiếng đó được coi như thiên đường. “Bữa ăn đầu tiên của chúng tôi ở Na Uy chỉ là bơ, một bữa tiệc hiếm hoi mà chúng tôi chỉ có thể tưởng tượng lúc ở Việt Nam, Nguyễn nói. Chúng tôi dự trữ khăn và xà phòng từ phòng của chúng tôi, vì nghĩ sẽ đến lúc cần trong cuộc chiến sắp tới. Cha mẹ tôi luôn lặp lại, khi chúng tôi đã đến Na Uy, không phải rằng chiến tranh có xảy ra không mà là khi nào xảy ra.Chúng tôi không có bất cứ trải nghiệm nào ngoài chiến tranh.

 

 

 

Trung điểm. Nguyễn Ngọc Dũng từ một thuyến nhân tị nạn ở khách sạn Strand Hotel, trở thành một nhà tư vấn cho chính

khách sạn đó và 400 khách sạn khác. Trong hình này Dũng cùng đi với người sáng lập khách sạn Falch Erling Monsen (bên trái)

và Giám đốc khách sạn của Dũng, Asle Prestegard.

 

 

Bị xích trong ba tuần. Quả là một con đường dài, kể từ khi ở Việt Nam lúc Nguyễn và em trai bị xích vào một chiếc bàn trong ba tuần bởi gia đình để giữ bí mật. Kế hoạch vượt biên, cho đến khi họ đến nơi tiếp đón ở khách sạn Strand Hotel. Ngày nay Nguyễn ngồi dự một cuộc họp về thương mại ở Strand Hotel với Erling Falch Monsen, người chủ khách sạn, người quản lý khách sạn và bên phải là Asle Prestegard. “Nhờ có d2o, công cụ điều hành của công ty của Nguyễn, chúng tôi có thể ngồi bất cứ đâu trên thế giới xem tổng quan về hoạt động của các khách sạn của chúng tôi, ngay cả đến năng suất của từng nhân viên.” Prestegard nói. “Công cụ này có thể giúp chúng tôi phát triển từ 1 đến 3 khách sạn với cùng một đội ngũ quản lý như trước”. Trong năm 2008, Tập đoàn Bergen Hotel Group, do Falch Monsen phụ trách, trở thành khách hàng của công ty của Nguyễn, sử dụng công cụ d2o. Cùng năm, tập đoàn khách sạn mở rộng và tiếp quản khách sạn Strand Hotel, nơi trú ngụ cũ cho thuyền nhân mà Nguyễn đã ở. Nguyễn sáng tạo d2o để phát triển công cụ điều hành cho kỹ nghệ khách sạn. Ngày nay, d2o được sử dụng bởi 60% thị trường khách sạn của Na Uy. Nguyễn khởi nghiệp công ty vào năm 2000 với chỉ tiền vốn 10.000 đô la, từ chỗ tài khoản trống rỗng trong ngân hàng trong năm hoạt động đầu tiên, nay trở thành một cỗ máy kiếm tiền kỳ diệu. Đây là một thay đổi lớn trái ngược với cuộc họp mặt khách hàng đầu tiên ở Copenhagen của Nguyễn khi anh đi phà đến Đan Mạch chỉ tốn 1 đô la để tiết kiệm tiền. Gấp đôi với công cụ điều hành d2o. “Bạn đang ở vị trí rất tốt so với ngân sách của mình, mặc dù chiều hướng đại thể như năm trước” Nguyễn giải thích trong cuộc họp với Prestegard. “Bạn có thể kiếm lợi nhanh chóng hơn từ ngân sách của mình.”

 

 

Được giải cứu. Được tàu chở dầu "Fernbrook" của Na Uy vớt sau hai đêm và hai ngày rưỡi trên biển. Nguyễn thò đầu ra

ngoài buồng lái của chiếc thuyền vượt biên đã cạn đồ ăn uống và nhiên liệu, lúc đó em mới 7 tuổi. Photo: Private

 

 

Giám đốc khách sạn Prestegard quay người một chút trên ghế, trong khi ông chủ khách sạn Falch Monsen chồm về phía trước bàn. “Có thể cảm thấy cần kìm lại một chút,” Prestegard nói. “Ông nên bảo đảm một phần thưởng lớn hơn”, Falch Monsen trả lời. Falch Monsen, Prestegard và Nguyễn di chuyển từ phòng tiếp tân của khách sạn Strand Hotel đến phòng họp công ty của anh ở Scandic Bergen City. FalchMonsen đã mua Scandic Bergen City vào năm 1976 khi ông còn là người phục vụ quầy rượu ở khách sạn Norge, mua một tòa chung cư với 64 căn hộ và 7 nhà kho với giá 230 ngàn đô la. Chẳng bao lâu sau việc mua này ông đã phải bán căn hộ chung cư cao cấp và chuyển về một căn hộ nhỏ với vợ và các con để tránh phá sản. Tài khoản ngân hang của ông thường xuyên trống rỗng đến nỗi ông bắt đầu bóc các con tem không đóng dấu trên các thư đến, để bảo đảm ông có bưu phí cho các hóa đơn được gởi đi. Ông tiếp tục làm như thế, mặc dù ông đã có lợi nhuận 4,3 triệu đô la năm ngoái. “Công cụ điều hành của d2o đã là một phần quan trọng trong thành công của chúng tôi khi chúng tôi tăng gấp đôi việc kinh doanh sau khi chúng tôi tiếp nhận hoạt động của Neptune Hotel và Strand Hotel trong năm 2008.” Falch Monsen nói. “Hệ thống cung cấp một cái nhìn tổng quan hàng ngày trong toàn bộ hoạt động của chúng tôi từ những gì chúng tôi bán trong quầy bar cho đến giá trị công lao động theo giờ.” một giá cả hợp lý.”Mặc cả không ngừng.

 

 

Giám đốc khách sạn Prestegard lại quay người trên ghế. Ông nghĩ ông đã tán dương đủ hệ thống quản lý của d2o. Ông dự định bắt đầu mặc cả với Nguyễn sớm để mua một giấy phép gia hạn. Prestegard nhận xét, “Đó là một công cụ đắt giá, và việc huấn luyện cũng đắt, nhưng chúng tôi đã đạt đến.   Prestegard là người lớn nhất trong ba anh em, tất cả đều là người điều hành khách sạn, tất cả đều là khách hàng của Nguyễn, và tất cả bọn họ đều mặc cả về giá, bất kể những đề nghị họ nhận được. “Chúng tôi có hơn 400 khách hàng khách sạn, nhưng tôi có thể thành thật nói rằng chỉ có anh em nhà Prestegard mặc cả về giá mỗi khi họ nhận được một đề nghị, ngay cả sau các cuộc đàm phán.” Đắt tiền hay không. Chắc chắn không còn nghi ngờ rằng d2o đang lớn lên. Năm ngoái công ty đã đạt được lợi nhuận trước thuế 1,2 triệu đô la, doanh thu 3,2 triệu đô la, co1 được mức lợi nhuận 38%. Và sự tăng trưởng còn tiếp tục trong năm nay. Nhưng những con số này là quá nhỏ so với những gì được mong đợi nếu tất cả tiến hành thuận lợi theo kế hoạch của Nguyễn.

 

Gia đình. Cha mẹ của Dũng, bà nội và bốn anh em chụp hình ở Bergen khoảng gần một năm sau khi đến Na Uy.

Dũng là bé trai lớn nhất mặc sơ mi màu xanh, với em trai bên cạnh. Bà nội sống đến 107 tuổi. Cha vẫn còn sống.

               Photo: Private

 

 

 

---------------------------------------------------------------------------------------

 

 

d2o

 

 • Công ty D2o được thành lập vào năm 2000 bởi Nguyễn Ngọc Dũng, với sự hỗ trợ của Otto Lekven và người em Nguyễn Ngọc Hoàng, với sự chuyên môn hóa rong công cụ quản lý và tư vấn thương mại cho công nghệ khách sạn.

 

 • Chiếm phần điều hành 60% của toàn bộ số phòng trong khách sạn Na Uy, với sự hỗ trợ của phần mềm PMI (thể hiện, điều hành, thông minh).

 

 • Năm ngoái đạt kết quả lợi nhuận 1,5 triệu trên doanh thu 3,2 triệu.

 

 • Đã có công ty Gazelle Company 4 năm liên tiếp.

 

 •  Hiện nay mở rộng từ Bắc Âu sang thị trường Mỹ, với kế hoạch hàng năm đạt doanh thu 40 triệu đô la chỉ ở Mỹ trong thời hạn 5 năm.

 

---------------------------------------------------

 

deadline2online as (d2o) - Kết qủa 2009

 

Hàng triệu đô la                   2009            2008           Thay đổi

 

Doanh thu                            3,2               3,1               3,2%

 

Tổng lợi nhuận điều hành      1,5               1,7              -11,8%

 

Lợi nhuận trước thuế            1,2               0,6                100%

 

-------------------------------------------------------

 

 

Mơ về chuỗi khách sạn. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn phát triển hệ thống cắt giảm chi phí và tăng năng suất trong công nghệ khách sạn. Trong lễ Giáng Sinh, anh đã từng chỉ nhận được một gói khoai tây chiên nhỏ. “Phải mất vài năm ở Na Uy chúng tôi mới bắt đầu mừng lễ Giáng Sinh”, Nguyễn nói. “Để mừng Giáng Sinh, mẹ tôi luôn luôn mua một gói lớn khoai tây chiên giòn, chia làm 6 phần, và để mỗi gói cho mỗi đứa con dưới cây Giáng Sinh. Mặc dù chúng tôi đã biết đó là cái gì, chúng tôi cũng nhảy lên vui sướng vì chúng tôi chỉ được thưởng thức món xa xỉ này mỗi năm một lần”. Ở Việt Nam, gia đình Nguyễn đã mượn nửa ký vàng, loại vàng lá, để trả cho chuyến đi, bắt đầu từ đêm 2 tháng 4 năm 1978 và chấm dứt vài ngày sau khi được một chiếc tàu dầu Na Uy vớt trong vùng biển Nam Trung Hoa. Ở Na Uy, cha anh tiếp tục tích trữ vàng, ngay cả khi đã trả hết nợ, vì sợ một cuộc chiến trong tương lai sẽ làm đồng tiền Na Uy mất giá, một kinh nghiệm họ đã gánh chịu nhiều lần trước đây. Vàng được tích trữ để lo cho việc học của các con có thể trong lãnh vực được ưa thích là y học và kỹ thuật, đó là giấc mơ của cha mẹ anh. Nhưng Nguyễn đã theo một con đường khác. Ở tuổi 14, Nguyễn đọc một bài báo nói rằng khách sạn ở châu Á sẽ là một công nghệ phát triển trong tương lai, và từ đó anh mơ đến việc sẽ bắt đầu chuỗi khách sạn của riêng mình.

 

 

"Chúng tôi đưa khoa học điều hành khách sạn lên một tầm mức tổng thể mới đi vào chi tiết"

Nguyễn Ngọc Dũng

 

Muốn chinh phục thế giới. Trong thời hạn 5 năm chúng tôi sẽ đạt doanh thu đến 30 triệu đô la hằng năm, nhưng điều đó chỉ có thể làm được ở Mỹ,” Nguyễn nói. Thời gian trôi qua khi Nguyễn, một người Việt Nam, với bề ngoài trẻ trung, tên là Dũng, mang kính trắng để trông có vẻ chín chắn hơn. Đây là lúc anh du hành qua hệ thống công nghệ khách sạn để tung ra công cụ quản lý mới của mình nhưng khó có ai nhận ra họ cần đến nó. Bây giờ, sau mười năm, thị trường Bắc Âu đã trở nên quá nhỏ, và là lúc chín muồi để chinh phục thế giới và thực hiện giấc mơ Mỹ. Đó là tất cả chiến lược của Nguyễn để đạt đến mục đích đầu tiên sở hữu chuỗi khách sạn của riêng mình. “Nếu chúng tôi đạt được giải pháp của chúng tôi đối với thị trường Mỹ, phần còn lại của thế giới sẽ theo.” Nguyễn nói. Nguyễn đã nộp đơn xin thị thực vào Mỹ, mua một căn nhà trong một cộng đồng dân cư gần một cái hồ nhân tạo, và sẽ sớm sắp xếp lại toàn bộ hoạt động của mình, kể cả lo cho người vợ Bỉ và hai đứa con, từ Asker đến Florida. Một khách sạn Mỹ quan trọng đã sẵn sàng ký hợp đồng với d2o, nhưng Nguyễn hiểu rằng thành công sắp tới ở thị trường hiếu khách của Mỹ không thể có nếu anh không có mặt ở đó. Dù đã nghiên cứu kỹ, anh chưa tìm thấy một đối thủ cạnh tranh thực sự ở Mỹ. “Chúng tôi đưa khoa học điều hành khách sạn lên một tầm mức tổng thể mới đi vào chi tiết.” Nguyễn nói. “Theo truyền thống, các khách sạn điều hành bằng cách sử dụng ngân sách hàng năm với trách nhiệm được giao phó. Tiến trình của chúng tôi hệ thống hóa dự báo việc hàng ngày cho tất cả các bộ phận quản lý tài sản, với đánh giá chi tiết chi phí mua sắm thực phẩm và công lao động theo giờ được sử dụng. Với công cụ của chúng tôi, một đầu bếp phải biết tại sao ông ta mua nhiều tôm hùm tươi hơn mức cần thiết, và tại sao ông ta phải bán tôm hùm thượng hạng làm súp với giá thấp hơn.” Bước tiếp theo là phát triển công cụ điều hành với trí tuệ nhân tạo tích hợp có thể đảm nhận vai trò lãnh đạo tại một khách sạn bằng cách cung cấp hướng dẫn liên tục về cách thức các nhà quản lý bộ phận tương ứng có thể học hỏi từ những sai lầm của họ. Khi người đầu bếp phải công bố tình trạng các kết quả của ngày hôm qua, ông sẽ được đánh giá đối chiếu với hiệu suất tốt nhất trong cơ sở dữ liệu, tiếp theo là lời khuyên làm thế nào để ông ta có thể cải thiện.

 

Muốn là người giỏi nhất. Nguyễn thỉnh thoảng xoa các quầng thâm dưới mắt do các cuộc họp qua điện thoại ở tất cả các giờ, với những khách hàng hoạt động ở các múi giờ khác nhau, xa nhất như Hawaii. Khi được hỏi điều gì đã khiến anh làm như thế, anh trả lời rằng anh không nghĩ về điều đó nhiều, vì anh không có sự đánh đổi. “Do quá trình giáo dục và đào tạo của tôi, tôi không có cùng suy nghĩ như một người Na Uy bình thường.” Nguyễn nói. “Tôi không nghĩ về việc tại sao tôi nên ngồi nhiều hơn ở cabin. Tôi muốn thành công. Tôi muốn là người giỏi nhất”. 

 

Giấc mơ về chuỗi khách sạn và d2o ở đâu trong 1 năm tới? “Tôi hình dung d2o sẽ được bán trong 10 năm nữa” Nguyễn nói. “Chúng tôi biết rằng công ty sẽ phát hiện những khả năng thú vị, và chúng tôi sẽ cần vốn. Chúng tôi đã nhận được những đề nghị hấp dẫn để chia sẻ các dự án khách sạn, nhưng trước hết chúng tôi cần ưu tiên cho việc đầu tư ở Mỹ. Như vậy giấc mơ lớn của anh vẫn là sở hữu chuỗi khách sạn của riêng mình? “Giấc mơ của tôi là tiếp tục thành công nhờ khả năng và tài năng của mình”, Nguyễn giải thích. Và lúc đó anh sẽ là cái gì còn hơn là người tư vấn? “Vâng, vì đó là bản chất của xã hội chúng ta. Tôi không muốn nghĩ rằng đàn ông và phụ nữ giàu là tốt hơn, nhưng tôi phải thừa nhận rằng họ có ảnh hưởng lớn hơn trong xã hội. Tôi sẽ chơi đúng luật để đạt đến đó, nhưng tôi sẽ dùng sức mạnh của mình một cách khác.”

 

 

Nhìn lại. Nguyễn Ngọc Dũng sống với cha mẹ, bà nội và 4 em trong phòng khách sạn này ở Strand Hotel ở Bergen sau

          khi đến Na Uy năm 1978.

 

 

"Tôi có một nỗ lực bên trong để chứng tỏ rằng tôi có thể đưa giấc mơ Mỹ vào văn hóa Na Uy "

 

Sau hội nghị với khách hàng, Nguyễn đi trở lại phòng khách sạn ở Strand Hotel nơi gia đình đã ở sau khi đến vào năm 1978. Anh đi bộ qua cửa hàng bán đồ chơi nhỏ vẫn còn tồn tại, và nhớ có lần nó đã là một công viên vui chơi như thế nào cho những đứa bé từng sống trong một căn nhà làm bằng đất sét và tre, ban ngày giẫy cỏ cho cây lạc và ban đêm cho súc vật ăn. Anh đi vào căn phòng khách sạn trống trên tầng 6. Anh nghĩ nó có vẻ nhỏ hơn khi anh ở đó với cha mẹ và. anh em. Anh nhìn xuống chợ cá ở đó anh đã từng câu cá. “Chắc chắn chúng tôi sẽ từ Mỹ trở lại Na Uy. Na Uy là nơi gần gũi nhất tôi có một quê hương. Nhưng tôi vẫn luôn là quả chuối, như người ta vẫn gọi chúng tôi ở Việt Nam.” Nguyễn giải thích. “Người châu Á ở bên ngoài, nhưng người châu Âu ở bên trong.” Bất kể chúng tôi làm việc cực nhọc và học giỏi ở trường như thế nào, những người châu Á chỉ là công dân hạng hai trong xã hội này. Chúng tôi là bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học, và gì nữa, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ ở giữa những người ăn anh đào với thành phần ưu tú. Chúng tôi không sử dụng ngôn ngữ thực sự, chúng tôi không có sự hiểu biết đầy đủ về văn hóa vì chúng tôi không được tiếp nhận nó từ trong sữa mẹ. Cũng cần nhiều thời gian trước khi những người Na Uy khác mời chúng tôi ăn tối. Chúng tôi luôn được gọi bằng tên trong một môi trường người ta gọi bằng họ. Có lẽ không phải chỉ vì tên chúng tôi khó phát âm. Chúng tôi sẽ luôn luôn dịch, nhưng chúng tôi không có nơi nào để dịch. Chúng tôi ở trong một chốn vắng. Nhưng tôi có một nỗ lực bên trong mình để chứng tỏ rằng tôi có thể đưa giấc mơ Mỹ vào văn hóa Na Uy. Thông điệp của tôi cho thế hệ thứ hai người Na Uy gốc Việt là họ không phải bằng lòng với việc trở thành kỹ sư hay bác sĩ. Mơ ước của tôi là có được quyền lực và sử dụng nó những cách khác nhau. Như Robin Hood.

 

 

Øystein Krogsrud và Eivind Senneset (photo), Bergen

 

 Kilder: DN CONFERENCE 2010

 

 

 

 --------------------------------------------------------------------------------------------------

 

 

Nghĩa tình cứu trợ của đồng hương người Việt tại Oslo trong đêm nhạc VINOF 29.10.2010

 

 

Chiều ngày 29.10.2010, khi màn đêm buông dần trên thủ đô Oslo/Nauy. Trong cái tiết se lạnh, ẩm ướt của 1 ngày thứ bảy cuối tháng 10 như báo hiệu 1 mùa đông khắc nghiệt  hơn mọi năm đang vội vã về.

 

Cách trung tâmOslo không xa, tại địa bàn thuộc thị xã Linderud, một đêm gặp gỡ do ban nhạc VINOF, thuộc Hội người Nauy gốc việt đứng ra tổ chức trong tình bạn bè thân hữu. Quan khách và bạn bè xa gần đã thông tin cho nhau về cuộc gặp gỡ này từ hơn 2-3 tuần trước, cho nên số người tham dự đến khá đông. Thức ăn, nước uống, bia, rượu đỏ tự mỗi người tham dự đem theo, tạo nên một bàn tiệc đủ các món ăn thuần túy vn, thật thơm ngon và hấp dẫn. Từ sushi cho đến  các món như chè, xôi, gỏi,bún xào,thịt gà trộn lá cải v.v.. đều có đủ cho những thực khách kiêng ăn nhất cũng phải phá lệ.

 

Trong lúc chương trình ca nhạc "sống" tự do lên hát đang sôi động thì ban cứu trợ VINOF  lên trình bày dự án chiến dịch cứu trợ lũ lụt miền Trung năm 2010 đến với quan khách. Anh Hữu Tú (trưởng Ban cứu trợ VINOF), anh Nguyễn Quy (thủ qũy) và anh Thanh Hiệp đã đứng lên tóm lược mục tiêu cuộc vận động cứu trợ trên trang nhà vinof.no.  Với khẩu hiệu: "GÓP MỘT BÀN TAY/GIR EN HÅND", cuộc quyên góp sẽ được bắt đầu quảng bá rộng rãi trong 1 tháng, từ ngày 01.11 cho đến hết ngày 01.12.2010. Dù chỉ mới thông báo cho mọi người biết thông tin chiến dịch, nhưng sau đó một đôi vợ chồng tiểu thương có mặt trong đêm nhạc, đã chính thức lên tiếng xin được chia sẽ đóng góp cho đồng bào ruột thịt tại quê nhà.

 

Từ một nghĩa tình như thế đã tạo nên nhịp đập liên hoàn, rung cảm sang các tấm lòng yêu thương khác một cách đến lạ lùng như ơn trên đã định sẵn. Không đầy 10 phút, ban cứu trợ VINOF đã nhận được 3005 kroner tiền đóng góp. " Thật cảm động đến rơi nước mắt, hôm nay ban cứu trợ VINOF được nhân đôi niềm vui. Niềm vui cho mình và niềm vui cho người". Một thành viên trong Ban cứu trợ tâm sự với tôi.

 

Màn sổ xố được người tham dự hưởng ứng một cách vui vẻ, thân tình. Phần thưởng là các chai rượu vang đầy ý nghĩa cho quan khách khi mùa Noel đang cận kề. Đi một vòng quanh, trao đổi ý kiến với một vài người tham dự cho thấy, dường như ai nấy cũng hài lòng với cách tổ chức những đêm nhạc thân thiện và bình dân như vậy. Bình dân ở đây người viết muốn ám chỉ đến nổ lực chiều lòng người tham dự một cách dễ mến của anh em trong ban nhạc VINOF. Có nghĩa rằng; mặc dầu bạn chưa từng nắm vững nhạc lý hay kỹ thuật khi lên hát nhạc sống, nhưng ban nhạc VINOF vẫn cố hòa âm để bắt nhịp cho bạn hát cho trọn bài.

 

" Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi" một câu nói mà người viết xin trao gởi đến toàn thể anh em trong ban nhạc VINOF. Cám ơn anh em đã  mang lại cho người tham dự một niềm vui cuối tuần thật vui, sau một tuần làm việc mệt nhọc.

 

Hoàng lâm

 

 

 

 

 

 

SÀI GÒN BÂY GIỜ

Thiên Hương,2010 

 

 

Tôi mới về thăm Sàigòn, mới trở về một khung trời thân thương nhưng sao nhiều lúc thấy mình lạc lõng trước những đổi thay và có những lúc thấy mình hoang mang. Dù không có dịp đi nhiều, gặp gỡ nhiều, chỉ nhìn những gì đang diễn ra trước mắt, tầm nhìn rất hạn hẹp nhưng cũng đủ để có những câu hỏi và những suy tư.
 

 

Thành phố Sài gòn bây giờ, chụp từ trên cao, 07.2010

 

 

Tiền nhà đất ở Sài gòn mắc khủng khiếp, mới vài năm giá đã vọt lên gấp mấy lần. Thiên hạ đổ xô mua nhà ở những khu cao cấp, giá nhà cửa ở những khu này đụng tới là nói đến hàng tỷ, những căn ở Phú gia lên đến vài triệu đô là chuyện thường tình ở huyện. Mấy tháng gần đây, thiên hạ trúng cổ phần nên lại càng chen nhau mua nhà và đẩy giá nhà đất ở những khu cao cấp lên cao gấp năm bảy lần so với vài năm trước đây. Có gan làm giàu, nên một số người cầm cố nhà cửa mua chứng khoán, trúng đậm và đẩy giá nhà đất tăng vọt. Nhưng cũng có nhiều người tán gia bại sản vì giá chứng khoán đi xuống.

 

Có căn nhà đường Đồng Khởi rao bán với giá 1 tỉ đồng cho 1m2 (khoảng hơn 60 ngàn đô Mỹ một mét vuông). Nhìn vào giá nhà đất cao hơn New York và Tokyo ắt hẳn thấy dân Việt nam mình là dân giàu ... nhất thế giới. Có vẻ như là ai dính vào nhà đất cũng giàu, vì thế quí vị quan viên chia nhau mua đất ở những vùng xa xôi rồi vẽ lên một bản đồ qui hoạch, đưa đất của mình vào những vùng trọng điểm, thế là thắng to, tiền lại đẻ ra tiền.  Nhưng cũng có những người mua nhà đất ở quận 2, khu sẽ xây dựng trung tâm mới cho thành phố hay mua đất ở quận 7, quận 9 ở SG hiện nay dở khóc dở cười vì không đuợc phép bán mà cũng không được phép xây dựng, cứ treo đó để chờ … qui hoạch. 

 

Nhịp độ xây dựng trong thành phố nhanh đến chóng mặt, các khu cao ốc xây dựng khắp nơi giá vài trăm ngàn đô một căn khá phổ biến. Nhưng cũng có những cao ốc xây dựng đã lâu vẫn đìu hiu buồn tênh. Ba căn cao ốc Thuận Kiều ở Quận 5 cao ngất ngưởng nhưng đến đêm lại tối thui đèn đóm vì không có người ở. Người dân ở đây ví cao ốc này như ba cây nhang, vì bị một cái huông nào đó nên chẳng mấy người mua hay thuê. Có lẽ vì đời sống quá chộn rộn nên người dân bây giờ dựa vào bói toán và mê tín trong mọi việc. 

 

Bởi vậy, với nhà đất, ai nổi thì cứ nổi, ai chìm cũng cứ chìm, bảy nổi ba chìm chín cái lênh đênh ....

Các nơi ăn uống mọc lên tứ tung ở Sàigòn. Nhiều khu ăn uống lớn như một khu công nghiệp. Vào các khu Bình Quới, Thanh đa, các Làng Nướng, các khu ăn uống ở khắp nơi trong thành phố thấy người ta ăn nhậu mà phát sợ. Các tiệm café quanh hồ con Rùa luôn đầy ứ người, các tiệm café sân vườn, các quán ca nhạc mở khắp nơi. Sàigòn càng ngày càng nhiều thêm các tiệm thẩm mỹ và massages để phục vụ khách nước ngoài và Việt kiều. v.v… Nhìn các cửa hiệu sầm uất quá sẽ thấy dân mình sao giờ giàu quá thể. Nhưng nếu nghĩ một cửa tiệm như vậy chỉ có một ông chủ là giàu còn bao nhiêu là nhân viên phục vụ mà các nhân viên phục vụ này đa số có mức sống dưới trung bình. Mà đó còn là những người may mắn vì có công việc thu nhập còn khá, còn biết bao nhiêu người bán rong ngoài chợ, những người lao động chân chính, họ nghèo, rất nghèo ...

 

Mà còn rất nhiều người nghèo thật. Trên các con đường vẫn còn cảnh các người bán rong trên phố chạy tơi tả khi công an dẹp lòng lề đường. Những cô bé bưng những thau xôi nhỏ, những người bán bún, bán trái cây vội vã chạy khi thấy bóng công an từ xa. Nếu bị giam hàng, mất vài trăm ngàn tiền phạt, phải vay nóng, số nợ cứ tăng lên, lãi mẹ đẻ lãi con lại ra bày hàng bán với số thu nhập dưới trăm ngàn một ngày. Một bà bán trái cây than, bà muốn mua vé số may ra trúng mà đổi đời chứ khổ quá, mà vé số cũng mắc nên không dám mua.

 

Lúc mới 75, trong các lớp tập huấn chính trị, các giảng viên chỉ trích chế độ cũ cho tổ chức cờ bạc công khai trá hình dưới hình thức xổ số kiến thiết quốc gia vào thứ ba mỗi tuần. Bây giờ thì hình như không tỉnh thành nào không có xổ số. Một ngày xổ số không biết đến mấy lần nữa. Nhưng nhờ vậy mà cũng giúp được một lực lượng đông đảo những người bán vé số. Trong số những người bán vé số này có cả những cụ già lọm khọm, những người ngồi trên xe lăn, chống nạng và rất nhiều những đứa bé chỉ trên dưới mười tuổi…

 

Số lượng taxi ở Sàigòn cũng gia tăng rất nhanh. Cả chục hãng taxi cạnh tranh nhau cùng với các taxi ngoài luồng. Thường người ta vẫn thích đi taxi của các hãng vì đồng hồ chạy giờ được tin tưởng hơn. Rất nhiều người lái taxi từ các tỉnh thành, vùng quê khác đến. Trong các nhà hàng, các tiệm cũng vậy. Thanh niên và các lao động chính trong gia đình có khuynh hướng rời thôn quê đổ về các thành phố lớn nơi có nhiều cơ hội kiếm sống hơn. Như vậy lấy ai xây dựng nông thôn? Những người sống ở quê trông vào tiền gửi về của người thân làm ở thành phố. Những người này thường sống thành nhóm, chia phòng ở và dành dụm gửi tiền về nuôi gia đình ở quê, có người cả mấy năm không thể về thăm nhà. Như thế, cuộc sống kinh tế của gia đình họ khá hơn, nhưng về tinh thần sẽ ra sao khi gia đình chẳng được niềm vui sum họp.

 

 

Thành phố Sài gòn bây giờ (Quận 1)

 

 

Có những người ở quê giàu lên nhờ cứ cắt đất ra mà bán dần, tiêu xài thoải mái, xây nhà, mua xe, mua máy móc, chưng diện, v.v... Nhưng rồi họ sẽ tiến tới đâu khi không còn đất để bán và các món tiền này cũng hết đi.  Tôi có dịp về thăm một lô đất của người bạn ở vùng ven Sàigòn, cũng mừng vì những ngôi nhà nhỏ trên những lô đất gần đấy đã có vẻ bớt rách nát. Những người sống ở đó giờ đây ăn mặc cũng khá tươm tất, đã có da có thịt không gầy gò như vài năm trước. Nhưng hỏi ra mới biết lao động chính trong gia đình là những đứa bé 5, 7 tuổi. Tối tối các cô cậu bé tí này đi trộm mủ cao su ở những rừng cao su gần đó đem về cho cha mẹ bán. Đời sống gia đình nhờ thế mà khá lên. Căn bản không có, cái gốc không có, cái ngọn sẽ tươi được bao lâu?

 

Rất nhiều cửa hàng ở Sàigòn thấy mở cả ngày mà số lượng bán buôn thật ít ỏi. Giá thuê mặt bằng lại quá mắc, rồi rất nhiều chi phí khác sẽ khiến cho các chủ cửa hàng này cầm cự được bao lâu. Hiện nay các siêu thị, các cửa hàng tổng hợp bắt đầu mọc lên như nấm. Vào các cửa hàng này không sợ mua hớ, chất lượng cũng đảm bảo hơn nên sẽ là một mối đe dọa lớn cho các tay buôn và cửa hiệu nhỏ. Có lẽ vì thế nên dạo này giá nhà mặt tiền đã hơi chựng xuống. Vào các quán ca nhạc, một vài quán đông khách, nhưng cũng có những quán vào các tối trong tuần số khách loe hoe đếm trên đầu ngón tay, tiền sở hụi nặng quá các người chủ sẽ chống chỏi được bao lâu.  Có những người đang giàu và sẽ giàu mãi lên nhưng với đa số dân, đời sống kinh tế chật vật, bảo hiểm y tế không có, nếu gặp một biến cố nào, khi đau ốm cuộc sống gia đình sẽ ra sao. Đi vào một tiệm gội đầu, nhìn các cô gái gội đầu và massages cho khách mà thấy ngậm ngùi. Gương mặt các cô cúi xuống, những ngón tay nhỏ bé nắn bóp những cánh tay to lớn của những người khách ngoại quốc, cam chịu đến não lòng. 

 

Thành phố càng ngày càng đông, sức sống ngần ngật nhưng có vẻ như quá tải. Nhịp độ tăng trưởng quá nhanh nhưng không cân xứng. Các cửa hàng dịch vụ, nhà hàng, các khu ăn chơi mọc lên như nấm nhưng con số các trường công lập, các nhà thương công hình như không nhiều thay đổi. Nhiều người giàu quá giàu nhưng vẫn rất nhiều người còn quá nghèo. Cái giàu lộ rõ, cái nghèo chìm hơn nhưng mênh mang như những tiếng thở dài.

 

Sài gòn bây giờ càng ngày càng muôn mặt, nhưng buổi sáng vẫn rộn rã với hình ảnh các học sinh, sinh viên mắt sáng trong tươi vui đến lớp, hàng đoàn người xe tấp nập, và … những chùm phượng đỏ đã bắt đầu nở trên cao, những cành hoa điệp vẫn còn vàng óng và một số đường phố vẫn rợp bóng lá me xanh. Cuộc sống vẫn còn đầy niềm tin và hi vọng, có đúng không…?

 

Thiên Hương, 2010

 

 

 

 

-------------------------------------------------------------------------------------------------

 

 

 

 

VINOF - Cứu trợ

Ngưi Oslo

 

Công việc lạc quyên để cứu trợ đồng bào bị nạn bảo lụt ở miền Trung Việt Nam, sẽ không được nhiều người biết đến, nếu không có những tờ giấy dán tại các cửa tiệm bán thực phẩm của người Việt tại trung tâm Oslo.

 

Thứ bảy 21.11.2009 cũng là ngày đẹp trời, so với những ngày trước đó, vì không tuyết, không mưa và nhiệt độ tương đối cũng ấm. Người đến dự buổi văn nghệ lạc quyên cảm thấy ấm hơn, sau khi đi nhiều bậc tam cấp để xuống dưới tầng hầm cuối cùng của nhà thờ mang tên St. Magnus Katolske Menighet, tại Romeriksgata 1, 2003 Lillestrøm. Không khí thêm ấm cúng vì cách trang hoàng tại đia điểm này. Hai lá cờ Việt Nam và Na Uy được phủ dọc hai cột trước sấn khấu. Huy hiệu của VINOF, càng nhìn người xem càng thấy ý nghĩa đặc biệt của nó.

 

Duy chỉ có một hai điều hơi trục trặc trong chương trình. Không chào cờ Na Uy. Ðể tôn trọng quy định của nhà thờ (đang diễn ra cuộc lễ ở tầng lầu trên cùng), việc trình chiếu video clip hơi lâu và việc anh Hội trưởng hội Vinof nói lời khai mạc, như để trám vào thời gian chết đó. Tuy nhiên, nội dung của bài nói chuyện có lẽ đã đem đến sự thông cảm nơi mọi người. Mọi việc đều là ”cây nhà lá vườn” …và chỉ có mỗi mục đích là chia xẻ những khốn khó của đồng bào ruột thịt tại quê nhà.

 

Không khí náo nhiệt, ấm cúng hơn nơi phần văn nghệ của ban nhac. Họ không hát karaoke bằng máy video như thường lê. Ban văn nghệ chơi nhạc cụ như tất cả các ban nhạc chuyên nghiệp khác....và chơi có rất có hồn, rất sống động. Có lẽ vì vậy mọi người hay gọi lối chơi nhạc như vầy là chơi "nhạc sống" chăng?!... Phần khán giả, họ hăng hái tham gia việc ca hát. Và phần disco vào phần cuối chương trình có lẽ làm những người tham dự quên đi cái lạnh ở bên ngoài.Những người lớn tuổi ra về sớm hơn. Thanh niên kéo dài cuộc vui lâu hơn, quá giờ ấn định của chương trình là 12:00 khuya. Ngày mai, chủ nhât. Chắc không mấy ai trong nhóm thanh niên dự chơi buổi văn nghệ sẽ phải thức sớm như thường lệ. Hy vọng trong những lần tổ chức văn nghệ sắp đến, giới trẻ sẽ thật sự vui thích với chương trình như thế.

 

Tổng kết sơ khởi được loan báo tại chổ, cho biết tổng số tiền thu được có thể lên đến 20.000 Kr (nói có thể, vì trong thư mời đã nói rõ là, tiền bán thức ăn, nước uống sẽ được đưa vào số tiền cứu trợ, sau khi khấu trừ việc mua nguyên, vật liệu; và việc khấu trừ sẽ được ban ẩm thực cho biết trong vài ngày sau).

 

kết qủa lạc quyên trong "Đêm nhạc thính phòng cứu trợ bảo lụt miền trung", thứ bảy 21.11.2009.

 

Sau buổi văn nghệ cứu trợ, điều làm mọi người cảm thấy có thể nói là hài lòng và vui vẻ là: Tuy số người tham dự không đông lắm, nhưng tình cảm dành cho đồng bào tại quê nhà khá lớn, qua số tiền đóng góp đó và qua số tiền của những người, tuy không đến được, nhưng đã gửi đến trương mục của Hội một số tiền đáng kể.

 

Người Oslo

22.11.2009

 

 

-----------------------------------------------------------------------------------------

 

 

 

 

Hiep Hoang (44) er en av de ti vinnerne av årets Top10-kåring, 2008

Hardt arbeid er veien til topps

Det finnes ikke én enkel vei til suksess i Norge. Men viljen til å arbeide hardt og målbevisst er viktig for å lykkes. Spesielt for minoriteter.

 

I 1982 kjempet Hiep Hoang (44) for livet på en båt i Sør-Kina havet. Den 18 år gamle gutten flyktet fra hjemlandet sitt Vietnam og ble plukket opp av en norsk båt. Etter ti måneder i en flyktningeleir kom han til sitt nye hjemland i nord.

 

Finans Direktør/CFO, Apply AS (oil & gas)

“Som innvandrer har han klart å oppnå høy status og har hatt flere høye lederstillinger i store organisasjoner, noe som er et sjeldent fenomen.”

 

 

27 år senere er Hiep Hoang finansdirektør i oljeservices-konsernet Apply og har hatt lederjobber i ulike firmaer gjennom årene.

–Årene i Norge har vært som en reise med både oppturer og nedturer. Som for alle andre innvandrere har det for meg vært mye jobbing og hard satsing for å komme, forteller Hoang.

Han har vært bevisst på å arbeide hardt og satse på det han er god i.

–Å tørre å følge min egen vei har vært viktig, dessuten å satse på «beste kvalitet» istedenfor «det er bra nok».

Akseptere rammene.

Hiep Hoang synes det er viktig å formidle at det også gjelder å akseptere de rammene man har, bruke de kortene man får utdelt, uten å bli frustrert.

–Som innvandrere må vi akseptere at kravene er høyere, og vi må prestere og levere enda bedre enn andre. Innvandrere må ta ekstra initiativ, eller finne andre måter for å komme innenfor og bli akseptert.

 

 

Her er Top 10 innvandrere i 2008

 

De vinnere for 2008 er:

1.  Florentina Harbo Moldova 31 år, kom til Norge i 2005

2. Olga Holter Russland 42 år, kom til Norge i 1993

3. Nalan Koc  Tyrkia 46 år, kom til Norge i 1985

4. Veronica Morino Italia 35 år, kom til Norge i 1998

5. Xiuhua Zhang  Kina 51 år, kom til Norge i 1997

6. Thomas Anglero USA 42 år, kom til Norge i 1996

7. Senaid Kobilica Bosnia-Herzegovina 34 år, kom til Norge i 1999

8. Hiep Hoang Vietnam 44 år, kom til Norge i 1982

9. Ranjith Molegoda Sri Lanka 49 år, kom til Norge i 1984

10. Khalid Salimi Pakistan 54 år, kom til Norge i 1976

Målsettingen med Top 10 er å synliggjøre positive rollemodeller med internasjonal bakgrunn. Vi belyser den faktiske kompetansen og engasjementet som finnes hos internasjonale kvinner og menn i Norge. Gjennom å løfte frem personer som har lykkes i å integrere seg i det norske arbeidsmarkedet ønsker vi å inspirere, og å bidra til å fremme multikultur og internasjonalisme, toleranse og integrasjon i det norske samfunnet, sier Lisa Cooper, daglig Leder, Leadership Foundation står bak kåringen.

 

 

---------------------------------------------------------------

 

 

 

 

Dr. Phuong Ngoc Nguyen er en av de ti vinnerne av årets Top10-kåring, 2005

 

 

 

 

Dr. Phuong Ngoc Nguyen

Fastlege, spesialist i allmennmedisin og universitetslektor. Phuong er 55 år, og har vært i Norge i 30 år.

Han var med i den første puljen vietnamesiske båtflyktninger som kom til Norge i 1975. Phuong hadde da kun en plastpose med skjorte og bukse, og er i dag etablert som lege og universitetslektor. Han har engasjert seg mye i arbeidet for flyktninger, først gjennom Flyktningehjelpen og seinere som leder av Grønland helsesenter og fastlegeordningen, der han nå har 65 % pasienter med minoritetsbakgrunn.

 

 

--------------------------------------------------------------------------------------------

 

 

 

Båtflyktninger:
Den store klassereisen

 

 

 

Sør-Kinahavet, juli 1979: En liten båt med 27 vietnamesiske flyktninger blir reddet av det amerikansk marinefartøyet USS White Plains. Her klatrer en av dem om bord, med alle sine eiendeler mellom tennene.
Foto: ©Bettmann/CORBIS

 

 

Av ikke-vestlige innvandrere er vietnameserne blant dem som har klart seg best i Norge. Hva kan det skyldes?

 

En kald høstdag for temmelig nøyaktig 30 år siden landet det første flyet med vietnamesiske båtflyktninger på Værnes lufthavn i Trøndelag. De var tjue i tallet: barn, foreldre, noen enslige ungdommer – alle i tynne bomullsklær og nesten uten bagasje.

Noen uker seinere landet et nytt fly, denne gangen med seksti om bord. I løpet av noen få år skulle 500 vietnamesiske båtflyktninger finne nytt hjem i Trondheim. Det var neppe vinterkalde Norge de hadde sett for seg som framtidig fedreland, alle disse som la ut på åpent hav i små båter. Men til Trondheim kom de, og i Trondheim har de blitt, svært mange av dem. I dag bor rundt 900 personer med vietnamesisk bakgrunn i Trondheim. På landsbasis er de nærmere 20 000. Og skal vi tro statistikkene, er det få med ikke-vestlig bakgrunn som har klart seg så bra som nettopp vietnameserne. I Trondheim som ellers i landet.

 

Hva var det mottaksapparatet gjorde den gangen, som åpenbart må ha vært riktig?
Eller kanskje vi heller bør spørre: Hva er det vietnameserne selv har gjort?

 

Usedvanlig fleksible
Blant dem som ventet i ankomsthallen denne oktoberdagen i 1979, var en ung sosionom ved navn
Berit Berg. Hennes samlede arbeidserfaring var fjorten dagers fartstid ved Flyktningerådets nyopprettede kontor i Trondheim.

– Vi hadde et budsjett, noen leiligheter, plenty idealisme og masse god vilje. For øvrig hadde vi ikke særlig peiling, medgir hun.

I dag er Berg avdelingsleder ved NTNU Samfunnsforskning, Senter for mangfold og inkludering. Og etter 30 år med flyktninger og innvandrere som arbeidsfelt har hun særdeles god peiling: 

– Sett med norske øyne, kan vi godt kalle vietnameserne i Trondheim en suksess. Men den handler ikke mye om hva vi gjorde. Årsakene ligger definitivt i vietnameserne selv!

De har vært usedvanlig fleksible og tilpasningsdyktige. De ville bli integrert. De ville være en del av «den norske harmonien». Og kanskje de i større grad enn andre har vært villig til å ta imot det de fikk, og godta ordningene slik de var.

– Men om vi ser prosessen som en samhandling, er det opplagt at deres inviterende, ikke-konfronterende væremåte, og deres arbeidsomhet, også har passet oss nordmenn svært godt, slår forskeren fast.

 

Hjemme er Norge
I mai ga Berit Berg og Kirsten Lauritsen (førstelektor ved Høgskolen i Nord-Trøndelag) ut boka
Eksil og livsløp. Her har de intervjuet flyktninger som kom fra Chile, Vietnam, Iran og Somalia i årene mellom seint 1970-tall og tidlig 1990-tall. De har også snakket med andregenerasjonen: de som kom som småbarn, eller som er født her.

Undersøkelsen bekrefter at vietnameserne på flere områder skiller seg ut fra de andre nasjonalitetene, blant annet ved å betrakte Norge som «hjemme». Vietnam er nok «hjemlandet» – man savner det, man drar kanskje på ferie dit. Men man vender ikke tilbake. Hjemme, det er her.

– Det har selvfølgelig å gjøre med at de har vært her lenge. Men også med at de tidlig innså at de antagelig aldri kunne vende tilbake. En slik erkjennelse gir en helt annen motivasjon for integrering, sier Berg. – Chilenerne, for eksempel, som kom omtrent samtidig, hadde en mye sterkere idé om at eksilet var høyst midlertidig. De skulle snart hjem igjen, trodde de, og hadde derfor på langt nær samme motivasjon for å bli integrert.

– Mer enn kanskje noen annen flyktninggruppe har vietnameserne vært opptatt av å skaffe seg et liv her og bruke de mulighetene som fantes her. De har møtt utfordringene, brettet opp ermene, stått i tungt arbeid. Uten å la seg knekke, men også uten åpne konfrontasjoner. Men i det stille har de gjennomført en revolusjon: Ingen andre, nordmenn inkludert, har så skoleflinke og så høyt utdannede sønner og døtre!

 

Utdanningsrevolusjonen
Av de første 80 båtflyktningene Berit Berg tok imot, var det to–tre som hadde en eller annen form for utdanning. De fleste var fiskere og hjemmearbeidende med gjennomsnittlig fem års grunnskole. Seinere kom folk med mer skolegang, men i den eldre generasjonen er utdanningsnivået jevnt over lavt.

Med ungene deres forholder det seg oppsiktsvekkende annerledes: Ikke bare får de best karakterer av alle i videregående skole (så vidt slått av srilankerne). De tar også høyere utdanning i mye større grad enn befolkningen som helhet gjør. Jenter som gutter.

 

 
 

 

Foto: Thor Nielsen

 

 

– Mor og far har jobbet for oss!

Foreldrene mine ville aller helst at jeg skulle bli ingeniør.

Det sier Vu Lâm fra Haugesund. Han kom til Norge i 1985, fire måneder gammel, og er sønn av foreldre som selv hadde høyskoleutdanning fra hjemlandet.

Vu studerer industriell økonomi og teknologiledelse ved NTNU, og kommer dermed til å oppfylle mors og fars ønske.

– Det ville nok vært greit om jeg hadde blitt noe annet også, men de var tydelige på at jeg minst måtte skaffe meg en bachelorgrad, sier han.

Vu mener at vietnamesiske foreldre er svært opptatt av at barna skal ta høyere utdannelse.

– De jobber hardt og legger alt til rette for at vi skal få det. For eksempel har mine foreldre aldri villet at jeg skulle ta meg deltidsjobb. Jeg skulle konsentrere meg om skole og studier, mens de tok seg av finansene.

Lise Vy Quyên Vu studerer til bioingeniør ved Høgskolen i Sør-Trøndelag. Hennes foreldre tilhører den aller første gruppen båtflyktninger som kom til Trondheim, i 1979. De tok selv videregående skole og yrkesutdanning her, begge to.

Lise har samme inntrykk som Vu:

– Noen foreldre presser kanskje hardt på. Men de er veldig opptatt av at vi skal benytte de mulighetene som finnes, og få en lysere framtid enn de selv hadde.

Lise og Vu er henholdsvis leder og nestleder i den vietnamesiske studentforeningen i Trondheim. Den ble opprettet for mange år siden, da de første vietnamesiske studentene kunne mindre norsk og hadde færre norske venner. Nå er vietnamesisk ungdom mer og mer sammen med norsk ungdom, men foreningen har fortsatt en sosial funksjon og er et sted der man kan ta vare på sin «vietnamesiskhet».

– Foreldrene mine er veldig glad for at jeg er med der. Jeg synes også selv det er en fordel å beholde en fot i den vietnamesiske tradisjonen, sier Lise. – Vi merker for eksempel at de som nå henger mest sammen med norske venner, har begynt å snakke dårligere vietnamesisk.

– Men hvis vi sammenlikner unge vietnamesere i Norge og andre land, er fortsatt de norske mye flinkere, presiserer Vu.

 



«Vi har ennå ikke vært villige til å tilby førstegenerasjonen jobb eller god nok norskopplæring.».Berit Berg, NTNU Samfunnsforskning.

 

Til å begynne med var det statusyrkene ingeniør, lege og jurist som toppet statistikken. Nå velger de unge vietnameserne mer etter interesser og forutsetninger, og vi finner andregenerasjonen i alle fag og retninger på universiteter og høgskoler.

– Vi har sett en inspirasjon og en motivering – og sikkert også et press – fra foreldregenerasjonen, som vi knapt finner i andre innvandrergrupper, sier Berg.

– Riktignok har utdanning alltid hatt høy status i Vietnam. Flyktningene innså straks hvilke muligheter barna deres fikk i Norge. Men dette er foreldre som selv har manglet både skole og norskkunnskaper og kjennskap til det norske utdanningssystemet. De færreste har kunnet følge opp barnas skolegang på samme måte som norske foreldre. Likevel har de sørget for at ungene gjennomfører, det er en enorm innsats! At også jentene har blitt så oppmuntret, er spesielt gledelig.

 

Fredelig kriminalitet
En av de få statistikkene hvor vietnameserne likevel ikke kommer utpreget heldig ut, er kriminalstatistikken. Antall straffedømte er over landsgjennomsnittet og på linje med gjennomsnittet for ikke-vestlige innvandrere. De fleste dommene gjelder vinnings-, narkotika- eller trafikk-kriminalitet.Til gjengjeld er det ingen gruppe som er så lite utsatt for tyveri, skadeverk, vold og trusler som vietnameserne. Politistasjonssjef Ove Sem ved Sentrum politistasjon i Trondheim har kontakt med ulike innvandrergrupper, og vet vanligvis hvem som steller med hva. Han kan fornøyd slå fast at trondheimsstatistikken trolig er bedre enn landsstatistikken:

– Siden 2002 har vi i Sør-Trøndelag politidistrikt hatt bare 25 rettskraftige dommer mot personer født i Vietnam, forteller han. (Én person kan ha flere dommer på seg, antall lovbrytere er derfor lavere.)

Det er ikke mye. Og tallene blir bedre år for år. – Det er ikke ofte vi ser vietnamesiske navn på listene våre i dag. I fjor ble det avsagt bare én dom, sier Sem. Politistasjonssjefen bekrefter at det stort sett er i narkotika- og vinningssaker vietnameserne opptrer. I voldssaker er de så godt som fraværende. – Vi har hatt to voldsdommer i løpet av disse snart sju årene, og jeg kan ikke komme på ett eneste tilfelle av gjengslagsmål her i byen, sier han. Ove Sem vil nødig komme med bastante forklaringsmodeller, men tror det kan henge sammen med minst tre forhold:

– For det første er mange av dem buddhister; det er jo en fredelig religion. For det andre ferdes de i liten grad der volden utøves. De driver ikke gatelangs i Midtbyen natt til lørdag og søndag, som andre grupperinger gjør. Og for det tredje er mitt inntrykk at de er bedre integrert enn andre ikke-vestlige innvandrere. Det samme gjelder for øvrig kinesere, indere og srilankere; vi har nesten aldri problemer med dem heller.

 

Forblir vietnamesere
Om vietnameserne aldri så mye erklærer Norge som «hjemme» og må sies å være usedvanlig godt integrert: De er og blir vietnamesere.
– Det handler om tankegang og innstilling, sier Berg. – Mine informanter sier selv at når det gjelder ting som nærhet, fortrolighet og det å dele bekymringer, går de helst til sine egne – slik vi selv gjør. Og de gifter seg helst med sine egne. Men ellers sier de at de plukker det beste fra begge kulturer.



Velferd, likestilling og åpenhet fra oss, høflighet og respekt fra sin egen kultur. Men de synes nok at nordmenn oppfatter dem nokså unyansert. Og selvsagt er ikke historien om vietnamesere i Norge bare solskinn. Berit Berg er snar med å påpeke:

– Jeg har opplevd nordmenns skepsis. Jeg har opplevd tynn og elendig organisert morsmålsundervisning. Og vi har ennå ikke vært villige til å tilby førstegenerasjonen jobb eller god nok norskopplæring!

 

De viktigste grepene
Blant de gruppene som klarer seg dårligst i dagens Norge, finner vi somalierne. Her er både utdanningsnivået og sysselsettingen lav, og problemene tilsvarende store.

– Men de har vært her kort tid, vietnameserne lenge. Det blir interessant å se hvordan dette er om 15 år, sier Berg.
Om forskeren skal oppsummere de tre viktigste grepene for god integrering, blir det disse:

– Vi må jobbe med holdninger hos unger i skoler og barnehager. Vi sier så fint at integrering er en toveissak, men i praksis legger vi hele byrden på den ene parten. Vi må tilby språkopplæring og tilrettelegging av utdanning, også for dem som kom før det introduksjonsprogrammet som finnes nå. Og vi må gi flyktninger og asylsøkere en så god start som mulig. Å putte en ung, enslig mann inn i et hybelhus med 50 andre unge menn av ulike nasjonaliteter, er ikke veldig lurt. Bolig er en viktig integreringsarena, og her kan myndighetene gjøre noe.

– Det er viktigere med praksis enn med proklamasjoner, slår Berit Berg fast. – Og vi må våge å diskutere tingene. I dag har vi overlatt debatten til Fremskrittspartiet. Spør du meg om integrering i Norge er mislykket, så svarer jeg nei. Men her finnes mørke flekker og svarte hull som vi er nødt til å se på. Og jobben er minst like mye majoritetens, altså vår.

Lisa Olstad 
  
Kontakt:
Berit Berg, NTNU Samfunnsforskning
Tlf: 73 59 25 56  e-post:
berit.berg@svt.ntnu.no

Publisert 16. september, 2009

 

 

-------------------------------------------------------------------

 

 

 

Vietnamesisk melakoli
Nguyen Minh Tuan skriver om hvordan han opplever å bo i Norge som vietnamesisk flyktning.

NORGE HAR TATT I MOT vietnamesiske flyktninger siden 1975. Etter 30 år teller norsk-vietnameserne rundt 18 500 personer. Dersom vi ser tilbake til de først ankomne, den gang ungdommer, er de nå enten i aktiv arbeidsalder; rundt 50 år eller nærmere 60 år gamle. I løpet av denne korte tiden i det andre hjemlandet har tre generasjoner kommet til.

 

Vietnamesere flest er sterkt påvirket av konfusianismen og betrakter familielivet som det viktigste. Familien er bygget på arven som forfedrene har lagt for etterkommende generasjoner. «Mennesker og fulgene har sitt opphav, nemlig redet eller hjemmet», og hjemlandet er stedet hvor det hele startet. Samtidig har vi ordtak som «Å tenke på elven når man drikker dens vann». Derfor skal man ikke kimse over å kalle Norge «det andre hjemlandet». Tvert i mot vil det fremheve vår vilje i å integrere oss i det norske samfunnet, og samtidig å minne oss om våre forpliktelser ovenfor dette landet, som har gitt oss tilflukt. Med rettigheter følger også plikter.

 

Vi lever i Norge, tilpasser oss skikk og bruk etter norske normative verdier. Men, til syvende og sist er dette kun et ytterlag. Kjernen er fortsatt vietnamesisk, og det ytre laget kommer av så fort man er kommet inn døra hjemme. Dette kultursjokket har vietnamesere måttet utsette seg for gjennom tre generasjoner.

 

LENGSLER. De unge nyankomne i 1975 tok med mange minner i bagasjen. Bilder av bygda, gamle skoler med taket dekket av grønn mose, fønikshalens blomst. De tok med seg ao dài (tradisjonelle klær) og konisk hatt.

De tok med seg minner om bøfler i rismarkene, og de små hyttene hvor hele familien samlet seg. Disse minnene er hellige. I land med liten vietnamesisk befolkning, slik som Norge, gjør det godt å mimre over slike bilder, gjennom dem kan man gjennkjenne slektskap, og dele både sorg og glede i eksilet.

 

 

 

SAVNER HJEMLANDET: Mange av båtflyktningene som kom til Norge savner hjemlandet. Men de vil ikke dra tilbake så lenge Vietnams regime blir sittende.

 

 

SAMHOLD BLANT VIETNAMESERE I NORGE. Få flyktninger har forespeilet seg en gjenforening med sine kjære etter å ha flyktet fra det kommunistisk regimet i Vietnam, å flykte fra Vietnam betydde det samme som å si adjø til familien. Det samme skjedde også for internflyktninger under borgerkrigen. Å treffe hverandre var vanskelig nok selv om man befant seg i samme land.

Gleden av å være i frihet kan noen gang synes mindre enn savnet etter familien og hjemlandet. Mange vietnamesere er vant til å leve i en stor kjernefamilie, og den er som sagt det viktigste i livet. Man savner morsmålet sitt, og blir fort knyttet til de som snakker det samme språket i det nye landet. Gjennom aktiviteter og samlinger har vietnamesere funnet igjen noe av hjemlandet. Det har for mange virket stabiliserende. Mange vietnamesiske organisasjoner ble dannet og blomstret opp. I første omgang lokale initiativer, som etterhvert ble koblet sammen. Etterhvert har vi til og med fått en paraplyorganisasjon for vietnamesiske flyktninger i Norge, godt hjulpet av Flyktningeorganisasjonen.

 

Å FØLE SEG FREMMED. På tross av samhold innad i vietnamesiske miljøer, har den enkeltes tilpasninger vært komplisert. Dette skyldes først og fremst språkbarrierer. Vietnamesere flest er ikke helt fremmede for andre språk, i Vietnam har mange lært seg fransk eller engelsk. Men, de færreste vietnamesere hadde kunnskaper om Norge før de kom til landet. I den grad man visste noe, begrenset det seg ofte til at det var kaldt og mye snø, og at nordmenn stammer fra vikinger.

 

Det norske språk blir brukt av noen få millioner mennesker, det snakkes kun innenfor det geografiske området Norge, og innehar så mange forskjellige dialekter! Det er begrenset hvor mye man klarer å lære seg på 240 timer med norsk språkundervisning.

Forøvrig blir det vanskeligere å lære et nytt språk jo eldre en er. For å mestre et språk, må man snakke og bruke språket. Det er ikke så lett når det mangler situasjoner der en naturlig kommer i snakk med nordmenn. Dessuten, skulle det oppstår uenighet, vil som oftest vietnameseren smile og resignere.

 

Det å være i eksil, i et fremmed land, kan gjøre deg feig, selvtilliten forsvinner. For best å ivareta det felles rykte, og ikke minst uttrykke takknmelighet ovenfor nordmenn, prøver vietnamesere flest å innrette seg som best de kan, selv om det skulle bety at de går på akkord med egen kultur. Nykommerne er innesluttede, og bedre er det ikke med nordmennene. Resultatet er en lite vellykket integreringsprosess.

 

ISOLASJON. Vietnamesiske båtflyktninger var lykkelige over å bli tatt opp i en norsk båt. Riktignok ønsket de seg kanskje til varmere land med flere slektninger og landsmenn, men lettelsen over å slippe unna pirater på havet var enorm. Etterhvert har flyktningene etablert seg i Norge.

Mange har fått seg jobb, men mange lever et ensformig liv der alle dager er like. Legger man til de store samfunnsmessige forskjellene, klimaet og dårlige kår, er det forståelig at de skyves ut i en ensom isolasjon. Man blir mismodig.

De som er så heldige og har familier virker som magneter på de enslige. Jo kaldere det er ute, dess sterkere er familievarmen. Helgene er korte men meningsfylte. Verdier blir skapt inni hjemmene, for utenfor er det mørkt og kaldt, og i høytidene har mange nordmenn dratt på hytta uansett.

 

ARBEID OG UTDANNELSE. Som så mange andre innvandrere og flyktninger, ble og blir vietnamesere ofte hyret til ufaglært arbeid. Noen ganger fordi man ikke får utdannelsen sin godkjent i Norge, men også ofte på grunn av språkbarrieren og at det er vanskelig å orientere seg i det norske jobbmarkedet.

Men, man må også stille spørsmål ved norske mediers fremstilling av de vietnamesiske flyktningene. Enkelte venstreradikale krefter mente at vietnamesere sviktet hjemlandet sitt, da det trengte dem som verst. De var kanskje ikke oppmerksomme på at flyktningene ellers ville blitt forfulgt og lividert av nord-vietnamesiske myndigheter.

 

FREMTIDEN. De siste årene har unge med vietnamesisk bakgrunn utviklet seg til de flittigste blandt studentene med innvandrerbakgrunn. En stor andel vietnamesere mellom 30 og 40 år har høyere utdanning. Likevel er det norske jobbmarkedet vanskelig å ta seg inn i. Akkurat nå hersker det stor splittelse innad i miljøet. Noen vietnamesere har levd hele sitt voksne liv i Norge og ønsker å fortsette med det. De føler kanskje at de ikke har noe de skulle ha sagt likevel i Vietnam.

Andre reiser til hjemlandet med verdifull utdannelse og masser av pågangsmot i bagasjen. Enkelte kommer skuffet hjem.

Vietnamesere i Norge faller mellom to stoler: Man er ikke fullt ut nordmann for nordmennene, og man blir ikke nødvendigvis motatt med åpne armer blant vietnameserne heller, stridens kjerne er hva som er genuint vietnamesisk, hva er best for landet, og hva er best for en selv og familien.

 

Fremtiden ligger hos de unge, men nå må vi søke å samle kreftene.

 

Denne artikkelen er skrevet av Magasinets

torsdag 28.04.2005

 

Kilde: dagbladet.no