VINOF- Cuộc Gặp Gỡ Với Ông Øivind Sand, Thị Trưởng Thị Xã Ræalingen
28.09.2011
Hôm nay trời gần cuối mùa Thu đã bắt
đầu se lạnh. Nhưng vẫn là một ngày tương đối đẹp vì có chút nắng le
lói qua một vài cụm mây trắng mỏng trải dài trên bầu trời xanh nhạt.
Lá cây phong bắt đầu chuyễn từ màu xanh sang màu vàng, dễ nhận ra
rãi rác xen kẻ với rừng thông trên ngọn đồi xa xa. Tôi dậy sớm hơn
thường lệ, vì hôm nay tôi có hẹn với anh Tú, Hội trưởng VINOF. Chúng
tôi sẽ có cuộc gặp gỡ với ông Øivind Sand, Thị Trưởng Thị Xã
Rælingen vào lúc 11.00 giờ ngày 28.09.11 tại văn phòng của ông ở tòa
thị sảnh Rælingen.
Anh hội trưởng VINOF trước tòa thị sảnh thị xã
Rælingen.
Tôi đến nhà anh Tú khoảng 10.00 giờ.
Vừa bấm chuông thì cũng là lúc cửa mỡ ra, anh mời tôi vào nhà. Sau
khi pha tách cà-phê nóng ấm. Anh đưa tôi xem bản thảo chương trình
sẽ làm việc với ông Thị Trưởng Rælingen hôm nay. Đồng thời anh
nói.”Mình phải soạn sẳn chương trình chứ khi đến nói chuyện mà không
có chuẩn bị thì dễ quên đầu quên đuôi”. Lần đầu làm việc với anh,
tôi ghi nhận đây là một cung cách làm việc cẩn trọng của anh.
Sau khi hai anh em bàn thảo với nhau,
xem có còn thiếu sót vấn đề gì nữa không ?. Tôi đề nghị đưa vấn đề
thuê mướn gymsal cho đội banh Vinof tập dợt. Nếu như được ông Thị
Trưởng giúp một tay thì hiệu quả rất cao. Nhưng rất tiếc, anh Tú cho
rằng: ” Địa điểm thuận tiện cho sự tập dượt của đội banh Vinof phải
nằm trong khu vực Oslo”. Vì thế chúng tôi gác lại vấn đề nầy lại và
sẽ nêu vấn đề này lên trong cuộc họp Ban điều hành của VINOF sắp
tới.
Chúng tôi lái xe đến Tòa Thị Sảnh Thị
Xã Rælingen, nơi làm việc của ngài thị trưởng Øivind Sand. Đến nơi
còn sớm chừng mười lăm phút. Tôi vội lấy máy ảnh và nói với anh Tú
làm cảnh, chụp vài tấm hình trước mặt tiền của Tòa Thị Sảnh . Sau đó
chúng tôi ngồi đợi ở phòng tiếp tân của Thị xã. Chưa ấm chổ ngồi thì
ông Øivind Sand đã đi ra tươi cười, bắt tay từng người và mời chúng
tôi vào văn phòng của ông ở bên cạnh.
Chụp lưu niệm với ngài thị trưởng thân thiện
Qua lời chào hỏi xã giao và sau vài hớp
càphê thơm phức, nóng hổi. Anh Hội trưởng Tú đã đưa ra bản ” Dự
Thảo” chương trình làm việc với ông Thị Trưởng qua những đề mục đã
được thông qua với nhau như sau :
1) Về Hội Trường: Ban nhạc Vinof tập
dượt mỗi tháng 02 lần. Họp BĐH mỗi tháng 01 lần. Sinh hoạt cho trẻ
em và người lớn tối thiểu 06 lần mỗi năm.
2) Về sinh hoạt sắp tới: Vinof. Có 05
sinh hoạt phải làm trong thời gian tới đó là:
a) Làm julekort dành cho trẻ em ,do bà
Kari Elsval. phụ trách.
b) Hướng dẫn cho trẻ em về phương cách
giữ gìn răng , do Cô Y Tá Kim
Phượng phụ trách.
c) Tổ chức Tết Nguyên Đán cổ truyền
Việt Nam.
d) Tổ chức cho các em đi tham quan thư
viện
e) Tổ chức cho các em đi thăm
sykehjemme nhân dịp Giáng sinh.
3) Vinof cần giúp đỡ về tài chánh.
4) Vinof muốn có một buổi hướng dẫn về
khái niệm về chính trị tại Nauy cho lớp thanh thiếu niên Việt Nam.
5) Vinof mong có một vòng du lịch bằng
tàu tại nội địa cho người lớn và trẻ em.
6) Và phần cuối cùng là trong khả năng
của Vinof có thể làm được gì cho quý vị.
Qua trao đổi và ghi nhận của ông Thị
Trưởng Øivind Sand.
1) Ông sẳn sàng giúp cho Hội Vinof mượn
Hội Trường miễn phí khi Hội thông báo cho Ông biết ngày giờ chính
xác lúc nào tổ chức.
2) Ông sẽ thông qua Rælingen kommune
tìm cách giúp đỡ cho Vinof một ít tài chính cho các sinh hoạt sắp
tới. Và nhất là cây đàn gita và đàn base cho ban nhạc.
3) Ông sẽ thông qua Ban xây dựng của
Rælingen Kommune, tìm cho Vinof một vài công việc thiện nguyện để
Vinof có thu nhập cho ngân quỷ.
4) Ông dự kiến vào ngày 16.11.11 sẽ tổ
chức một buổi hướng dẫn khái niệm về chính trị của Nauy cho thanh
thiếu niên VN. Do Ông hướng dẫn . Có phục vụ giải khát.
5) Ông sẽ liên lạc và giúp cho Vinof có
một buổi đi du ngoạn bằng xe buss và tàu thủy cho người lớn và trẻ
em vào mùa hè sang năm.
6) Và cuối cùng Ông nói rằng sẽ đưa
những tin tức cần thiết lên trang mạng Vinof để cho mọi người được
theo dõi và cập nhật. Và Ông hứa sẽ giúp đỡ Vinof nhiều hơn nữa
trong phạm vi khả năng mà Ông có thể.
Tôi đề nghị ông cho phép tôi được chụp
vài tấm ảnh lưu niệm. Ông cười dễ giải và ngồi xích lại gần anh Tú
cho dễ chụp hình hơn. Sau khi anh Tú nói lời cám ơn. Chúng tôi chia
tay nhau trong cảm giác lưu luyến và hẹn một buổi nói chuyện mới vào
một dịp khác.
Thật là một ngày tuyệt vời sau khi làm
việc với một vị Thị Trưởng bình dân, cởi mỡ, đầy nhiệt tình và thân
thiện. Bước ra xe, hai anh em chúng tôi còn mang nụ cười không dứt
trên môi. Nghĩ đến anh chị em trong BĐH và một VINOF trong ngày mai,
một lộ trình tràn đầy ánh sáng và hy vọng.
Chiều ngày thứ bảy 18.06.2011, từ 17.00 - 01.00
giờ , một chương trình ca nhạc sống và
dạ vũ mang tên LIVESHOW KONGSVINGER đã được
khai mạc thật long trọng và sôi động tại hội trường giáo xứ St. Klara
, Kongsvinger.
Đêm nhạc "Liveshow Kongsvinger" được phối hợp giữa 2 đoàn thể, Hội
Người Nauy Gốc Việt (VINOF) và Đoàn Thanh Thiếu Niên Dũng Lạc
tại
Kongsvinger. Chương trình được bắt đầu bằng nghi thức chào Quốc kỳ
VNCH thật trang nghiêm, trong tiếng nhạc dập dồn oai hùng của bài
quốc ca đã đưa tâm hồn người tham dự vào giây phút cùng lắng đọng để
hướng về 2 màu cờ Việt - Nauy được treo trên
trần cao thật trang trọng.
Tiếp đến là phần giới thiệu 2 vị đại diện cho 2 đoàn thể, anh Nguyễn
Tiến Thành, hội trưởng hội VINOF và anh Nguyễn văn Thìn, đại diện
Đoàn Thanh Thiếu Niên Dũng Lạc Kongsvinger
cùng nói lên mục tiêu và
ý nghĩa của đêm "Liveshow Kongsvinger". Trọng tâm của chương
trình hôm nay là nhằm
gây quỹ để góp sức với Ủy ban Xây Dựng Tượng Đài Thuyền Nhân Việt
nam tị nạn tại Na-uy.
Bích chương giới thiệu xây dựng tượng đài
thuyền nhân tỵ nạn
Nhìn quanh số
quan khách tham dự tuy không đông như sự mong đợi của Ban tổ chức, nhưng không vì thế
mà lấy làm buồn, vì thử đảo mắt nhìn trong hội trường sau 8-9 giờ tối, thì bàn
nào cũng chiếm đầy chổ, bên ngoài sân từng tốp bạn trẻ đứng hóng mát
trò truyện rôm rã, một vài đồng hương tay bắt mặt mừng vì lâu ngày
có cơ hội gặp lại người thân quen
nơi điểm hẹn. Phần lớn số khách tham dự
đến từ
các vùng phụ cận quanh tỉnh nhà Kongsviger và từ Moss, Oslo,
Lillestrøm, Kløfta... xa nhất phải kể đến 1 anh bạn trẻ lặn lội từ Stavanger
đến để góp mặt.
Chương trình LIVESHOW KONGSVINGER được sự giúp vui về âm
nhạc của chính ban nhạc VINOF. Ban nhạc hòa âm, với những tiết tấu, giai điệu
thật sôi động và nhịp nhàng. Đây chính là kết qủa của những tuần tập
dợt kiên trì để rồi khẳng định lối chơi trẻ trung và đầy
triển vọng của các anh em trẻ trong ban. Họ
tìm đến với nhau qua niềm vui chung "Phục vụ vì lợi ích cho cộng đồng ".
Sau phần trình diễn của Ban nhạc, tiếp đến là phần "anh chị hát
chúng tôi đàn", thế là các giọng ca "cây nhà lá vườn" cùng với các
giọng ca "tưởng rằng đã quên" của giới trung niên được thay nhau lên
sân khấu trình diễn thật hào hứng, tạo cho bầu không khí
"Đêm Liveshow Kongsvinger" thêm phần vui nhộn và sống động.
Ban tổ chức khá chu đáo
khi đề ra một lối ẩm thực cho quan khách. Bước tới quầy vé bạn
được đóng mộc vào tay với giá ủng hộ 100 kroner, trong vé này bao gồm
cả 1 dĩa thức ăn cơm nóng với món thịt heo xào rau cải thơm ngon,
cộng thêm mấy cái chả giò đặc sản của ban ẩm thực Kongsvinger. Chẳng
thế mà nhiều vị khách đã phá lệ làm luôn đến 2-3 dĩa trong
suốt chương trình (50 kroner cho mỗi dĩa bạn muốn ăn thêm..). Nước
giải khát , bia lạnh bạn tự mua riêng không nằm trong xuất ăn.
Chương trình
"Liveshow Kongsvinger" kéo dài đến 1 giờ khuya
với các tiết mục từ đơn ca, song ca, hợp ca, cho đến màn dạ vũ
disco. Hòa trong tiếng nhạc dập dìu cha cha cha, từng đôi
từng đôi mời nhau ra sàn nhảy lả lướt tạo nên một
không gian lãng mạn như trong lời của bài hát
Hôm nay ai đưa em về; " Thời gian ơi xin dừng
lại, thời gian ơi xin dừng lại, cho đôi
tình nhân yêu trong muộn
màng ....".
Âm
nhạc tạo cho đời sống thêm thi vị. Âm nhạc mở cửa cho tâm hồn. Vâng, sau những giây phút lo toan trong
cuộc sống hàng ngày, đây chính là cơ hội cho các bạn trẻ cùng qúy vị
trung niên tìm lại những giây phút thư giãn tinh thần
sau một tuần làm việc mệt nhọc. Sự
có mặt của đồng hương trong đêm "Liveshow Kongsvinger" cũng
nói lên niềm vui cho chính mỗi người trong việc góp tay chung sức
với
Ủy ban Xây Dựng
Tượng Đài Thuyền Nhân Việt nam tị nạn tại Na-uy đang trong
thời gian tiến hành. Đồng thời hơn lúc nào hết đây chính là dự
án "Để Đời" để nói lên niềm tri ân của Cộng Đồng
Người Việt Tị Nạn của chúng ta
đối với đất nước Nauy, lưu
lại cho hôm nay và mãi mãi cho các thế hệ con cháu chúng
ta mai
sau.
Tôi không giỏi chữ ”Tây” của xứ này, nên dịch lối
nói ở tựa đề bài viết là: ”Không vào hang cọp, không bắt được cọp”.
Viết xong, để chắc ăn, tôi lấy cuốn tự điển ra tra, xem nghĩa chính
xác của nó là gì. Tự điển ghi rõ: ”Kẻ nào có gan thì làm giàu”.
Chà!...không hiểu lối dịch của tôi có đồng nghĩa không. Bây giờ, tôi
kể ra sự việc đế người xem cho ý kiến.
Sau khi hẹn tới lui đôi lần, chúng tôi gặp nhau vào lúc 14:00 ngày
thứ năm vừa qua (Xin nói qua là: không phải vì ” Ô sin” của tôi là
phái nữ mà được sự ưu tiên đó, một người khác - người đã dành căn
phòng của anh ta để ” Ô sin” làm cuộc phỏng vấn đầu tiên) cũng đã
cho tôi ”leo cây” nhiều lần, hơn cả ” Ô sin” nữa.
-
Vừa rồi, không gặp được vì đã có hẹn một cuộc phỏng vấn khác. ” Ô
sin” nói.
-
Tôi tưởng lúc đó đang ở Luân Đôn, nên gửi mail nói vui là, coi chừng
bị bắt cóc.
-
Vừa rồi, tôi có liên lạc với một nhóm trẻ và đã đi ăn sáng với họ
đôi lần...
-
Việc phỏng vấn được nới rộng đến những khu vực khác, tạo sự dễ dàng
hơn là chỉ làm
việc tại khu vực Groruddalen.
Tóm lại, như người đọc đã theo dõi, ” Ô sin” của tôi không chỉ có
”jobb” này (liên quan đến luận án còn đang dang dỡ ...chưa biết có
được công nhận (god kjent) hay không) .... mà còn có công việc
”Støtte kontakt” ...rồi làm việc cuối tuần trên du thuyền có tên
Color Line. Do đó, thật sự mà nói, một cái hẹn được thực hiện là một
sự sắp xếp khá công phu.
-
Tôi chưa thật sự hiểu tại sao anh lại muốn tôi ghi lại những cảm xúc
trong những lần
Làm phỏng vấn ..?
-
Dĩ nhiên, ghi lại rồi lưu giữ thôi ...còn để đăng các bài viết về
những sự việc đó không
phải là lúc này.
-
Mục đích ...
-
Một cuốn sách, dù viết về đề tài nào, nếu do một người nước ngoài
thực hiện, vẫn có
nét hấp dẫn riêng. Có thể điều đó có tỉ lệ là trên 50%. Nhưng, nếu
do một người bản xứ cùng cộng tác, sự hấp dẫn, theo riêng ý tôi, sẽ
tăng nhiều hơn !....
Việc cho in một cuốn sách là việc dự định từ lâu của tôi. Dự định
khác là cho in một cuốn sách nói về những điều đã xảy ra tại đất
nước này (nói rõ hơn, nếu nội dung cuốn sách đó là một cuốn truyện
tình cảm, tình cảm ấy sẽ có liên quan kiểu nào đó với một người bản
xứ một cách cụ thể). Tôi đã nói điều này, dù thoáng qua cho cô ta
nghe, ít nhất đã một lần.
-
Nhưng, bằng cách nào.
-
Tôi vừa đọc được một thông báo đăng trên báo, nội dung là Hội nhà
văn và dịch thuật
Na Uy (Norsk faglitterær forfatter- og oversetterforening) sẽ tài
trợ tiền (gọi là stipend) cho những người muốn in một cuốn truyện
hay một cuốn sách chuyên ngành nào đó. Tạm thời chúng ta quên chuyện
này ...Bây giờ, nói về việc làm hôm nay.
Qua lần gửi mail của cô ta trước đây, cô ấy gợi ý
sẽ cùng đi dán "quảng cáo" lớp dạy tiếng Việt dành cho người Na Uy.
Sau đó, khi làm việc này tại trường Cao đẳng, cô ấy sẽ tự làm một
mình. Có ai tích cực được như thế này nhỉ ?!...Trong Ban điều hành,
anh cựu Hội trưởng và tôi đã đôi lần làm việc này ngoài phố, khi Hội
cần đưa thông báo đến mọi người (bên cạnh việc đưa tin lên trang
mạng).... nhưng, với một người mới "làm quen" với Hội như cô Ô sin
này, đây không phải là chuyện thường tình.
Lúc cô ấy đến phòng vệ sinh, tình cờ tờ giấy trong
cuốn sổ ghi chép mà cô ta ghi lại những điều chúng tôi đã bàn lúc
nãy, rớt ra ngoài cuốn sổ. Cuốn sổ được đặt hơi chênh, trên túi xách
căng phồng, nên đã rơi xuống đất, vô tình giúp tôi giảm được nỗi
thắc mắc từ lúc cô ta gửi mail đến tôi, để có cuộc gặp mặt hôm nay.
"Twenty years from now you will be more disappointed by the things
that you didn't do than by the ones you did do. So throw off the
bowlines. Sail away from the safe harbor. Catch the trade winds in
your sails. Explore. Dream. Discover(Marktwain) (**)
Cám ơn nhà văn Marktwain ...và những hoạt động của
các Hội đoàn mà cô ta đã từng là thành viên, trong thời gian cô ấy
đi học. Nếu chỉ thuần túy đi học, chắc cô ta không cảm nhận nhanh
chóng về các việc làm vô vụ lợi này. Chúng tôi làm xong công việc ấy
một cách hài lòng ...vì việc này phù hợp với chủ trương ban đầu, khi
chúng tôi bàn về lớp học này là (cũng như lớp dạy kèm các môn học
sinh Việt Nam yếu, kém trong trường học), nếu mọi việc như tính
toán, chỉ cần bù đắp xong những chi phí và không phải bỏ tiền túi ra
là tốt.
Tạo ra một chương trình làm việc chung (có thể gọi
là dự án không) mà cả hai đều hăng hái bỏ công sức -ít ra vào thời
gian đầu- không nề hà điều chi ...và chưa biết sẽ gặp trở ngại gì
trong khi thực hiện, có khác chi đi vào hang cọp. Bắt được cọp hay
không thì chưa biết được, nhưng có tính lời lỗ gì ở đây đâu mà nói
là: ”Kẻ nào có gan thì làm giàu”.!!..
Đặng Quang
Chính
Oslo 11.04.2011
00:19
Ghi chú:
* Nothing venture, nothing gained.
** Tạm dịch: Hai mươi năm tới, anh sẽ thất vọng hơn bởi những việc
anh đã không làm hơn là những gì anh đã làm.
Hãy dong buồm. Hãy ra đi từ một cảng an toàn. Nắm bắt lấy những ngọn
gió thuận lợi trong chuyến hải hành. Mạo hiểm. Mơ ước và khám phá.
Ô sin
...aupairs ...gratis (4)
Vấn nạn lớn nhất của con người
là: có cuộc sống nào sau khi người ta đã ”đi khỏi” cuộc đời ô trọc
này. Và trong cuộc sống đó, đôi khi lại có những vấn đề nảy sinh với
những câu hỏi khác nhau. Lần này, tôi xin được nêu ra hai vấn đề có
liên quan đến vụ cô ” Ô sin” của tôi.
Trong bài viết vừa rồi, có câu
hỏi được đặt ra rằng: liệu tôi đã làm việc ”Giao trứng cho ác”?. Tôi
chưa dịch bài đó để gửi cho cô sinh viên này ...bởi như đã nói, tôi
thắc mắc rằng điều ấy có thể gây ra ấn tượng nào đó không tốt nơi
người đọc. Nay, được email của cô ta,
nội dung nói về 2 điểm như sau: (1) phỏng vấn một người làm tại một
cơ quan công quyền của Na Uy (2) việc mời cô ta dự lễ Tết Việt Nam.
"Câu hỏi được đặt ra là: tại
sao phỏng vấn người làm việc tại một cơ quan công quyền?...Đúng ra, phương hướng của
cuộc nghiên cứu là làm phỏng vấn những người Việt ở trong khu vực
Grorudalen!....Do đó, dù ai gợi ý việc làm này (cô sinh viên
hay anh chàng nhân viên đó)...điều đó có cái gì không ổn. Người nghiên cứu, vì say
mê một khía cạnh nào đó, có lúc đi lạc hướng; điều đó không có gì
phải ngạc nhiên. Nhưng, anh chàng kia, nếu có chủ ý gì khi gợi ý
việc đó (để được phỏng vấn) thì chủ ý đó nhằm vào mục đích gì.
Trong bài trước, tôi có viết đại ý rằng, người Giám đốc trường sinh
ngữ (chúng tôi đến thăm) còn chưa chắc phân biệt được anh chàng này
thuộc loại "mèo trắng" hay "mèo đen" ...nói chi là cô sinh viên
người bản xứ. Anh ấy, chắc chắn biết anh ta thuộc loại nào rồi.
Nhưng, từ trước đến giờ, anh có bao giờ tự mình giới thiệu cho kẻ
khác biết anh ấy là ai đâu...vì hình như có điều gì không tiện (?)
khi anh ta phải kể ra, anh là người của tổ chức nào. Do đó, nếu cô
này tiếp nhận được những thông tin của những người mà họ không dám
nêu đích danh tổ chức mình phục vụ ...liệu những thông tin ấy có
đáng tin cậy không?....
Thôi thì!...chuyện nghiên cứu
là chuyện của người khác. Dở, hay, mặc xác họ. Nhưng chuyện đúng,
sai, phải, trái thì khác. Như văn hào Liên xô Alexandre Soljenitsim
nói: "Khi thấy thằng CS nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo.
Nếu không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở
lại nghe nó nói láo. Nếu không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe,
ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác". Đằng này,
chẳng phải ta phải ngồi nghe, mà ta biết có người sẽ nghe người khác
nói láo, liệu ta có thể làm ngơ!...
Cái tính khí: "Giữa đường thấy
chuyện bất bình chẳng tha" tiềm ẩn trong nhiều người, những người
Việt Nam lưu vong. Vì thế, cuộc chiến cho tự do, nhân quyền, dân chủ
đã kéo dài hơn 30 năm qua. Họ chẳng phải là công thần của chính
quyền miền Nam, trước năm 1975. Họ chẳng có chút ân huệ, bổng lộc gì
của chế độ đó. Bây giờ, chẳng ai thuê mướn họ. Việc họ làm, họ thấy
đó là chuyện phải làm...vì bất công tràn đầy tại nơi mà họ đã trưởng
thành, sinh sống trước kia. Có thể nào chấp nhận được chuyện, người
dân nghèo đói, vì sự sống mà rời nước ra đi, bị gắn tội phản quốc,
bị bắn chết còn hơn con thú bị người khác bắn vì săn thịt; -kẻ bị
bắn trong trường hợp này nhằm chỉ để thoả mãn thú tính của kẻ đã nắm
được quyền hành- trong khi đó, bọn cầm quyền, có đủ quyền lợi trong
tay, gia sản đời con cháu ngồi chơi, ăn không hết ...đem lãnh thổ,
lãnh hải ra bán cho nước khác, lại có quyền săn đuổi người khác.
Trước đây, khi dân chúng vượt biên, họ cho lính săn lùng, tìm bắt.
Nay, kẻ nào đem tiền về, họ gọi là "khúc ruột ngàn dặm". Nhưng, dù
kẻ đó có đem tiền về, nếu bị ngờ là tìm cách chống đối sự cai trị
sai trái của chúng, chúng không cho phép kẻ đó về, dù là thăm lại
quê hương. Làm như là đất nước VN là của riêng họ!!....
Như thế, nhân cơ hội cô ấy
cùng đi dự buổi lễ mừng Tết, tôi sẽ tìm cách nói ra sự thật này?.
Hôm ở trường sinh ngữ, tôi không nhớ có chính thức mời cô sinh viên
này tham dự lễ Tết không. Nói thế, vì có thể, do anh Giám đốc gợi ý
việc đi dự lễ (có lần, trước kia, anh ta đã cùng với tôi đến dự buổi
lễ mừng Tết ở Chùa)...rồi gợi ý cô này cùng đi để biết thêm vài nét
về văn hóa người Việt, nên tiện thể tôi mời luôn cô ấy. Dù sao, cái
việc tôi đã làm ...bây giờ, sự gắn bó với cô ấy vẫn còn.
Vấn đề gắn bó với cô ấy chỉ là
một thể hiện khác của sự gắn bó với việc làm phục vụ tập thể của
tôi; ở nhiều mức độ cao, thấp khác nhau. Câu nói dân gian: "Con tằm
đến chết vẫn còn giăng tơ", trong trường hợp này, có vẻ đúng ít
nhiều, cho đến thời gian bây giờ.
Không nói đến chuyện lâu rồi,
trước năm 1975 (mà đúng ra, thời gian đó, tôi chưa bước hẳn vào tuổi
trung niên). Thời gian 14 năm sau khi chính quyền miền Nam thất
trận, bị lật đổ, tôi có dịp biết rõ hơn về chế độ CS; hơn là những
gì tôi biết trước kia, khi còn học dưới mái trường của hai nền Đệ
nhị Cộng hoà. Lúc đó, tôi đã có ý nghĩ là, nếu kiếm được cách nào
liên lạc với các tổ chức yêu nước tại hải ngoại, liệu chăng cách đó
mới đem lại sự thay đổi đối với chế độ. Từ năm 1985 trở đi, khi
nhiều người cho rằng, đời sống có phần dễ thở hơn trước, là lúc tôi
cảm nhận phải ra đi ...bởi một sự liên hệ xa gần trước đó, mà người
chủ chốt là một nhà sư, đã bị án tử hình (sau, đổi thành chung
thân?). Sau bao cố gắng, đảo Bi dong là miền đất tạm dung của tôi
vào năm 1989. Thế là từ đó, từ ngay lúc còn ở trại tị nạn, "con tằm"
đã làm việc giăng tơ từ lúc ấy.
Kể cũng lạ!...Trong khi mọi
người sống hồi hộp, căng thẳng với sự bị thanh lọc, bị xếp vào thành
phần tị nạn về kinh tế, có thể bị gửi trả lại VN...thì tôi, như đinh
ninh rằng, mình sẽ hưởng được qui chế tị nạn chính trị. Không phải
vì tôi là cựu quân nhân và đã bị tù cải tạo (có ông Đại tá đã bị
đánh rớt trong đợt đầu!...). Không thể chỉ vì cái nhóm mà tôi đã
thành lập (Nhóm "Câu lạc bộ Khoẻ", một nhóm do tôi khởi xướng và có
sự góp công sức của nhiều anh em khác. Đó là nhóm duy nhất trên đảo
không do bộ phận làm việc của Cao uỷ tị nạn thành lập, cũng chẳng là
bộ phận làm việc của chính quyền cơ sở tại đảo Bi Dong (Malaysia).
Tên gọi nghe giản dị, nhưng nhóm này đã có nhiều hoạt động sôi nổi
tại trại. Nhóm đã cùng với những thành phần khác của trại tiến hành
việc dọn dẹp, chỉnh trang lại các ngôi mộ hoang trên đảo. trước khi
đảo bị đóng cửa. Nhóm đã có một thành viên mổ bụng để phản đối chính
sách thanh lọc của của Chương trình hành động chung -Chương trình do
Cao ủy tị nạn LHQ đề ra, do nhiều quốc gia Tây phương khác thoả
thuận hợp tác thực hiện, nhằm chấm dứt việc vượt biên tại VN-)... mà
vì tôi tin vào cái tính chính trị đã đi liền với con người mình; nói
đơn giản, là cái tính "muốn sửa đổi cái việc không ngay thẳng". Nói
chi tiết hơn là, đi vì kinh tế hay chính trị, qua được thanh lọc hay
không, là việc làm của người khác (Cao uỷ tị nạn) ...còn tính chính
trị có hay không, mình tự biết nơi mình. Có về lại VN, tôi sẽ tùy cơ
tiếp tục cái tính đó. Có đi nước ngoài, tính ấy vẫn còn tiếp tục. Vì
thế, vào lúc này -lúc tôi đang viết những dòng chữ này- nghĩ lại
việc tôi làm hồi đó, tôi thấy quả là hơi "Lãng mãn cách mạng"! (cái
lối suy nghĩ của Tiểu tư sản trí thức, theo lối nói của người CS).
Hồi đó, tôi muốn nói ở đây là, ngay khi vừa bước chân đến đất nước
này, tôi vẫn còn gửi một lá thư cho Cao Ủy ở trại, gợi ý một chương
trình, nhờ họ giúp tôi cùng các anh em trong Câu lạc bộ ở Bidong
-những anh em bị sẽ bị trả về VN- được cùng nhau làm một việc gì đó,
ngay tại VN!. (Lá thư đó và thư trả lời của Cao Uỷ hiện giờ vẫn còn
được tôi cất giữ đâu đó).
Cách nay khoảng 5(6) năm, tôi
gặp lại một người cùng trên ghe vượt biên (MC 411), cùng trong Câu
lạc bộ, cùng ở trại Bataan (Phi), cùng qua Na Uy (trước sau nhau
không lâu). Anh chàng, khi đến đất nước này vẫn còn độc thân; bây
giờ, hai con, nhà cửa đàng hoàng. Anh có vẻ hơi ngạc nhiên, khi thấy
rằng, công việc cộng đồng vẫn còn sức thu hút tôi như thuở nào. Hiện
nay, nếu gặp lại anh ta...và nếu anh không còn ngạc nhiên, tự đặt
lại bài toán như có lúc anh đã hỏi, ý đại khái: "Sao ông thầy không
lo gì vụ nhà cửa để ổn định đời sống ...cứ làm việc cho tập thể mãi
hay sao?...", (anh ấy học Anh văn với tôi ở đảo ...và kêu thế theo
phép lịch sự của riêng anh ấy), tôi sẽ đọc cho anh hai câu thơ (?)
mà tôi mới thấy đâu đó.
Hãy cứ cho
thêm, hãy còn cho mãi
Mai ta đi nào
kịp vẫy tay chào.
(Phạm Nhuận)
Viết ra vài điều riêng tư,
mong người đọc thông cảm, không nên tưởng rằng, đó là cách tôi muốn
"đánh bóng" mình. Tôi lấy một chút kinh nghiệm bản thân, để chứng
minh rằng, như đã nói trên, "...Vì thế, cuộc chiến cho tự do, nhân
quyền, dân chủ đã kéo dài hơn 30 năm qua. Họ chẳng phải là công thần
của chính quyền miền Nam, trước năm 1975. Họ chẳng có chút ân huệ,
bổng lộc gì của chế độ đó. Bây giờ, chẳng ai thuê mướn họ. Việc họ
làm, họ thấy đó là chuyện phải làm...vì bất công tràn đầy tại nơi mà
họ đã trưởng thành, sinh sống trước kia". Qua đó, tôi muốn nói, có
nhiều người ra sức đóng góp về việc chung còn nhiều hơn tôi; vì thế,
cuộc đấu tranh cho chính nghĩa đến bây giờ vẫn còn tồn tại.
Bởi vậy, nay mai, nếu các bạn
thấy tôi không còn làm việc với cô Ôsin này...chắc hẳn, tôi còn làm
việc với nhiều cô Ôsin khác của người bản xứ; nghĩa là, vẫn tiếp tục
phục vụ tập thể, dù chẳng ai bó buộc. Tóm lại:
”Khi chưa chết tôi sẽ cùng bè bạn
Dẫu sức tàn tôi cũng quyết
đấu tranh
Trời Âu Mỹ đâu cần gươm
với súng
Chỉ cần lòng chung thủy với non sông(*)
Đặng quang Chính
Oslo 30.01.2011
11:48
Ô
sin...Aupair...gratis (3)
Trong bài viết trước, tôi có nói về vai trò trung gian của mình, một
vai trò không đem lợi ích cho riêng bản thân. Cuối bài đó, tôi nghĩ
rằng vai trò của mình đến đây là chấm dứt. Nhưng không...
Hôm gặp nhau tại nhà ăn Fredrerikk của Đại học Oslo, Catherine nói ý
là, lúc này, ngành học về Châu Á, có nhiều sinh viên ghi danh. Tôi
nói thêm, số sinh viên du học Trung Quốc khoảng 10 năm gần đây đã
tăng lên con số đáng kể. Số sinh viên Mỹ sang Trung Quốc học cũng
thế. Nghe vậy, Catherine hỏi là tại Đại học này đã có môn về Nhật,
Đại Hàn...mà không thấy có môn học về Việt Nam. Tôi trả lời, hơn 15
năm trước, tại Đại học Bergen, có môn học này...nhưng nay đã chấm
dứt. Catherine nói, cô cũng muốn học nhưng không biết học ở đâu. Tôi
đành trở lại chuyện cũ, khoảng năm 1995 (1966) khi chúng tôi mở một
khóa tiếng Việt cho người Na Uy.
Chuyện cũ được khơi lại khoảng một tuần sau đó, từ ngày hai người
gặp tại nhà ăn, như nói trên.
- Ở đây chỉ có thể có các khóa học dành cho các nhóm từ 6 người trở
xuống. Ông Giám đốc trung tâm ngoại ngữ giải thích cho người khách
mới đến, đang ngồi bên tôi.
- Trong lúc chờ ông đến, tôi đã nói với bạn đồng nghiệp của
tôi...(vừa nói tôi vừa đưa mắt nhìn người bên cạnh)
- Với cách tổ chức khóa học như vầy, việc học mới có hiệu quả!...Ông
ấy nóng lòng giải thích tiếp.
Lần tổ chức dạy tiếng Việt cho người Na Uy, tôi không thể mướn
trường của ông Giám đốc này là vì lý do đó. Hội đoàn tổ chức dạy
tiếng Việt mà lấy học phí quá cao thì xem sao được. Hội đâu phải là
một trường tư thục. Đồng ý là, lối dạy đó (hạn chế học viên) cho
hiệu quả cao, vì dạy học là nghề "của chàng"; tôi biết quá rõ điều
này mà. Còn tôi giới thiệu vui "Ô sin" mà tôi quen là đồng
nghiệp...vì trước đó không lâu, trong khi chờ đợi người Giám đốc
đến, Catherine đồng ý sẽ gia nhập nhóm dạy học của chúng tôi (Dĩ
nhiên, nếu được phân công, trước nhất, cô ta sẽ dạy lớp cơ bản, cho
người Việt mới học tiếng Na Uy....rồi chuyện gì nữa, sẽ tính sau).
Tuy là Giám đốc Trung tâm sinh ngữ, ông ấy được đào tạo như là một
người chuyên ngành về kinh tế và thương mãi. Nghề "Marketing" chắc
ông ta cũng thông ...nên đưa thí dụ rất vui vui, nghe dễ hiểu như
sau:
- Đi xe buýt, giá rẻ...nhưng không thoải mái. Đi Taxi, được phục vụ
tốt hơn, nhưng đắt tiền. Còn trường đây như là Mini Taxi, không mắc
như Taxi, nhưng hiệu quả phục vụ cũng ở mức đáng kể. À!...còn trường
ông bạn của anh ở VN ra sao. Ông ấy hỏi và cười cười....
Vì biết có lần ông ấy đã dự định mở Trung tâm sinh ngữ ở Thượng Hải,
tôi biết ông ấy hỏi dò câu này cho có chuyện, nên tôi lại hỏi ngay
ông ấy về dự tính cũ, xem công chuyện đã đến đâu rồi.
- Dân Châu Á nhanh lẹ, láu cá (smart!...) lắm!. Ở đây, mọi việc cứ
từ từ, chậm rãi. Việt Nam bây giờ cũng giống như Trung Quốc. Đời
sống người dân đã khá hơn trước. Nếu có thay đổi, không biết mọi
việc có khá hơn không?.....
- Mọi việc đâu có thể ở thể tĩnh được. Các yếu tố bên trong hay
ngoài sẽ làm nó tự thay đổi đi.
Tôi nói thêm ít câu nữa. Nhưng, có một câu lẽ ra là câu kết luận,
tôi lại không nói ra. Đó là, doanh nhân là người cần các yếu tố có
lợi cho việc họ đầu tư mà thôi. Có người nói, bọn tư bản là loại
người không có tổ quốc. Ai cũng biết, các xí nghiệp, công ty lớn của
Mỹ, kéo đến làm ăn tại Trung Quốc, không phải vì quyền lợi của nước
Mỹ. Chỉ vì túi tiền của riêng họ. Nếu tôi nói ra, chắc anh chủ
trường này cũng đồng ý...mà rồi cũng chẳng đến đâu. Mục đích tôi
giới thiệu Trung tâm sinh ngữ đến người sinh viên này, để cô ta biết
được, đây là nơi tôi tiếp xúc đầu tiên, định mượn địa điểm tổ chức
khóa học tiếng Việt. Nơi trước kia tổ chức khóa học đó, bây giờ là
tòa nhà của UDI (Sở Di trú), làm sao mà đến được. Hơn nữa, nay mai,
nếu dự định mở tiếp khóa học đó (trong đó có cô Ôsin này là học
viên) và chỉ có ngần ấy số người tham dự (6 học viên), biết đâu,
chúng tôi cũng giúp đựơc một ích lợi gì đó cho học viên, bằng cách
cho họ đi Mini Taxi, nếu họ muốn.
Tôi không muốn nói hết sự thật, có thể vì vậy ông ta muốn nói hết sự
hiểu biết của ông ấy về VN. Ông kể là có lần được Toà Đại sứ VN mời
tiệc. Nhà họ ở, lớn như dinh thự ...nhưng dù đi Mercedes, họ không
có tiền đổ xăng. Lúc đó còn thời bao cấp. À!... ông ấy nhớ hồi ông
ta còn ở bên Pháp. Tôi lại định nói thẳng là, dù ông có quen biết họ
đến thế nào, ông cũng không phân biệt được, hiện nay, người Việt mà
ông quen, ai là người thân Cộng hay không. Mà quên! ...với những
doanh nhân, mèo trắng hay mèo đen cũng không sao, miễn là nó bắt
được chuột!.
Trên đường về, chúng tôi không đi xe buýt, xe Taxi... không đi Mini
Taxi và cũng chẳng đi xe điện ngầm (a). Nhưng, nhờ đi bộ, chúng tôi
có thời gian trao đổi thêm một số câu chuyện. Tôi nói về cuốn sách
"Nest stopp Nordpolen"(Sách do cơ quan NOVA tuyển, nhà xuất bản
Orkana, -(b). Tôi muốn nói về lý do rời nước, ra đi tìm tự do của
người Việt ở hải ngoại. Nhưng, hơi khó nói cho tôi, ở chỗ, nếu đó là
những điểm đối chọi với câu chuyện của anh chủ trường, hóa ra, dù
anh ta có đôi điều nói sai, nhưng vì việc có thể mướn Trung tâm của
anh ấy, mình vẫn vác xác đến ngôi trường này?.... Nghĩ mà ấm ức làm
sao?....
Chợt nhớ đến câu chuyện của một người quen, được thuật lại qua điện
thoại, trong ngày hôm trước, tôi cảm thấy cái ấm ức đó vừa buồn
cười...vừa muốn nó biến mất cho rồi. Anh ấy kể, một hôm hai vợ chồng
anh ta tham dự buổi phỏng vấn của một người Na Uy. Người phỏng vấn
làm việc bên ngành sức khỏe, muốn tìm hiểu xem, người nước ngoài,
khi về già, ở trong các Trại dưỡng lão, sẽ có những nhu cầu gì. Một
vài người nói, ngoài thức ăn theo kiểu Á Đông, họ còn muốn có sách
báo tiếng Việt cho cha mẹ, ông bà của họ xem. Hai vợ chồng trình
bày, ý nói là, đừng đòi hỏi quá đáng. Những người kia bèn hỏi ngược
lại rằng, có thể vì hai vợ chồng người này không đi làm, không đóng
thuế....nên cảm thấy ngại khi đưa ra những nhu cầu cần thiết. Họ nói
thêm, hồi cha mẹ, ông bà của họ còn đi làm được, họ đã đóng thuế,
bây giờ có quyền đòi hỏi đúng mức chứ!.
Nghe anh chồng kể chuyện trên, tôi thấy có gì hơi lấn cấn. Chẳng
qua, cũng như việc đi thông dịch mà thôi. Nói theo ý của người
"mướn" thông dịch (vai chánh trong sự việc) thì đôi khi người làm
công việc thông dịch thấy kỳ kỳ làm sao...mà không nói như ý họ thì
họ tỏ ý buồn phiền!. Tuy nhiên, sự việc tiếp theo khiến tôi thấy
cũng kỳ kỳ không kém.
Nghe hai vợ chồng đã tham dự một cuộc phỏng vấn, tôi mau mắn giới
thiệu về luận án Master của cô sinh viên Na Uy. Người chồng hỏi, rồi
đến người vợ. Bởi trình bày bằng tiếng Việt, tôi bảo đảm nội dung đã
được chuyển đến hai người không có gì khác nhau (Nếu có, chắc chỉ
khác một đôi chữ). Nhưng, khi tôi hỏi người vợ của anh ta có thể cho
một cuộc hẹn không, tôi được hỏi lại như sau:
- Anh có số điện thoại của cô sinh viên đó chứ?
- Để tôi xem lại trên trang mạng..rồi sẽ cho hay (www.vinof.no)
Xem xong, tôi gọi lại. Anh chồng bắt máy
- Bà xã tôi nói, nói với cô ấy, nếu muốn làm cuộc phỏng vấn, cô ấy
điện thoại đến chúng tôi.
- Sau khi tôi đã trình bày mọi việc....chị ấy nói tôi cho số điện
thoại của cô sinh viên để chị trực tiếp trao đổi với người đó mà...
Sự việc xảy ra không quá 3 phút (từ lúc ngưng, lên mạng- máy vi tính
đang hoạt động- đến lúc gọi lại) thế mà cứ y như là chuyện đã xảy ra
một hai ngày trước. Tôi còn nhớ đến cảm tưởng là lạ nơi tôi, khi
người vợ đòi hỏi muốn có số điện thoại để nói trực tiếp (gây cho tôi
ý nghĩ là, tôi có thể hiểu sai ý của cô sinh viên)... rồi sau đó
không lâu, bà vợ lại muốn cô sinh viên trực tiếp gọi đến. Trời
ơi!...gì mà nhiêu khê thế. Chả bù với hai lần phỏng vấn vừa
qua....Mọi người thoải mái, vui vẻ. Cả bên phỏng vấn lẫn bên được
phỏng vấn. Làm "nghề" trung gian, không có lợi (cho cá nhân, trong
trường hợp này)... mà đôi khi còn gặp điều có vẻ rắc rối đấy!.
Cô sinh viên, có lẽ thấy tôi, trong lúc nói chuyện mà nét mặt, lúc
đăm chiêu, lúc buồn cười sao đó...nên nói cho tôi hay về dự định sẽ
gặp một người, cư trú tại Drammen. Người đó sẽ giới thiệu cho cô gặp
những người khác để thực hiện các cuộc phỏng vấn sau này.
- Làm sao người ấy biết Catherine
- Anh ấy nói là đọc tin trên trang mạng của Vinof
- Anh này làm việc ở đâu
- Ở UDI
- Tên gì ?...
- Tên ….
- Thôi rồi …Với người này, anh chủ trường quen với tôi còn chào
thua, không biết phân biệt đó là mèo trắng hay mèo đen ..huống hồ là
cô sinh viên này.
Chia tay cô sinh viên, sự ấm ức nhường chổ cho sự băn khoăn. Mình,
vì tập thể, muốn người bản xứ hiểu rõ hơn về quá trình hội nhập của
người Việt tại xứ sở này. Tuy thế, khi gặp điều khó giải thích, tôi
biết nói sao cho người ta hiểu hết ý mình. Đôi lúc, mình nói sự
thật, mà ấn tượng để lại nơi người nghe lại là điều không tốt; vì
với tình thế rối rắm như của đất nước ta hiện nay, có khi cả những
người đồng hương của chúng ta còn chưa thông cảm hết với nhau, nói
chi là với người ngoại quốc. Chẳng hạn, hiện tượng ca sĩ Đàm vĩnh
Hưng, bao nhiêu phần trăm chống, bao nhiều ủng hộ. Do đó, tuy hết
lòng giúp người khác, nhưng, biết đâu tôi đã làm việc “Giao trứng
cho ác”!.
Đặng quang Chính
Oslo 22.01.2011
00:56
Ô sin …aupair…gratis (2)
Người đàn bà chủ nhà ngồi phía
trái tôi, hơi chếch, để trực diện với cô Na Uy ”Ôsin”, ngồi hơi xéo
ở phía phải tôi. Thế là sau vài lần điện thoại qua lại với hai bên,
tôi đã ”móc nối” được hai đối tác. Nhưng việc trung gian này quả
thật chẳng đem lợi riêng cho cá nhân tôi một chút nào!.
Trước nhất là phải làm ”thông
ngôn” bất đắc dĩ sau khi hai người đã chào xã giao qua loa với nhau.
May là, thời gian đó kéo dài không lâu, vì thật ra, chủ nhà nói
tiếng Na Uy cũng tương đối tốt. Chị ta nghe cũng khá. Do đó, tôi có
thời gian nhìn quanh phòng khách này.
Bàn thờ ông bà, có nét của
người theo đạo Thiên chúa, cũng đơn giản. Đơn giản như cách nói của
cô ta qua điện thoại và qua việc đích thân cô ta, ra đến chổ đậu xe,
đón chúng tôi. Sự đơn giản gần như kéo theo cái chân tình làm tôi có
cảm tưởng không phải đây là lần đầu đến nhà của cô ta.
- Em cũng muốn học thêm tiếng
Na Uy. Chủ nhà nói xong tiếng Việt với tôi, đồng
thời nói ngay ý đó cho cô Ô
sin.
- Hội đã định mở lớp
dạy tiếng Na Uy và tiếng Việt từ lâu. Chỉ kẹt là không có và
cũng chưa mướn được một địa
điểm (tôi dùng luôn tiếng ”lokal”).
- Lokal ở dưới lầu này nè!...
Chị chủ nhà là sở hữu chủ một
ngôi nhà ”rekkehus” (nhà chung vách cất theo dãy). Gia đình cô ấy
dọn đến ở nơi này đã được năm năm. Không hiểu tại sao khi tôi dò tìm
địa điểm qua số điện thoại (trên mạng 1881.no) chẳng thấy nhà này
trên bản đồ trang mạng. May là đã lấy tên người chồng, khi nói
chuyện qua điện thoại, nên mới kiếm ra… mà cũng chẳng thấy ghi rõ
địa điểm căn nhà trên trang mạng này. Câu trả lời nhanh chóng và lời
mời nồng nhiệt của chủ nhà có tính cách cũng giống như căn nhà này
vậy. Sạch sẽ, ngăn nắp …nhưng thanh nhã hơn, nhờ giàn cây trồng
trong nhà, trong đó có những cành phong lan cao với những bông to và
đẹp.
Sự chân tình đó lan qua cô
Ôsin người Na Uy. Lúc chị chủ nhà và tôi trao đổi là lúc cô ta ghi
chép lại những gì đã đôi bên đã nói chuyện. Để tạo sự cân bằng hay
do sự tự nhiên có được từ cách tiếp đãi của chủ nhà, Ôsin thỉnh
thoảng gát ngược một chân kia lên trên cái ghế sofa đang ngồi.
- Thật cũng hên!...Tôi thành
thật nói với chủ nhà. Rồi nói tiếp: ”giới thiệu người bản
xứ nét văn hoá của người mình
thì điều đó thật mênh mông…nhưng, để họ có dịp gần gũi, thấy được
cách sinh hoạt trong lối giao tiếp giữa người mình với nhau, giữa
người mình với người Na Uy..thì tôi đã gõ đúng cửa”.
- Em có làm được gì đâu!...
Lần trước, cô sinh viên Na Uy,
người làm dự án lấy bằng Tiến sĩ, một dự án tìm hiểu về văn hóa nước
ngoài, đã phóng vấn hai người Việt Nam. Sau đó, cô ta viết một bài
ngắn, nói về việc phỏng vấn đó. Nói chung, cảm tưởng của cô ta về
việc đó khá tốt. Lần này, cô ta đến đây để có sự thoả thuận về một
hợp đồng. Cô ấy muốn ở trong căn nhà này một thời gian, để tìm hiểu
kỹ hơn về cách sinh hoạt, trong đó có cách chủ nhà làm các món ăn
thuần túy Việt; cũng như xét xem, gia đình này đã trở nên quen với
các thức ăn của người bản xứ đến mức độ nào.
Với Thủy, chủ nhà, cô khiêm
nhường nói vậy. Với cô sinh viên Na Uy, chưa biết cảm tưởng lần này
của cô ta ra sao. Nhưng, riêng tôi, tôi thấy mình đã đi được một
bước khá dài….và cảm thấy hài lòng về việc làm lần này. Thật thế, so
với việc gửi bài viết đến cơ quan có tên NOVA (norsk institutt for
forskning om oppvekst, velferd og aldring) vào năm 2004, tôi thấy có
những điểm cụ thể hơn. Dự án của NOVA đã bắt đầu việc làm của mình
bằng cách in đến 500 tờ quảng cáo cho mười một ngôn ngữ khác nhau.
Rồi phổ biến quảng cáo bằng nhiều cách, trong đó có các Thư viện tại
Oslo, Bergen, Trondheim, Tromsø, Stavanger og Kristiansand. Gửi thư
mời đến hội đoàn khác nhau. Rồi thông báo dự án này đến nhiều tờ
báo, đài phát thanh...v.v.. những nơi có thể tiếp xúc trực tiếp với
nhiều nhóm dân khác nhau...và người chủ dự án làm việc cả
với những nhân vật trung gian
nữa.
NOVA muốn gom tất cả các bài
viết được gửi về Viện này, dịch lại các bài viết đó thành tiếng Na
Uy, rồi in thành sách. Hy vọng của NOVA là với
sách đó, người ta có thể có được sự hiểu biết về những gì
chứa đựng trong việc dân nhập cư đã rời đất nước của họ, tự nguyện
hay bị bó buộc, đến một đất nước mà nơi đó không phải là sự lựa chọn
của họ. Dự án được hỗ trợ bởi: Fritt ord, forskningsinstitusjonen
NOVA, og Norsk Folkemuseum. Có hai mục tiêu trong dự án này:(1) phổ
biến những kinh nghiệm riêng (của những tác giả viết bài) có thể phá
vỡ khuôn khổ định kiến thường thấy trên các tít của các tờ báo, khi
có những vấn đề liên quan đến người nhập cư (2) đưa vào ngân hàng
lưu trữ kiến thức quốc gia, những kiến thức sẽ trở thành một phần ký
ức về những cuộc nhập cư đến Na-Uy, sau chiến tranh. Kết quả?.Tôi và
anh bạn cùng gửi bài, không được thông báo ngày kết thúc dự án, đồng
thời là ngày phát giải bài được chọn xuất sắc nhất, nên không biết
buổi lễ đã tạo ấn tượng nơi người đến dự như thế nào. Bây giờ, cái
nhìn của truyền thông (báo giới nói riêng) đã thay đổi ra sao khi
nhìn về những vấn đề của dân nhập cư, chúng tôi không thể biết hết.
Nhưng, riêng với tôi, dự án có
vài điều chưa hoàn chỉnh. Xào nấu những bài viết được gửi đến như
thế nào là do người đầu bếp; ở đây là người thực thi dự án đó. Dự án
để người gửi bài tự do viết dài hay ngắn, nhưng khi tôi và anh bạn
trình bày những đoạn cần thiết phải lưu giữ (như lý do tại sao tôi
không thể trở về VN) chỉ được người phụ trách dự án chấp nhận một
cách không dứt khoát. Sau cùng, đoạn đó đã được tự động cắt bỏ khi
đã được in sách!... mà đoạn đó không làm mất đến một trang sách.
Cách phân loại người tị nạn
cũng hơi lạ: người có trách nhiệm với dự án, theo ý kiến của
Brochmann (a), vì thế cho rằng những cách phân loại về người tị nạn
(dĩ nhiên) là không giống nhau. Người Chi Lê rời đất nước vì chế độ
độc tài được cai trị bởi một Tổng thống chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa
Mác Xít, còn người Việt rời khỏi một đất nước độc tài Cộng sản
(không biết điều này đã được họ phân biệt ra sao?). Người Chi Lê anh
hùng vì đã chống lại chế độ thực dân, theo quan điểm của người theo
đảng cánh tả của Na Uy. Cùng quan điểm như thế, người tị nạn VN đã
chọn phía sai lầm trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa thực dân. Có
thể với cái nhìn như thế, nên ở đoạn trên cùng (b), người trách
nhiệm cho rằng (chỉ có) người miền Nam mới xem việc thống nhất và bị
chủ nghĩa CS thống trị là một rủi ro to lớn và rời đất nước vì không
thể giữ được sự ràng buộc với nơi này. Từ đó, tác giả viết, người tị
nạn VN, rời đất nước không vì lý do chính trị cấp bách (theo lối
vượt thoát của những chính khách quan trọng?...) hoặc vì một chủ
thuyết hợp lý. Nhận định này khác với quan điểm của người Việt tị
nạn khắp nơi trên thế giới, khi họ cho rằng, họ rời đất nước VN vì
không chấp nhận cách cai trị của chính quyền CS, và họ đã tự động bỏ
phiếu "bằng chân" (trốn chạy) thay vì "bằng tay" qua các cuộc bầu cử
tự do. Tại Na Uy, một chính quyền sau nhiệm kỳ 4 năm, không chu toàn
trách nhiệm của họ với người dân, sẽ bị người dâu bỏ phiếu bất tín
nhiệm, để thay thế bởi một chính phủ khác; như vậy, hành động đó có
tính chính trị hay không?....
Dự án là một công trình khá
lớn, ít ra với thời gian 2 năm mới hoàn thành xong. Nhưng, có thể
nào ngày kết thúc lại bị đình hoãn vì lý do nào đó...và cuối cùng,
không có giấy mời, nên một số người tham dự (gửi bài) không thể đến
dự được (trong đó có một anh bạn cùng gửi bài như tôi)?. Tại sao xảy
ra được lý do giải thích này?. Vì họ sợ sự phản đối của hai chúng
tôi?. Điều này khá chủ quan...nhưng ở xứ tự do này, mọi điều đều có
thể xảy ra (c)
Việc làm lần này với cô sinh
viên đó (giúp cô ta hoàn thành dự án nghiên cứu về người Việt) cụ
thể hơn, vì cô ta không rải công việc của cô qua nhiều sắc dân.
Người phụ trách dự án của NOVA, nhận các nguyên liệu thực phẩm từ
thị trường giao tới, rồi nấu nướng theo cách của mình. Cô sinh viên
này, do giới thiệu, đến mua thực phẩm ngoài chợ để nấu theo cách
mình biết. Do tự tìm kiếm sau khi được giới thiệu nên việc nấu ăn có
thể được làm tốt hơn !?....
- Em chỉ sợ cái phòng (dùng để
tập thể dục) không có lỗ thông hơi sẽ khiến người ở
trong phòng bị ngộp!... Cô
Thủy vừa nói vừa cười vui vẻ; cái cười như thế đã theo cô từ lúc đón
khách ngoài bãi đậu xe.
- Tôi không ở cố định....Có
thể đôi ba buổi một tuần.
Sau cùng, hai người đồng ý là,
Cathrine (tên cô sinh viên) sẽ đến đây ngày thứ hai, thứ
ba và thứ năm trong tuần. Có
thể sẽ có một ngày ở lại đêm (?)... và đáp lại, cô ta sẽ làm công
việc "lesehjelp" (giúp đỡ việc học bài) cho ba đứa con của người chủ
nhà. Tuy nhiên, hai người sẽ tự liên lạc với nhau sau này, để bàn
thêm chi tiết, trong năm tới, kể từ sau ngày 15.01.2011.
Công việc trung gian của tôi
đến đây có thể xem như chấm dứt được rồi. Trên đường về, nghe cô
sinh viên nói, qua anh Kim (người chủ nhà của buổi phỏng vấn trước)
cô ấy được giới thiệu hai người khác. Ngoài ra, một người nào đó ở
Drammen, gửi mail đến cô ta, nhận sẽ giúp cô này trong những việc cô
ta cần sự giúp đỡ.
Như nói trên, việc làm ấy của
tôi, nếu nhìn theo cách cá nhân, việc đó chẳng có lợi gì cho riêng
bản thân. Nhưng, theo cách nhìn tập thể, tôi đã đóng góp phần nào
vào việc giúp người bản xứ có cái nhìn đúng mức hơn về sự hội nhập
của người Việt chúng ta vào xã hội Na Uy. Đương nhiên, tôi hài lòng
về việc này. Theo thiển ý, những người đã cùng với tôi làm việc với
người sinh viên cũng có cảm nghĩ tương tự. Riêng với cô sinh viên,
thời gian sẽ trả lời.
Nhưng nói chung, tuy đã có
những cuộc khảo cứu về người nhập cư đến đất nước này, những việc
làm như vậy sẽ được tiếp tục, bởi mọi người và mọi giới có liên quan
đến sự việc đó; vì mọi sự kiện sẽ còn thay đổi trong tương lai. Lúc
đó, nếu giới khoa bảng Việt Nam có ý định làm một cuộc nghiên cứu
tương tự, đó là điều đáng mừng. Nhưng, công trình đó chắc sẽ gặp khó
khăn để vượt qua ý nghĩ của người đọc khi họ cho rằng, tác phẩm ít
nhiều mang tính chủ quan. Chi bằng, ngay trong lúc này, khi có người
bản xứ nào đó quan tâm đến việc khảo cứu về các vấn đề của người
Việt Nam, chúng ta sẵn lòng đón tiếp họ.Và đón tiếp vui vẻ, tự nhiên
như hai lần vừa qua. Tốt hơn nữa, chúng ta hoàn thiện tổ chức các
hội đoàn. Chính từ đó, giới trẻ sống với những cái hay của cha mẹ,
anh em, bạn bè …và thâu nhận những cái hay khác của người bạn xứ.
Người Pakistan đến đất nước này vì lý do kinh tế, nhưng những hoạt
động có tính chính trị của họ đã nói nhiều hơn những gì được chứng
minh qua lý thuyết. Sỡ dĩ họ làm được điều này, một trong những lý
do, là vì họ đã có những hội đoàn làm việc thật tốt.
Đặng quang Chính
Oslo 25.12.2010
Ghi chú:
(a) Một tác giả trong cuốn
Norsk invandringshistorie. (b) Trang 135, sách ”Neste stopp
Nordepolen”, Red. Kirsten Danielsen, nhà xuất bản
Orkana
(c) Thế hệ thứ hai của người
Việt làm ơn điều chỉnh sự lệch lạc trong dự án của NOVA (nếu họ thấy
điều đó đúng và là việc cần thiết để làm).
På lørdag møtte Chuong Dam som er
styremedlem i VINOF og jeg, to vietnamesiske kvinner og en mann,
hjemme hos sistnevnte i Oslo. Ingen kjente hverandre, og møtet var
arrangert av Chuong for å hjelpe meg med mitt prosjekt. Jeg skal
nemlig tilbringe våren med å forske på vietnamesere i Groruddalen,
som en del av min masteroppgave i sosialantropologi. Temaet for
oppgaven min er matvaner, noe jeg skal bruke som en inngangsport til
å forstå mer om vietnameseres hverdagsliv, etter mange år som
minoritet i en annen kultur.
Dette var et svært hyggelig møte med
vietnamesisk kultur. Vi snakket i flere timer om både mat,
tradisjoner og Vietnam. Jeg fikk også gjort mine første intervjuer
og samlet litt informasjon til oppgaven min. Etterpå gikk vi på
vietnamesisk restaurant, og avsluttet dagen med en fantastisk suppe.
Jeg fikk en innføring i hvordan man bruker forskjellige tilbehør og
hvor viktig det er med de rette ingrediensene i form av krydder og
urter. Til slutt tok vi en runde i en vietnamesisk matbutikk, hvor
jeg ble vist et stort utvalg sauser, krydder, nudler og andre varer
som blir brukt til tradisjonelle retter. Det som gjorde mest
inntrykk var imidlertid de mange grønnsakene og fruktene som jeg
aldri hadde sett før! Jeg husker ikke navna på noen av dem, men jeg
gleder meg til å lære mer om hvordan man bruker disse spennende
råvarene i en helt annen matkultur enn den norske.
Alt i alt var dette en kjempefin dag,
som gjorde meg enda mer interessert i Vietnamesisk kultur og
motivert for mitt prosjekt. Jeg må bare avslutte med å takke Chuong,
Trang, Huong og Kim for at de brukte sin frilørdag på å hjelpe meg!
Dersom andre er interessert i å delta i
mitt prosjekt i Groruddalen, trenger jeg både folk jeg kan
intervjue, besøke hjemme på kjøkkenet og noen jeg kan bo hos i noen
uker for å følge i hverdagen. Tidsrommet er januar- juli 2011. Se
artikkel om gratis ”au pair” lenger nede på siden.
Mvh
Cathrine Mosberg
Ô sin ...Au
pair ...gratis!
Hai chữ ” Ô sin”, chắc nhiều
người đã biết ...nhưng người bản xứ chắc không biết rồi. Còn chữ ”Au
pair”, người bản xứ hiểu là gì ...nhưng dân Na Uy gốc Việt, không
chắc nhiều người đã biết. Còn chữ ”gratis”, bảo đảm 100% là ai cũng
biết cả. Nhưng ”gratis” là mịễn phí ..nhưng miễn phí gì với 2 món
đó?
Chuyện hơi dài dòng, cho tôi
thong thả kể lại. Tôi đã gửi mail nhiều lần, rồi mới hẹn được cô ta
vào thứ tư vừa qua. Vừa bước vào toà nhà Eng Helg hus này, cô ta
nhận ra tôi ngay. Vừa chào hỏi, xưng tên xong, cô hỏi có phải tôi
tên là .... . Đúng quá! Người mình gọi tên (fornavn) chứ có khi
nào gọi họ (etternavn) của người khác đâu. Chứng tỏ cô này biết ít
nhiều về người nước ngoài, chẳng hạn người Việt như tôi đây.
Buổi nói chuyện không quá 20
phút. Trước khi ra về, cô ấy cẩn thận đưa tôi hai xấp giấy.
Đến tối, nói chuyện qua điện
thoại với anh bạn trẻ trong Hội, anh ấy hoan nghênh việc làm của
tôi.
- Cô ta hơi thất
vọng!...tôi nói đùa với anh ấy.
- Không được việc
à!...
- Cô ấy thấy người
làm việc trong Hội có vẻ lớn tuổi ....chắc cho rằng Hội của mình là
Hội
của các bô lão
- Năm rồi, việc này
cũng định thực hiện ...nhưng cuối cùng không xong.
- Tại sao thế...
- Chắc họ sợ chụp
hình, đăng ảnh ...v..v..
Nói chuyện với anh bạn trẻ
xong...tôi xem lại hai xấy giấy cô Na Uy đưa tôi trước khi ra về.
Trong tờ giấy có nói rõ, nếu ai muốn, cô ta sẽ đến ở cùng nhà. Ai
có con, cô ta đưa đi học. Ai cần giúp việc nhà, cô ấy phụ một tay
(đây là một trong 2 việc của Au pair đó). Nếu có phòng trống, cô ta
sẽ mướn (dĩ nhiên, trả tiền đàng hoàng). Dù mướn, cô ta cũng sẽ làm
công việc nhà chung với người cho mướn phòng. Cô còn nói rõ, sẽ
không là gánh nặng của người cùng ở với cô. Cô không có ý định ngồi
đó với cuốn sổ ghi chép và làm như soi mói công việc của mọi người
trong căn nhà mà cô ta sẽ đến sống chung.
Trời ơi !...Nếu tôi chưa có
vợ, tôi sẽ đồng ý ngay. Hợp đồng mà cô ấy ghi rõ, nói rằng, thời
gian sống chung đó (nếu có thể được) trong thời gian từ tháng 01 –
tháng 06.2011. Mọi điều xảy ra trong thời gian này sẽ được cô ta dấu
kín. Dấu kín do tự cá nhân ...và cũng do luật định nữa. Đang ở
chung, nếu vì lý do nào đó hai bên không cùng ở chung nữa, cứ nói
ra, chẳng cần viện lý do gì cả. Anh nào có vợ cũng được. Miễn là vợ
chấp thuận điều này. Cái gì ”gratis” ...chứ khoảng này chắc không
được rồi.
Nhưng, dù tôi chưa có vợ, tôi
cũng không lọt vào danh sách ứng viên làm việc này. Cô ta chỉ làm
việc này với những ai sống trong khu vực Groruddalen (khổ cho tôi
chưa!...). Cô ấy đang làm một dự án nghiên cứu (prosjekt) có tên
”Ekslusjon og inklusjon i forstaden”, nhằm tìm hiểu điều gì đã xảy
ra trong những sắc dân thiểu số khác nhau, làm cho có người đến ở
nơi đó và từ đó dời đi nơi khác. Mục tiêu chánh vẫn là tìm hiểu cho
rõ hơn về những sắc dân thiểu số sống tại khu vực nói trên.
Tóm lại, cô sinh viên Na Uy,
với dự án để hoàn tất văn bằng master, nghiên cứu về thói quen ăn
uống của người Việt, muốn Hội đoàn VINOF giới thiệu cho cô ta một
người hay một gia đình đang sinh sống tại vùng Groruddalen.
Ai cảm thấy việc này có điều
gì đó cũng thú vị, xin liên lạc:
Vì không hài lòng lắm trong
lần họp vừa qua, một cuộc họp có nội dung liên quan đến vấn đề hội
nhập...nên chúng tôi chẳng ai có cảm hứng viết một điều gì về việc
đó. Vậy mà có một việc, tuy riêng tư, nhưng khiến tôi có hứng thú.
Đó là lần đi họp mặt tại một nhà nghỉ mát (hytta) ở khu vực
Holmenkollen, thứ bảy 13.11.2010. Khoảng 11:00, hai nhóm Nhu Đạo
(Judo) của sinh viên Blindern và Tromsø gặp nhau tại Ullevål
stadion. Sau khi mua thực phẩm, ba người được phân công chở lên
hytta. Những người còn lại, kéo về phòng tập Domus gần đó.
Năm cặp, đủ mọi hạng cân,
chiều cao...và tuổi tác đã tập thật vui tại phòng tập này. Một tiếng
sau cùng dành cho việc thi đấu giao hữu. Tôi không thi đấu vì biết
"giới hạn" của mình. Giới hạn đó là việc tôi đã ngưng tập ít ra cả
gần 2 tháng rồi....bởi chân bị chấn thương, khi đi xuống những bậc
thang của trường.
Sau hơn 3 tiếng tại phòng tập,
cả nhóm kéo nhau đến trạm Majorstua, để đón xe bus đến Holmenkollen.
Tại trạm này, chúng tôi được tin chiếc xe chở thực phẩm đã bị trục
trặc máy móc. Một người trong nhóm, huấn luyện viên trưởng, nhận lời
đi mượn xe của bạn, rồi chạy lên nơi xe bị hư, chuyển thực phẩm
sang, để tiếp tục đưa đến nhà nghỉ mát (hytta).
Trạm cuối của chúng tôi là
Voksenkollen. Tuyết bắt đầu đổ, tuy không dầy, nhưng làm cho không
khí có vẻ lạnh hơn. Ba bốn người mở máy điện thoại cầm tay, kẻ dùng
"navigator", người liên lạc với trưởng nhóm, để biết rõ đường đi đến
nơi xe bị hư như thế nào.
Đường lên dốc trơn trợt. Độ
cao tăng dần. Bàn chân phải của tôi hình như muốn phản đối việc đi
bộ như thế. Khi xe cứu nạn chuẩn bị lăn bánh, chở theo chiếc xe hư…
và chiếc xe mới - chở thực phẩm- cũng sửa soạn rời địa điểm đó,
trưởng nhóm chạy đến, yêu cầu tôi đi theo xe hơi chở thực phẩm. Tôi
ngần ngừ. Trưởng nhóm cho biết, còn phải leo dốc độ 5 cây số nữa.
Lần này, tôi cũng có quyết định khá tốt...khi ngồi vào chiếc xe. Lại
một "giới hạn" khác của tôi. Tuy thế, một ý nghĩ khác cứ lởn vởn
rằng, thời tiết như thế này, không chừng đi bộ, tuy mõi chân...nhưng
độ an toàn còn nhiều hơn là chọn quyết định này.
Huấn luyện viên là một người
khá cao và vạm vỡ. Anh chàng nhất định là không thể chịu nổi cái đói
rồi. Chính anh ta, tuy hỏi tôi có cảm thấy đói sau gần 4 tiếng tập
không, nhưng cùng lúc ngừng lại tại một trạm xăng, để mua thức ăn
nhanh. Tôi đã có một thời gian trong quân đội mà giờ đây còn chậm
hơn anh chàng, vì tốc độ ăn ngấu nghiến.
Xe đi vòng qua khu vực
Nydalen. Phải mất ít ra 3 lần ngừng để hỏi thăm đường đi cho chắc
ăn. Lần cuối, hai vợ chồng Na Uy già, sau khi chỉ đường, cẩn thận
dặn dò các khúc quanh trên đường. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ, họ dặn vì
trời có tuyết, đường tối, hơn nữa...sợ thanh niên chạy bạt mạng. Ai
ngờ, càng lên cao, càng thấy lời dặn thật chí tình!. Từ mặt bằng khu
vực Nydalen, đến độ cao của nhà nghỉ mát, tôi đoán ít ra có đến
300(400m). Mỗi lần quanh cua là mỗi lần độ cao được nâng lên. Hai
bên toàn là thông. Có chổ thông sát đường, có chổ thông cách xa
đường xe chạy. Trên đường, tuyết dày độ một bàn tay. May quá!...chưa
đóng băng. Hơn nữa, hình như có dấu xe cày (brøyter) đi trước không
lâu. Kẹt một nỗi là xe chạy bằng ánh sáng tự có của hai đèn phía
trước. Những khúc cua trong đêm tối mới ngặt nghèo làm sao. Anh
chàng ngồi bên tài xế, mở bàn đồ, theo dõi hướng đi của xe, nên tập
trung vào việc hướng dẫn. Còn tôi ngồi sau, chỉ có một việc làm là,
cứ thắc mắc về quyết định trước đó không lâu là, đi theo xe hơi là
tốt hay xấu !!....
Khi đến nơi, nghe nhóm đi bộ
nói về”tinh thần Viking” trong con người của họ, lúc lần mò đi bộ
lên nhà nghỉ mát, tôi thấy tiếc đã không thâu hình lúc đang ngồi
trong xe. Khi xong chuyện, diễn tả sự việc thì như thế, nhưng lúc
ngồi trên xe, tôi chăm chăm nhìn vào khoảng đuờng loang loáng sáng
trước xe, tưởng chừng như không thể căng con mắt to hơn nữa. Có thì
giờ đâu nữa mà thâu hình!
Bữa tiệc được bắt đầu rất gọn
nhẹ, sau khi trưởng nhóm nói không quá 3 câu. Trong khi cả nhóm bắt
đầu ăn, tôi không thể không nói thêm vào. Tôi nói không quá 7 câu. Ý
rằng, trưởng nhóm là người rất tốt vì đã tổ chức được cuộc họp mặt
tại nhà nghỉ mát này. Bởi, ít ra từ 3 đến 5 năm nay, chưa có trưởng
nhóm nào tổ chức một sinh hoạt ngoài trời (ngoài giờ tập trong
phòng) như thế. Tôi nói tếu thêm rằng, trưởng nhóm rất khéo khi chọn
nhà nghỉ mát này, để chỉ có một mình huấn luyện viên lái xe lên được
mà thôi. Thật thế, trưởng nhóm đã tốn công sức biết bao nhiêu để gầy
dựng nhóm tập Nhu đạo (trước anh ta, một sinh viên VN cũng đã là
trưởng nhóm...nhưng rồi tan hàng). Cứ theo dõi việc gửi mail đến các
thành viên, nói về việc họp mặt, cũng giúp chúng ta biết được sự
nhiệt tình của anh ấy như thế nào. Nếu nói việc gầy dựng nhóm là may
mắn, điều đó chỉ có phần nào. Người phó nhóm, tuy có đẳng cấp cao
hơn (đai đen) nên làm huấn luyện viên..nhưng anh nhóm phó này có
thái độ rất khiêm nhường và tích cực trong mọi việc được giao. Thành
công là do hai người phối hợp công việc với nhau rất nhịp nhàng, nên
mọi việc đều diễn ra tốt đẹp.
Lúc ngồi hông chân bên cạnh lò
sưởi, tôi thấy rõ cái ”giới hạn” khi không cùng nhóm đi bộ lên nhà
nghỉ mát là đúng. Ngồi trên xe mà chân còn nhức như thế này, nếu đi
bộ thì sẽ ra sao. Sau khi bị chấn thương và ngưng tập khoảng hơn 2
tháng, thế mà còn ra dợt với nhóm cả giờ là cũng cố gắng rồi. Dù họ
có gượng nhẹ lắm ...lúc hăng say rồi thì còn kể số gì; họ cũng cố
vật cho ngã được đối phương.
- Anh còn nhớ lúc bắt
đầu với nhóm chỉ có 3(4) người ...? Trưởng nhóm hỏi
Vì hơn ồn, nghe không rõ, nên
tôi hỏi lại là anh ta đã hỏi tôi điều gì.
- (Trưởng nhóm nhắc
lại câu hỏi và thêm rằng...) Cũng do sự khuyến khích của anh.
Anh chàng này thiệt thật tình.
Nếu câu nói được nêu ra sau đó, khi tôi đã biết nhiệm sở mới của anh
chàng, tôi cho đó là một thái độ ngoại giao. Vì vào đầu năm tới,
Trưởng nhóm sẽ nhận công việc tại Toà Đại sứ Na Uy bên Nhật.
- Việc đó là
....”kant” kant... gì đó.
Tôi không nhớ ra tên gọi công
việc mà anh ta sẽ nhận. Cuối cùng, tôi nhớ là ”Pratikant” (1)
- Không, làm việc như
”diplomat” (2)
Câu trả lời nhẹ nhàng. Điều
này đáng học. Khác với anh chàng trong buổi họp do IMDI (3) tổ chức
vừa qua, từ Stavanger lên. Anh kỹ sư người Á Châu đó, đến Na Uy
khoảng 1985, hiện giờ đang làm việc tại một công ty ở một tỉnh phía
Nam nước Na Uy. Anh ta, có lẽ đã học liên tục đến khi ra Đại học. Có
việc làm. Có vợ người bản xứ. Hiện đang làm công việc Nghị viên của
tỉnh kia (có lẽ thế....). Điệu bộ có vẻ tự hào lắm. Khi được hỏi về
kinh nghiệm bản thân, anh nói thao thao. Nhưng, nếu hỏi anh có làm
một việc gì trong Hội đoàn của sắc dân của anh, chắc chúng ta không
chừng sẽ nhận được trả lời là: không. Điều này giống như câu nói của
một cô người Việt, làm việc trong một một trung tâm nghiên cứu về
học đường và trẻ em. Cô ta nói rằng, hình như những người nói tiếng
Na Uy khá lại không chịu làm việc với Hội đoàn. Phải. Một trong
những lý do là vì họ tính kỹ lắm. Nếu công việc Hội đoàn có lợi tức,
chắc cũng có nhiều người nhận làm rồi. Theo nhận xét người viết, anh
chàng kỹ sư không biết thật rõ hai tiếng ”hội nhập”. Anh chỉ nhìn ở
khía cạnh cá nhân. Nếu biết rõ, anh ấy sẽ thấy rằng, đây là một quốc
gia có chủ trương xây dựng ”felleskap” (4). Chuyện cá nhân thành
công chỉ là điển hình, chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ nào đó, và không hẳn
nằm trong chủ trương đó. Các đề tài thảo luận hôm đó cũng không sát
với chủ đề được nêu ra: Menn og gutter med minoritetsbakgrunn – en
ressurs i Norge!
Có lẽ cũng phần nào do cái
tính "felleskap" đó nên việc ra trường cấp Cử nhân ở đây không có
buổi lễ mặc áo, đội nón như bằng cấp Cử nhân bên Mỹ. Cũng phần nào
do cái tính đó, ông giáo sư môn KOR 1504 (5) là người Liên Xô (có
tên ở dạng đó) nói được tiếng Anh và Na Uy (dĩ nhiên không kể tiếng
mẹ đẻ)...và có thể biết thêm một hai sinh ngữ khác, có thái độ giản
dị, nhã nhặn và tươi cười. Hình như nét mặt tươi vui của ông ấy còn
hơn là nét mặt vui vẻ của các cô làm việc ở quầy tiếp khách
(receiptionist) của Phân khoa Xã hội, trường Đại học Blindern. Nói
đến chuyện người, không thể không nhắc chuyện của chúng ta. Nhà khoa
học Ngô bảo Châu (6) khi được hỏi về thái độ của anh về cách làm
việc của chính quyền hiện tại ở VN, anh ấy nói ý rằng, anh ta không
theo lề phải hay trái gì cả, vì theo lề nào cũng là hành động của
những con cừu. Điều ấy chứng tỏ, không những rất bận trong những
công cuộc khảo cứu, anh vẫn dành thì giờ tìm hiểu về tình hình thời
sự nước nhà. Rồi qua những cuộc phỏng vấn, nội dung nói chuyện cho
thấy đó là một con người có mức độ khiêm tốn đáng mến.
Những điều đáng học đó lại
không được thế hệ kế tiếp của người Việt tại đây lưu ý (bao nhiêu
người học tập được thái độ đó...?). Họ nghĩ "hội nhập" là làm sao
cho giống người bản xứ. Bên ngoài, họ ăn mặc và làm tóc giống như
thanh thiếu niên Na Uy (nhuộm đỏ, xanh...) quần xệ đáy, nhét thêm 01
chai coca vào túi quần...v.v...Chơi cuối tuần phải nhảy disco mới là
người sành điệu. Ăn nói theo lối cao bồi, tục tĩu..v.v.. Tuổi trẻ
của họ nói được tiếng bản xứ (chưa biết viết như thế nào) nhưng
không phân biệt được "hội nhập" (Integrering) và "đồng
hoá"(assimilering).
- Có đi ”dusj” (7)
không ....Trưởng nhóm hỏi
Lại lần nữa tôi có "giới hạn"
của mình, biết những gì mình không nên làm quá khả năng của mình.
Nhìn ra ngoài cửa sổ, một toán 5(6) anh, trần truồng như nhộng chạy
vào cửa chính, để xuống hầm, vào tắm vòi nước... và sau đó tắm hơi.
Họ che khăn nơi hạ bộ. Nếu muốn, tôi cũng làm được việc đó. Nhưng
cái tôi không bắt chước là ra tắm ở lộ thiên, bởi trời lạnh dưới âm
độ.
Nhớ đến một bài viết của một
tác giả nữ, sinh sống tại Đức, tôi muốn cười thầm. Cô ấy tả việc đi
chơi nhà nghỉ mát của nhóm học sinh Trung hoc. Có đoạn cô ấy không
chấp nhận là, sau khi ăn uống và disco... bọn đó kéo nhau vào những
chổ tối, làm tình "xả láng"!.... Chỉ một lần với nhóm học sinh đó,
cô ấy có ấn tượng kéo dài, đến khi có gia đình và đưa sự việc vào
bài viết của mình. Chứ đúng ra , ở đâu cũng thế, cũng có người này
người kia. Na Uy là một trong những nước Bắc âu nổi tiếng, có những
cô gái rất "sexy" (8). Nhưng, trên thực tế, trong Đại học ở Thủ đô
Oslo này, trong những sinh hoạt của sinh viên, có một bộ phận do nhà
trường thành lập, nhằm giải quyết việc nam, nữ sinh viên có cơ hội
tìm hiểu nhau. Cũng có trang web giúp đỡ công việc đó. Bây giờ,
chuyện tình dục ở VN có thể còn vượt hơn Na Uy không chừng. Cái tốt
khó học, cái dở dễ làm.
Tôi là người thứ hai dậy vào
lúc khoảng 8 giờ sáng hôm sau; chậm hơn nguời cùng phòng. Anh ta,
khi mở cửa, tưởng tôi còn ngủ. Thật ra, tôi ngủ chập chờn, bởi đôi
khi phải ho cho dễ chịu; bởi ảnh hưởng cái lạnh chiều qua chưa tan
hết hẳn. Thế mới biết, bíết được cái giới hạn của mình là chuyện
đáng kể. Biết học cái hay và tránh cái dở là điều không dễ thực
hiện.
Nhảy Disco chẳng hạn. Chẳng
tốt hay xấu. Tốt hay xấu là do khi nhảy có lợi dụng cọ quẹt hay
không. Cách nhảy này chẳng qua là một dịp được cử động, vận chuyển
vào cuối tuần, khi cả tuần chẳng có một ngày đi đến phòng tập thể
dục. Vì thế, ở các thành phố lớn, ở nước nào cũng vậy, các nơi dạy
môn khiêu vũ có bài bản vẫn là nơi thu hút nhiều người. Nhất là
thành phần có tiền (học phí không ít). Khi nhảy, dù muốn hay không,
vẫn phải tỉnh táo; hiểu theo cách không say, và không có ý dung tục.
Hai người hòa nhịp với nhau, theo các bước đã thành chuẩn mực, hòa
với điệu nhạc cả là một nghệ thuật. Còn chọc cười thiên hạ cũng thế.
Có một chương trình tếu hài (người diễn bằng tiếng Anh) trên ti vi
rất được nhiều người xem. Đôi chương trình tếu hài của người Việt
còn ở mức độ vừa diễu vừa chọc lét vào nách khán giả. Có người lầm
tưởng tếu hài là cứ nói tục mới tạo cảm giác. Thanh niên ở xứ người,
tiếng Việt không vững, nên làm gì thưởng thức được nụ cười tục mà
thanh của bà Hồ xuân Hương. Không kể gì đến mức độ đó, trong sinh
hoạt bình thường, nhiều thanh thiếu niên cứ tưởng rằng nói huỵch
toẹt theo lối của bọn nhỏ Tây Phương là hợp trào lưu mới. Vì thế, có
lần sinh hoạt chung với họ, tôi phải nói thẳng theo kiểu khác
- Tụi nhỏ bản xứ
không diễn đạt theo cách của mình. Một bạn trẻ nói thế
- Cách của mình …là
thế nào? Tôi hỏi
- Yêu không nói ngay
là mình yêu ai đó …cứ loanh quanh
- Nói thẳng ra sao
….?
- Nếu thấy đối tượng
có vẻ đồng ý…phải nhào vào làm liền. Như các phim của Mỹ vậy.
- Trước giờ mấy em có
ăn “cháo ngó” lần nào chưa?...
- Ăn cái gì ….
Tôi thuật lại cho em đó nghe
về vụ ăn chơi của sinh viên VN trong nuớc, ở miền Nam, trước năm
1975. Tôi nói rõ là, phần đầu câu chuyện là từ một người bạn của tôi
kể lại (dĩ nhiên vào lúc đó đã được kiểm chứng) …còn phần sau, tôi
không biết thực hư. Đó là việc tổ chức vui chơi vào ngày Noel (Giáng
sinh) của sinh viên Kiến trúc. Họ bày nồi cháo vịt trước mặt, những
người ngồi quanh phải “truổng cời”….
- Có ai ăn được cháo
không …?
- Dĩ nhiên, sau cùng
…nồi cháo cũng hết. Và từ đó những buổi tổ chức theo kiểu này không
diễn ra nữa
- Bị nhà trường cấm
…?
- Em có nghe vụ trình
diễn âm nhạc gây xôn xao tại Na Uy này, cách đây khoảng 3 đến 5 năm?
- Nghe loáng
thoáng…Nghe rằng, hai người ca sĩ, trai và gái vừa hát vừa làm tình
trước công chúng.
- Rồi sau đó …ra sao?
- Bị phạt …và từ đó
đến nay, chưa có buổi trình diễn nào có hình thức tương tự
- Vụ trường Kiến
trúc, không có nhà trường nào cấm cản…vì nhóm đó tổ chức riêng
tư; dù rằng họ mượn phòng ốc
của nhà trường. Nhưng, nghe nói, sau đó, sinh viên trường khám phá
ra rằng, một số trong nhóm tổ chức đó là sinh viên “nằm vùng” (theo
Việt Cộng). Không biết tin đồn đó đúng sai. Nhưng, với nhóm thân
Cộng, việc gì họ cũng làm được hết. Họ lôi kéo sinh viên bằng cách
này khác. Sau đi đã trở nên quen nhau khá lâu, bấy giờ họ mới đưa
công việc tuyên truyền của họ vào trong nhóm.
Tôi nói thêm cho vui
- Nhóm sinh viên tổ
chức ăn “cháo ngó” có thân Cộng hay không …mình không cần
đặt nặng. Nhưng, em là người
có đạo …có phải không?. Em tin có Chúa, có Phật ..hay tin chúng ta
từ con khỉ mà ra ?....
- Vậy là khá rồi …Em
biết ban nhạc The Beatle chứ gì ….(em này gụt gật đầu). Mới
nổi tiếng đã huyên hoanh tuyên
bố là từ khi có Chúa Jesu đến giờ, chỉ có nhóm này mới có nhiều
“fan” (9) như vậy ….đã được tiếp đón nồng nhiệt tại những nơi họ đến
trình diễn. Lúc đó, tôi chưa lớn tuổi như em ngày nay, nhưng đã cảm
thấy không ổn rồi.
- Họ có thành
tích …họ phải khoe chứ
- Vợ chồng
John Lennon …(tôi nói luôn là tôi không biết nhớ có đúng không..)
khi làm lễ tân hôn, đã cùng nằm trên giường …để cho giới báo chí đến
quay phim, chụp ảnh …Rồi ..cũng chẳng đến đâu.
- Cái gì cũng
có lúc phai tàn chứ
- Những cách
“quảng cáo” như thế cũng chẳng làm họ nổi tiếng hơn. Ngày nay, nếu
ai còn nhớ đến họ, chẳng qua nhớ đến đôi bài hát hay, có ý nghĩa;
chứ chẳng ai thèm nhớ lại cách làm tình biểu diễn của họ. Hai con
khỉ cái khỉ đực làm tình thì có gì hấp dẫn đâu !....
Tóm lại, nếu không có những
Hội đoàn của người Việt, ai sẽ là người có thể tạo được những buổi
nói chuyện cởi mở. Phải có những Hội đoàn đó, trẻ em và thanh thiếu
niên người Việt tại hải ngoại mới có dịp học hỏi những cái hay của
ta và của người. Nếu bị cô lập, bởi vì chung đụng với thanh niên bản
xứ mà không dịp cọ xát, đối chứng, từ những gì trong sách vở, đến
những thực tế xảy ra trong cuộc sống ….họ cứ tưởng “hội nhập” là
phải giống như người bản xứ; từ cách ăn mặc, suy nghĩ, nói năng
.v..v…
Buổi sáng hôm sau, tại nhà
nghỉ mát, thật là một sự thích thú. Đứng ngoài căn nhà này, đưa mắt
nhìn quanh, trừ những nơi bị rừng thông cản lại, một khoảng trời
mênh mông xuất hiện. Hoàn toàn yên tĩnh và sạch sẽ. Như thế mới cảm
được cái tâm lý sung sướng khó tả của những người đã chinh phục được
những đỉnh núi cao; như đỉnh Everst trên rặng Hy Mã Lạp Sơn. Như thế
mới hiểu được tại sao có 2 cô sinh viên người Mỹ, đã ghi lại trong
cuốn nhật ký của nhà nghỉ mát, ý nói rằng, nơi đây, một trong hai
người, đã tìm thấy tình yêu của mình đối với đất nước này.
Ngồi trên xe, trên đường rời
nhà nghỉ mát, tôi càng cảm nhận tình yêu thiên nhiên đã được xây
dựng tại đây ra sao. Luật của khu nghỉ mát này bó buộc các xe (dù
của du khách -điều này chúng tôi đã được nhắc nhở- hay của tư nhân
có nhà ở tại khu vực này?...) phải rời địa điểm trước 10:00 sáng. Vì
sau đó là thời gian của sự tận hưởng. Tôi thấy trên đường xe chạy có
đủ hạng người. Họ là tình nhân (?) là vợ chồng, là người già, con
nít, đi bộ hay chạy lúp xúp theo cha mẹ..Có người đi xe đạp xuống
dốc, có người đạp lên trên dốc cao như để tập thể dục. Đủ độ tuổi
…và tất cả đều có quyền hưởng cái không khí trong sạch này như nhau.
Những người có nhà ở quanh đây, trị giá từ 5 triệu trở lên, với anh
sinh viên chưa có việc làm, tất cả đều bình đẳng trong việc tận
hưởng cái không gian sạch sẽ đó. Chứ đừng nghe rằng, người Na Uy
sanh ra đã có đôi Ski để đi tuyết trên đôi chân của họ. Đừng tưởng
rằng, hễ cứ có Thế vận hội mùa Đông là Na Uy có giải nhất hay trong
ba hạng đầu là việc tự nhiên. Trên đài truyền hình, vào mùa đông,
trong chương trình TV của đài NRK (một trong những đài ti vi của nhà
nước) gần như phần nhiều thì giờ dành cho những môn chơi mùa đông.
Nói như thế để biết rằng, tạo thành một thói quen tốt không phải là
việc dễ….nhất là thói quen phải được thực hiện ngoài trời, với tuyết
rơi …và cái lạnh từ 2(3) độ xuống đến âm 2(3) độ là thường.
Với người nhập cư, đến bao giờ
mới có được tình yêu thiên nhiên như thế. Thế hệ thứ hai liệu có
được chưa, và nhiều hay số ít. Hôm qua, đài TV NRK, có một đoạn
phim, nói về người đoạt giải Fritt Ords (10) là Bushra Ishaq và Abid
Q. Raja. Người sau là luật sư Pakirstan. Anh chàng có nhiều hoạt
động nổi bật trong thời sự chính trị và luật pháp tại Na Uy. Đồng
thời, với tư cách luật sư, anh đã tham dự vào việc bào chữa cho đồng
hương của anh ta tại đất nước này. Bao giờ giới trí thức VN tại đất
nước này mới có những hoạt động như thế?. Một tình trạng trái ngược
hơi lạ. Ông bà cha mẹ giống dân này, đến Na Uy vì người bản xứ thiếu
nhân sự lao động vào khoảng 40 (50) năm về trước; nói khác đi, họ
đến với tính cách kinh tế. Còn người VN, luôn tự hào đã đến đất nước
này với tư cách tị nạn chính trị!. Người cùng đoạt giải với anh Luật
sư là Bushra Ishaq, sinh viên Đại học y khoa và là sinh viên nghiên
cứu trong phân viện Vật lý học của Đại học Blindern. Cô này bắt đầu
một ngày hoạt động bằng cách chạy jogge trong một vùng đồi, có ao hồ
xung quanh (có lẽ gần nhà của cô ấy). Cô ấy sinh và lớn lên tại Na
Uy nên tự nhiên có thói quen đó?....
Trước đây, tôi cũng nghe một
người quen, thuật lại chuyện người bạn của họ, một mối tình (?) khá
đặc biệt. Không biết hai người đó quen nhau từ lúc nào. Nàng, một cô
gái Na Uy, làm việc tại Bergen, chàng, một chàng trai Việt Nam, làm
việc ở Oslo, thủ đô. Hễ rảnh cuối tuần là nàng đáp phi cơ về thủ đô
gặp chàng. Mùa đông nào hai người cũng rủ nhau đi trượt tuyết ở
những nơi vắng vẻ, xa thành phố. Không biết bây giờ họ đã chính thức
kết hợp với nhau và có con với nhau chưa. Chắc những cặp cha mẹ như
vậy mới có con yêu thích môn trượt tuyết?...
Nghĩ lại, tôi thấy đôi lúc
mình hơi ngớ ngẩn. Có lần, có hai vợ chồng, vợ Việt, chồng gốc Thụy
Điển, hỏi tôi đã có lần nào lên Lofoton hay Svolvær (miền Bắc Na Uy)
..v.v..hay đâu đó, để xem mặt trời lúc giữa đêm chưa; lúc đó, tôi
cho rằng, họ hỏi có tính khoe khoang. Sau khi ra khỏi Viện bảo Tàng
Vigelansparken, họ thú thật là quá tiếc, vì ở đây đã lâu, mà chưa
bao giờ đến thăm Viện bảo Tàng này; dù từ nhà họ ở Vårlenga đến đó
cũng chẳng xa lắm. Họ cám ơn vì tôi đã rủ họ làm chuyến đi chơi đó.
Nói dài dòng như nẫy giờ để
nói lên cái quan niệm sống ở đời. Ai cũng có sự thưởng thức, tận
hưởng cuộc đời khác nhau. Nhưng, để có được sự hưởng thụ như thế,
chúng ta phải làm việc như thế nào?.
Làm bất cứ ngành nghề gì thích
hợp với khả năng hiện có của mình, miễn là đừng trông chờ nhiều vào
tiền trợ cấp xã hội. Nói đến đây, mới quay về ý nghĩa các cuộc họp
do các cơ quan công quyền hay của tư nhân Na Uy tổ chức. Họ cảm thấy
số người ăn trợ cấp xã hội có phần lớn nằm trong số những người nhập
cư, nên họ cứ nhai đi nhai lại đề tài này; bằng dạng này dạng khác.
Chúng ta có thể thông cảm với họ. Tuy nhiên, trong buổi họp đó, có
nguời Na Uy (?) (tôi không nhớ tên) trong phần tổng kết, đưa ra
những điểm khá đặc sắc. Anh ta nói, trong việc hội nhập, có lúc phải
đặt lại vấn đề. Có quá trình hội nhâp nào lại chỉ có một chiều (đây
là ý của nhiều người và của riêng tôi, từ lâu nay). Cái xã hội, cái
môi trường tiếp đón người nước ngoài nhập cư cũng phải có những
phương thức giúp đỡ họ hội nhập. Có lần tôi đọc được, theo thống kê
của Kommune Oslo (khoảng hơn 10 năm trước), số người da trắng (bản
xứ và dân nhập cư từ các nước lân cận) ăn thất nghiệp hay trợ cấp xã
hội, cao hơn người nhập cư từ các quốc gia khác. Có ai trong giới
thế hệ thứ hai của VN đã trình bày rõ vấn đề này trước cuộc họp, đại
loại như kể trên?...Không có ai giỏi tiếng Na Uy (theo như cô gái VN
làm việc nghiên cứu về trẻ em và học đường nói trên) làm việc trong
các Hội đoàn người Việt. Lý do tại sao?. …
Ngồi trên xe, tôi cảm thấy hai
anh chàng sinh viên Na Uy có máu “Viking” trong người thật. Vì khi
lên, trời tối, có sự nguy hiểm của nó. Lúc xuống, trời sáng, sự rủi
ro cũng thấy rõ hơn lúc chạy xe lên. Cũng như đi bộ. Lên dốc, độ
trợt cũng dễ được hãm lại hơn là lúc đi xuống. Mỗi khúc quanh lại có
sự thay đổi độ cao, cho là từ 5 tới 10m thôi, như thế cũng đã làm
choáng được rồi. Đằng này phải chịu đến 5(7) lần thay đổi độ cao
(khúc quanh) là ít. Do đó, cái tinh thần tự hào “tị nạn” của tôi
cũng giảm đi. Trước kia, được tàu (sắt) của người Mã Lai, chở từ đảo
Bidong vào đất liền, thấy mấy người Mã và nước ngoài, tuy đã bận áo
phao, mà nét mặt căng thẳng, tôi đã cho họ là chết nhát. Bây giờ, có
lẽ tôi cũng chết nhát không thua họ.
“Đi một đàng học một sàng
khôn”. Tham dự vào các sinh hoạt tập thể, dù của người bản xứ hay
của sắc dân mình, nếu biết học hỏi, chúng ta đều có thể rút ra từ đó
những kinh nghiệm sống nho nhỏ cần thiết. Trước hết, chúng ta thấy
rõ rằng, cái ta là nhỏ bé, so với tập thể. Tuy nhiên, “gần mực thì
đen, gần đèn thì sáng” và “Con sâu làm rầu nồi canh”. Cái hay khó
học …nhưng cũng có thể làm được, nếu được một tập thể tốt giúp đỡ
tận tình. Học cái hay cho bản thân. Ít ra là, biết mức độ khả năng
của mình tới đâu –không ai là bác học trong thế giới điện tử ngày
nay như thuở trước-. Thêm vào đấy, nếu được, giúp người khác phát
triển cái hay đó. Đất nước nào, dân tộc nào cũng có cái hay riêng.
Học cái hay và biết tránh cái dở là bước đầu hoàn thiện con người
mình. Và đó cũng là bước căn bản để hội nhập vào một xã hội mới. Hội
nhập không có nghĩa là đồng hoá.
Đặng quang Chính
Oslo 21.11.2010
13:03
Ghi chú:
(1) Người bắt đầu thực hiện
việc thực tập công việc của mình
(2) Nhân viên Bộ Ngoại giao,
người đại diện quốc gia làm việc thương thuyết với người đại diện
của một qưốc gia khác, đặc biệt trong lãnh vực chính trị.
(3) IMDI (Integrerings-
og mangfoldsdirektoratet - IMDi)có thể gọi là Bộ Hội nhập và đa
sắc dân, được
thành lập vào năm 2006, khi Bộ nhập cư (UDI) tách làm hai là UDI và
IMDI. IMDI được
thành lập để làm công việc liên quan đến các sắc dân nhập cư,
nhằm giúp họ hội
nhập vào xã hội. IMDI cùng giải quyết thông qua những chính sách
hội nhập, trong đó
có chính sách giải quyết việc cung cấp chổ ở cho dân nhập cư của
chính quyền. IMDI
có văn phòng chính tại Oslo và những tỉnh khác. Bộ trưởng bộ này
là ông Osmund
Kaldheim, 2005-2010 và hiện nay là ông Geir Barvik
(2010).
(4) Felleskap
(community: tiếng Anh) tinh thần tập thể
(5) KOR 1504: môn lịch
sử, xã hội, chính trị Đại hàn.
(6)
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2009-12-12-ngo-bao-chau-bom-tan-va-trong-dong-trong-toan-hoc-
(7) Tắm bằng vòi sen
(8) Chữ này được người
Việt hiểu theo 2 nghĩa: có thân hình hấp dẫn hoặc tình cảm rất
Nguyễn Ngọc Dũng, nay ở tuổi 40, từ một thuyền nhân thiếu dinh dưỡng
trở thành một nhà tư vấn cho 60% công nghệ khách sạn Na Uy.
Øystein Krogsrud và Eivind Senneset (photo), Bergen
Dịch ra ra tiếng Việt: Tiêu Dao Bảo Cự
Nguyễn Ngọc Dũng vượt thoát khỏi Việt Nam
bằng thuyền. Cuộc vượt thoát chấm dứt ở khách sạn Strand Hotel, tòa nhà màu
trắng ở giữa bức tranh.
Hãy
xem tài sản của bạn” giám đốc khách sạnAsle Prestegard nói. Nếu khách sạn StrandHotel, bên cạnh Chợ Cá ở Bergen, hãy còn
taitiếng như thời Nguyễn Ngọc
Dũngđến như một thuyền nhân vào
năm 1978. Khách sạn đãtừng là nơi
lui tới thường xuyên của gái điếm, người sayrượu, người tị nạn, và ngay cả một con
ngựa, theo lờicủa Hans “Hansemann”
Bru, người quản lý bar kháchsạn
trong năm 1996
.
Nhớ lại. Hans "Hansemann" Bru điều hành bar
ở khách sạn Strand Hotel từ năm 1996, kể cho Nguyễn nghe
về khách sạn ngày xưa như thế nào, nơi thường xuyên
lui tới của gái điếm, người say rượu và dân tị nạn.
Chuyện kể rằng nhiều năm trước, một trong nhữngngười khách đã mang con ngựa lên tầng 6
nhưng khôngthể mang xuống nếu
không bắn nó. Có vẻ ngựa có thểlên
cầu thang nhưng không xuống được.
Trong những ngày đó, Khách sạn Strand Hotel là mộtnơi không người Bergen nào lui tới. Tương
tự, các nhânviên không dám nói
mình làm việc ở đó. Nhưng với
Nguyễn và gia đình, và những người tị nạn khác, kháchsạn tai tiếng đó được coi như thiên đường.“Bữa ăn đầu tiên của chúng tôi ở Na Uy chỉ
là bơ,một bữa tiệc hiếm hoi mà
chúng tôi chỉ có thể tưởngtượng
lúc ở Việt Nam, Nguyễn nói. Chúng tôi dự trữkhăn và xà phòng từ phòng của chúng tôi,
vì nghĩ sẽđến lúc cần trong cuộc
chiến sắp tới. Cha mẹ tôi luônlặp
lại, khi chúng tôi đã đến Na Uy, không phải rằngchiến tranh có xảy ra không mà là khi nào
xảy ra.Chúng tôi không có bất cứ trải nghiệm nào ngoài chiếntranh.
Trung điểm. Nguyễn Ngọc Dũng
từ một thuyến nhân tị nạn ở khách sạn Strand Hotel, trở thành một
nhà tư vấn cho chính
khách sạn đó và 400 khách sạn khác. Trong hình
này Dũng cùng đi với người sáng lập khách sạn Falch Erling Monsen
(bên trái)
và Giám đốc khách sạn của
Dũng, Asle Prestegard.
Bị xích trong ba tuần. Quả là một con đường dài, kểtừ khi ở Việt Nam lúc Nguyễn và em trai bị
xích vàomột chiếc bàn trong ba
tuần bởi gia đình để giữ bí mật. Kế hoạch vượt biên, cho đến khi họ
đến nơi tiếp đón ở khách sạn Strand Hotel. Ngày nay Nguyễn ngồi dự
một cuộc họp về thương mại ở Strand Hotel với Erling Falch Monsen,
người chủ khách sạn, người quản lý khách sạn và bên phải là Asle
Prestegard. “Nhờ có d2o, công cụ điều hành của công ty của Nguyễn,
chúng tôi có thể ngồi bất cứ đâu trên thế giới xem tổng quan về hoạt
động của các khách sạn của
chúng tôi, ngay cả đến năng suất của từng nhân viên.”Prestegard nói. “Công cụ này có thể giúp
chúng tôi pháttriển từ 1 đến 3
khách sạn với cùng một đội ngũ quản lý
như trước”.
Trong năm 2008, Tập đoàn Bergen Hotel
Group, doFalch Monsen phụ trách,
trở thành khách hàng của côngty
của Nguyễn, sử dụng công cụ d2o. Cùng năm, tậpđoàn khách sạn mở rộng và tiếp quản khách
sạn StrandHotel, nơi trú ngụ cũ
cho thuyền nhân mà Nguyễn đã ở.
Nguyễn sáng tạo d2o để phát triển công cụ điều hànhcho kỹ nghệ khách sạn. Ngày nay, d2o được
sử dụngbởi 60% thị trường khách
sạn của Na Uy. Nguyễn khởinghiệp
công ty vào năm 2000 với chỉ tiền vốn 10.000đô la, từ chỗ tài khoản trống rỗng trong
ngân hàng trongnăm hoạt động đầu
tiên, nay trở thành một cỗ máy kiếm
tiền kỳ diệu. Đây là một thay đổi lớn trái ngược vớicuộc họp mặt khách hàng đầu tiên ở
Copenhagen củaNguyễn khi anh đi phà đến Đan Mạch chỉ tốn 1 đô la đểtiết kiệm tiền. Gấp đôi với công cụ điều
hành d2o. “Bạn đang ở vị trírất
tốt so với ngân sách của mình, mặc dù chiều hướngđại thể như năm trước” Nguyễn giải thích
trong cuộc họp với Prestegard. “Bạn có thể kiếm lợi nhanh
chóng hơn từ ngân sách của mình.”
Được
giải cứu. Được tàu chở dầu "Fernbrook" của Na Uy vớt sau hai đêm và
hai ngày rưỡi trên biển. Nguyễn thò đầu ra
ngoài buồng lái của
chiếc thuyền vượt biên đã cạn đồ ăn uống và nhiên liệu, lúc đó em
mới 7 tuổi.
Photo:
Private
Giám đốc khách sạn Prestegard quay người một chút trên ghế, trong
khi ông chủ khách sạn Falch Monsen chồm về phía trước bàn. “Có thể
cảm thấy cần kìm lại một chút,” Prestegard nói. “Ông nên bảo đảm một
phần thưởng lớn hơn”, Falch Monsen trả lời. Falch Monsen, Prestegard
và Nguyễn di chuyển từ phòng tiếp tân của khách sạn Strand Hotel đến
phòng họp công ty của anh ở Scandic Bergen City. FalchMonsen đã mua
Scandic Bergen City vào năm 1976 khi ông còn là người phục vụ quầy
rượu ở khách sạn Norge, mua một tòa chung cư với 64 căn hộ và 7 nhà
kho với giá 230 ngàn đô la. Chẳng bao lâu sau việc mua này ông đã
phải bán căn hộ chung cư cao cấp và chuyển về một căn hộ nhỏ với vợ
và các con để tránh phá sản. Tài khoản ngân hang của ông thường
xuyên trống rỗng đến nỗi ông bắt đầu bóc các con tem không đóng dấu
trên các thư đến, để bảo đảm ông có bưu phí cho các hóa đơn được gởi
đi. Ông tiếp tục làm như thế, mặc dù ông đã có lợi nhuận 4,3 triệu
đô la năm ngoái. “Công cụ điều hành của d2o đã là một phần quan
trọng trong thành công của chúng tôi khi chúng tôi tăng gấp đôi việc
kinh doanh sau khi chúng tôi tiếp nhận hoạt động của Neptune Hotel
và Strand Hotel trong năm 2008.” Falch Monsen nói. “Hệ thống cung
cấp một cái nhìn tổng quan hàng ngày trong toàn bộ hoạt động của
chúng tôi từ những gì chúng tôi bán trong quầy bar cho đến giá trị
công lao động theo giờ.” một giá cả hợp lý.”Mặc cả không ngừng.
Giám đốc khách sạn Prestegard lại quay người trên ghế. Ông
nghĩ ông đã tán dương đủ hệ thống quản lý của d2o. Ông dự định bắt
đầu mặc cả với Nguyễn sớm để mua một giấy phép gia hạn. Prestegard
nhận xét, “Đó là một công cụ đắt giá, và việc huấn luyện cũng đắt,
nhưng chúng tôi đã đạt đến. Prestegard là người lớn nhất trong ba
anh em, tất cả đều là người điều hành khách sạn, tất cả đều là khách
hàng của Nguyễn, và tất cả bọn họ đều mặc cả về giá, bất kể những đề
nghị họ nhận được. “Chúng tôi có hơn 400 khách hàng khách sạn, nhưng
tôi có thể thành thật nói rằng chỉ có anh em nhà Prestegard mặc cả
về giá mỗi khi họ nhận được một đề nghị, ngay cả sau các cuộc đàm
phán.” Đắt tiền hay không. Chắc chắn không còn nghi ngờ rằng d2o
đang lớn lên. Năm ngoái công ty đã đạt được lợi nhuận trước thuế 1,2
triệu đô la, doanh thu 3,2 triệu đô la, co1 được mức lợi nhuận 38%.
Và sự tăng trưởng còn tiếp tục trong năm nay. Nhưng những con số này
là quá nhỏ so với những gì được mong đợi nếu tất cả tiến hành thuận
lợi theo kế hoạch của Nguyễn.
Gia đình.
Cha mẹ của Dũng, bà nội và bốn anh em chụp hình ở Bergen khoảng gần
một năm sau khi đến Na Uy.
Dũng là bé trai lớn nhất mặc sơ mi màu xanh,
với em trai bên cạnh. Bà nội sống đến 107 tuổi. Cha vẫn còn sống.
•
Công ty D2o được thành lập vào năm 2000 bởi
Nguyễn Ngọc Dũng, với sự hỗ trợ của Otto
Lekven và người em Nguyễn Ngọc Hoàng, với sự chuyên
môn hóa rong công cụ quản lý và tư vấn
thương mại cho công nghệ khách sạn.
• Chiếm phần điều hành 60% của
toàn bộ số phòng trong khách sạn Na Uy, với sự hỗ trợ
của phần mềm PMI (thể hiện, điều hành, thông
minh).
• Năm ngoái đạt kết quả lợi
nhuận 1,5 triệu trên doanh thu 3,2 triệu.
• Đã có công ty Gazelle Company
4 năm liên tiếp.
• Hiện nay mở rộng từ Bắc
Âu sang thị trường Mỹ, với kế hoạch hàng năm đạt doanh thu 40
triệu đô la chỉ ở
Mỹ
trong thời hạn 5 năm.
Mơ về
chuỗi khách sạn. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn phát triển hệ
thống cắt giảm chi phí và tăng năng suất trong công nghệ khách sạn.
Trong lễ Giáng Sinh, anh đã từng chỉ nhận được một gói khoai tây
chiên nhỏ. “Phải mất vài năm ở Na Uy chúng tôi mới bắt đầu mừng lễ
Giáng Sinh”, Nguyễn nói. “Để mừng Giáng Sinh, mẹ tôi luôn luôn mua
một gói lớn khoai tây chiên giòn, chia làm 6 phần, và để mỗi gói cho
mỗi đứa con dưới cây Giáng Sinh. Mặc dù chúng tôi đã biết đó là cái
gì, chúng tôi cũng nhảy lên vui sướng vì chúng tôi chỉ được thưởng
thức món xa xỉ này mỗi năm một lần”. Ở Việt Nam, gia đình Nguyễn đã
mượn nửa ký vàng, loại vàng lá, để trả cho chuyến đi, bắt đầu từ đêm
2 tháng 4 năm 1978 và chấm dứt vài ngày sau khi được một chiếc tàu
dầu Na Uy vớt trong vùng biển Nam Trung Hoa. Ở Na Uy, cha anh tiếp
tục tích trữ vàng, ngay cả khi đã trả hết nợ, vì sợ một cuộc chiến
trong tương lai sẽ làm đồng tiền Na Uy mất giá, một kinh nghiệm họ
đã gánh chịu nhiều lần trước đây. Vàng được tích trữ để lo cho việc
học của các con có thể trong lãnh vực được ưa thích là y học và kỹ
thuật, đó là giấc mơ của cha mẹ anh. Nhưng Nguyễn đã theo một con
đường khác. Ở tuổi 14, Nguyễn đọc một bài báo nói rằng khách sạn ở
châu Á sẽ là một công nghệ phát triển trong tương lai, và từ đó anh
mơ đến việc sẽ bắt đầu chuỗi khách sạn của riêng mình.
"Chúng tôi đưa khoa học
điều hành khách sạn lên một tầm mức tổng thể mới đi vào chi tiết"
Nguyễn Ngọc Dũng
Muốn chinh phục thế giới. Trong thời hạn 5 năm chúng tôi sẽ đạt
doanh thu đến 30 triệu đô la hằng năm, nhưng điều đó chỉ có thể làm
được ở Mỹ,” Nguyễn nói. Thời gian trôi qua khi Nguyễn, một người
Việt Nam, với bề ngoài trẻ trung, tên là Dũng, mang kính trắng để
trông có vẻ chín chắn hơn. Đây là lúc anh du hành qua hệ thống công
nghệ khách sạn để tung ra công cụ quản lý mới của mình nhưng khó có
ai nhận ra họ cần đến nó. Bây giờ, sau mười năm, thị trường Bắc Âu
đã trở nên quá nhỏ, và là lúc chín muồi để chinh phục thế giới và
thực hiện giấc mơ Mỹ. Đó là tất cả chiến lược của Nguyễn để đạt đến
mục đích đầu tiên sở hữu chuỗi khách sạn của riêng mình. “Nếu chúng
tôi đạt được giải pháp của chúng tôi đối với thị trường Mỹ, phần còn
lại của thế giới sẽ theo.” Nguyễn nói. Nguyễn đã nộp đơn xin thị
thực vào Mỹ, mua một căn nhà trong một cộng đồng dân cư gần một cái
hồ nhân tạo, và sẽ sớm sắp xếp lại toàn bộ hoạt động của mình, kể cả
lo cho người vợ Bỉ và hai đứa con, từ Asker đến Florida. Một khách
sạn Mỹ quan trọng đã sẵn sàng ký hợp đồng với d2o, nhưng Nguyễn hiểu
rằng thành công sắp tới ở thị trường hiếu khách của Mỹ không thể có
nếu anh không có mặt ở đó. Dù đã nghiên cứu kỹ, anh chưa tìm thấy
một đối thủ cạnh tranh thực sự ở Mỹ. “Chúng tôi đưa khoa học điều
hành khách sạn lên một tầm mức tổng thể mới đi vào chi tiết.” Nguyễn
nói. “Theo truyền thống, các khách sạn điều hành bằng cách sử dụng
ngân sách hàng năm với trách nhiệm được giao phó. Tiến trình của
chúng tôi hệ thống hóa dự báo việc hàng ngày cho tất cả các bộ phận
quản lý tài sản, với đánh giá chi tiết chi phí mua sắm thực phẩm và
công lao động theo giờ được sử dụng. Với công cụ của chúng tôi, một
đầu bếp phải biết tại sao ông ta mua nhiều tôm hùm tươi hơn mức cần
thiết, và tại sao ông ta phải bán tôm hùm thượng hạng làm súp với
giá thấp hơn.” Bước tiếp theo là phát triển công cụ điều hành với
trí tuệ nhân tạo tích hợp có thể đảm nhận vai trò lãnh đạo tại một
khách sạn bằng cách cung cấp hướng dẫn liên tục về cách thức các nhà
quản lý bộ phận tương ứng có
thể học hỏi từ những sai lầm của họ. Khi người đầu bếp phải công bố
tình trạng các kết quả của ngày hôm qua, ông sẽ được đánh giá đối
chiếu với hiệu suất tốt nhất trong cơ sở dữ liệu, tiếp theo là lời
khuyên làm thế nào để ông ta có thể cải thiện.
Muốn
là người giỏi nhất. Nguyễn thỉnh thoảng xoa các quầng thâm dưới mắt
do các cuộc họp qua điện thoại ở tất cả các giờ, với những khách
hàng hoạt động ở các múi giờ khác nhau, xa nhất như Hawaii. Khi được
hỏi điều gì đã khiến anh làm như thế, anh trả lời rằng anh không
nghĩ về điều đó nhiều, vì anh không có sự đánh đổi. “Do quá trình
giáo dục và đào tạo của tôi, tôi không có cùng suy nghĩ như một
người Na Uy bình thường.” Nguyễn nói. “Tôi không nghĩ về việc tại
sao tôi nên ngồi nhiều hơn ở cabin.
Tôi muốn thành công. Tôi muốn là người giỏi nhất”.
Giấc mơ về chuỗi khách sạn và d2o ở đâu trong 1 năm tới?“Tôi hình dung d2o sẽ được bán trong 10
năm nữa”Nguyễn nói. “Chúng tôi
biết rằng công ty sẽ phát hiện
những khả năng thú vị, và chúng tôi sẽ cần vốn.Chúng tôi đã nhận được những đề nghị hấp
dẫn đểchia sẻ các dự án khách sạn,
nhưng trước hết chúng tôicần ưu
tiên cho việc đầu tư ở Mỹ.Như vậy
giấc mơ lớn của anh vẫn là sở hữu chuỗikhách sạn của riêng mình?“Giấc mơ của tôi là tiếp tục thành công
nhờ khả năngvà tài năng của mình”,
Nguyễn giải thích.Và lúc đó anh sẽ
là cái gì còn hơn là người tư vấn?
“Vâng, vì đó là bản chất của xã hội chúng ta. Tôikhông muốn nghĩ rằng đàn ông và phụ nữ
giàu là tốthơn, nhưng tôi phải
thừa nhận rằng họ có ảnh hưởnglớn
hơn trong xã hội. Tôi sẽ chơi đúng luật để đạt đếnđó, nhưng tôi sẽ dùng sức mạnh của mình
một cáchkhác.”
Nhìn lại. Nguyễn Ngọc Dũng sống với cha mẹ, bà nội và 4 em trong
phòng khách sạn này ở Strand Hotel ở Bergen sau
khi đến Na Uy năm
1978.
"Tôi có một nỗ lực bên
trong để chứng tỏ rằng tôi có thể đưa giấc mơ Mỹ vào văn hóa Na Uy "
Sau
hội nghị với khách hàng, Nguyễn đi trở lại phòng khách sạn ở Strand
Hotel nơi gia đình đã ở sau khi đến vào năm 1978. Anh đi bộ qua cửa
hàng bán đồ chơi nhỏ vẫn còn tồn tại, và nhớ có lần nó đã là một
công viên vui chơi như thế nào cho những đứa bé từng sống trong một
căn nhà làm bằng đất sét và tre, ban ngày giẫy cỏ cho cây lạc và ban
đêm cho súc vật ăn. Anh đi vào căn phòng khách sạn trống trên tầng
6. Anh nghĩ nó có vẻ nhỏ hơn khi anh ở đó với cha mẹ và. anh em. Anh
nhìn xuống chợ cá ở đó anh đã từng câu cá. “Chắc chắn chúng tôi sẽ
từ Mỹ trở lại Na Uy. Na Uy là nơi gần gũi nhất tôi có một quê hương.
Nhưng tôi vẫn luôn là quả chuối, như người ta vẫn gọi chúng tôi ở
Việt Nam.” Nguyễn giải thích. “Người châu Á ở bên ngoài, nhưng người
châu Âu ở bên trong.” Bất kể chúng tôi làm việc cực nhọc và học giỏi
ở trường như thế nào, những người châu Á chỉ là công dân hạng hai
trong xã hội này. Chúng tôi là bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học, và gì
nữa, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ ở giữa những người ăn anh đào
với thành phần ưu tú. Chúng tôi không sử dụng ngôn ngữ thực sự,
chúng tôi không có sự hiểu biết đầy đủ về văn hóa vì chúng tôi không
được tiếp nhận nó từ trong sữa mẹ. Cũng cần nhiều thời gian trước
khi những người Na Uy khác mời chúng tôi ăn tối. Chúng tôi luôn được
gọi bằng tên trong một môi trường người ta gọi bằng họ. Có lẽ không
phải chỉ vì tên chúng tôi khó phát âm. Chúng tôi sẽ luôn luôn dịch,
nhưng chúng tôi không có nơi nào để dịch. Chúng tôi ở trong một chốn
vắng. Nhưng tôi có một nỗ lực bên trong mình để chứng tỏ rằng tôi có
thể đưa giấc mơ Mỹ vào văn hóa Na Uy. Thông điệp của tôi cho thế hệ
thứ hai người Na Uy gốc Việt là họ không phải bằng lòng với việc trở
thành kỹ sư hay bác sĩ. Mơ ước của tôi là có được quyền lực và sử
dụng nó những cách khác nhau. Như Robin Hood.
Øystein Krogsrud và Eivind Senneset (photo), Bergen
Nghĩa tình cứu trợ của đồng hương người Việt tại
Oslo trong đêm nhạc VINOF 29.10.2010
Chiều
ngày 29.10.2010, khi màn đêm buông dần trên thủ đô
Oslo/Nauy. Trong cái tiết se lạnh, ẩm ướt của 1 ngày thứ bảy
cuối tháng 10 như báo hiệu 1 mùa đông khắc nghiệt hơn mọi
năm đang vội vã về.
Cách trung tâmOslo không xa, tại
địa bàn thuộc thị xã Linderud,
một đêm gặp gỡ do ban nhạc VINOF, thuộc Hội người Nauy gốc việt
đứng ra tổ chức trong tình bạn bè thân hữu. Quan khách và bạn bè
xa gần đã thông tin cho nhau về cuộc gặp gỡ này từ hơn 2-3 tuần
trước, cho nên số người tham dự đến khá đông. Thức ăn, nước uống, bia, rượu đỏ tự
mỗi người tham dự đem theo, tạo nên một bàn tiệc đủ các món ăn
thuần túy vn, thật thơm ngon và hấp dẫn. Từ sushi cho đến các
món như chè, xôi, gỏi,bún xào,thịt gà trộn lá cải v.v.. đều có
đủ cho những thực khách kiêng ăn nhất cũng phải phá lệ.
Trong lúc chương trình ca nhạc "sống" tự do lên
hát đang sôi động thì ban cứu trợ VINOF lên
trình bày dự án chiến dịch cứu trợ lũ lụt miền
Trung năm 2010 đến với quan khách. Anh Hữu Tú
(trưởng Ban cứu trợ VINOF), anh Nguyễn Quy (thủ
qũy) và anh Thanh Hiệp đã đứng lên tóm lược mục tiêu cuộc vận
động cứu trợ trên trang nhà vinof.no. Với khẩu
hiệu: "GÓP MỘT
BÀN TAY/GIR EN HÅND", cuộc quyên góp sẽ được
bắt đầu quảng bá rộng rãi trong 1 tháng, từ ngày
01.11 cho đến hết ngày 01.12.2010. Dù chỉ mới
thông báo cho mọi người biết thông tin chiến
dịch, nhưng sau đó một đôi vợ chồng tiểu thương
có mặt trong đêm nhạc, đã chính thức lên tiếng
xin được chia sẽ đóng góp cho đồng bào ruột thịt
tại quê nhà.
Từ một nghĩa tình như thế đã tạo nên nhịp đập
liên hoàn, rung cảm sang các tấm lòng yêu thương
khác một cách đến lạ lùng như ơn trên đã định
sẵn. Không đầy 10 phút, ban cứu trợ VINOF đã
nhận được
3005kroner tiền đóng góp. " Thật cảm
động đến rơi nước mắt, hôm nay ban cứu trợ VINOF
được nhân đôi niềm vui. Niềm vui cho mình và
niềm vui cho người". Một thành viên trong Ban
cứu trợ tâm sự với tôi.
Màn sổ xố được người tham dự hưởng ứng một cách
vui vẻ, thân tình. Phần thưởng là các chai rượu
vang đầy ý nghĩa cho quan khách khi mùa Noel
đang cận kề. Đi một vòng quanh, trao đổi ý kiến
với một vài người tham dự cho thấy, dường như ai
nấy cũng hài lòng với cách tổ chức những đêm
nhạc thân thiện và bình dân như vậy. Bình dân ở
đây người viết muốn ám chỉ đến nổ lực chiều lòng
người tham dự một cách dễ mến của anh em trong
ban nhạc VINOF. Có nghĩa rằng; mặc dầu bạn chưa
từng nắm vững nhạc lý hay kỹ thuật khi lên hát
nhạc sống, nhưng ban nhạc VINOF vẫn cố hòa âm để
bắt nhịp cho bạn hát cho trọn bài.
" Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi" một câu
nói mà người viết xin trao gởi đến toàn thể anh
em trong ban nhạc VINOF. Cám ơn anh em đã mang
lại cho người tham dự một niềm vui cuối tuần
thật vui, sau một tuần làm việc mệt nhọc.
Hoàng lâm
SÀI GÒN
BÂY GIỜ
Thiên Hương,2010
Tôi mới về thăm Sàigòn, mới trở về một
khung trời thân thương nhưng sao nhiều lúc thấy mình lạc lõng trước
những đổi thay và có những lúc thấy mình hoang mang. Dù không có dịp
đi nhiều, gặp gỡ nhiều, chỉ nhìn những gì đang diễn ra trước mắt,
tầm nhìn rất hạn hẹp nhưng cũng đủ để có những câu hỏi và những suy
tư.
Thành phố Sài gòn
bây giờ,
chụp từ trên cao, 07.2010
Tiền nhà đất ở Sài gòn mắc khủng
khiếp, mới vài năm giá đã vọt lên gấp mấy lần. Thiên hạ đổ xô mua
nhà ở những khu cao cấp, giá nhà cửa ở những khu này đụng tới là nói
đến hàng tỷ, những căn ở Phú gia lên đến vài triệu đô là chuyện
thường tình ở huyện. Mấy tháng gần đây, thiên hạ trúng cổ phần nên
lại càng chen nhau mua nhà và đẩy giá nhà đất ở những khu cao cấp
lên cao gấp năm bảy lần so với vài năm trước đây. Có gan làm giàu,
nên một số người cầm cố nhà cửa mua chứng khoán, trúng đậm và đẩy
giá nhà đất tăng vọt. Nhưng cũng có nhiều người tán gia bại sản vì
giá chứng khoán đi xuống.
Có căn nhà đường Đồng Khởi rao bán với
giá 1 tỉ đồng cho 1m2 (khoảng hơn 60 ngàn đô Mỹ một mét vuông). Nhìn
vào giá nhà đất cao hơn New York và Tokyo ắt hẳn thấy dân Việt nam
mình là dân giàu ... nhất thế giới.Có vẻ như là ai
dính vào nhà đất cũng giàu, vì thế quí vị quan viên chia nhau mua
đất ở những vùng xa xôi rồi vẽ lên một bản đồ qui hoạch, đưa đất của
mình vào những vùng trọng điểm, thế là thắng to, tiền lại đẻ ra
tiền. Nhưng cũng có những người mua nhà đất ở quận 2, khu sẽ xây
dựng trung tâm mới cho thành phố hay mua đất ở quận 7, quận 9 ở SG
hiện nay dở khóc dở cười vì không đuợc phép bán mà cũng không được
phép xây dựng, cứ treo đó để chờ … qui hoạch.
Nhịp độ xây dựng trong thành phố nhanh
đến chóng mặt, các khu cao ốc xây dựng khắp nơi giá vài trăm ngàn đô
một căn khá phổ biến. Nhưng cũng có những cao ốc xây dựng đã lâu vẫn
đìu hiu buồn tênh. Ba căn cao ốc Thuận Kiều ở Quận 5 cao ngất ngưởng
nhưng đến đêm lại tối thui đèn đóm vì không có người ở. Người dân ở
đây ví cao ốc này như ba cây nhang, vì bị một cái huông nào đó
nên chẳng mấy người mua hay thuê. Có lẽ vì đời sống quá chộn rộn nên
người dân bây giờ dựa vào bói toán và mê tín trong mọi việc.
Bởi vậy, với nhà đất, ai nổi thì cứ
nổi, ai chìm cũng cứ chìm, bảy nổi ba chìm chín cái lênh đênh ....
Các nơi ăn uống mọc lên tứ tung ở
Sàigòn. Nhiều khu ăn uống lớn như một khu công nghiệp. Vào các khu
Bình Quới, Thanh đa, các Làng Nướng, các khu ăn uống ở khắp nơi
trong thành phố thấy người ta ăn nhậu mà phát sợ. Các tiệm café
quanh hồ con Rùa luôn đầy ứ người, các tiệm café sân vườn, các quán
ca nhạc mở khắp nơi. Sàigòn càng ngày càng nhiều thêm các tiệm thẩm
mỹ và massages để phục vụ khách nước ngoài và Việt kiều. v.v… Nhìn
các cửa hiệu sầm uất quá sẽ thấy dân mình sao giờ giàu quá thể.
Nhưng nếu nghĩ một cửa tiệm như vậy chỉ có một ông chủ là giàu còn
bao nhiêu là nhân viên phục vụ mà các nhân viên phục vụ này đa số có
mức sống dưới trung bình. Mà đó còn là những người may mắn vì có
công việc thu nhập còn khá, còn biết bao nhiêu người bán rong ngoài
chợ, những người lao động chân chính, họ nghèo, rất nghèo ...
Mà còn rất nhiều người nghèo thật.
Trên các con đường vẫn còn cảnh các người bán rong trên phố chạy tơi
tả khi công an dẹp lòng lề đường. Những cô bé bưng những thau xôi
nhỏ, những người bán bún, bán trái cây vội vã chạy khi thấy bóng
công an từ xa. Nếu bị giam hàng, mất vài trăm ngàn tiền phạt, phải
vay nóng, số nợ cứ tăng lên, lãi mẹ đẻ lãi con lại ra bày hàng bán
với số thu nhập dưới trăm ngàn một ngày. Một bà bán trái cây than,
bà muốn mua vé số may ra trúng mà đổi đời chứ khổ quá, mà vé số cũng
mắc nên không dám mua.
Lúc mới 75, trong các lớp tập huấn
chính trị, các giảng viên chỉ trích chế độ cũ cho tổ chức cờ bạc
công khai trá hình dưới hình thức xổ số kiến thiết quốc gia vào thứ
ba mỗi tuần. Bây giờ thì hình như không tỉnh thành nào không có xổ
số. Một ngày xổ số không biết đến mấy lần nữa. Nhưng nhờ vậy mà cũng
giúp được một lực lượng đông đảo những người bán vé số. Trong số
những người bán vé số này có cả những cụ già lọm khọm, những người
ngồi trên xe lăn, chống nạng và rất nhiều những đứa bé chỉ trên dưới
mười tuổi…
Số lượng taxi ở Sàigòn cũng gia tăng
rất nhanh. Cả chục hãng taxi cạnh tranh nhau cùng với các taxi ngoài
luồng. Thường người ta vẫn thích đi taxi của các hãng vì đồng hồ
chạy giờ được tin tưởng hơn. Rất nhiều người lái taxi từ các tỉnh
thành, vùng quê khác đến. Trong các nhà hàng, các tiệm cũng vậy.
Thanh niên và các lao động chính trong gia đình có khuynh hướng rời
thôn quê đổ về các thành phố lớn nơi có nhiều cơ hội kiếm sống hơn.
Như vậy lấy ai xây dựng nông thôn? Những người sống ở quê trông vào
tiền gửi về của người thân làm ở thành phố. Những người này thường
sống thành nhóm, chia phòng ở và dành dụm gửi tiền về nuôi gia đình
ở quê, có người cả mấy năm không thể về thăm nhà. Như thế, cuộc sống
kinh tế của gia đình họ khá hơn, nhưng về tinh thần sẽ ra sao khi
gia đình chẳng được niềm vui sum họp.
Thành phố Sài
gòn bây giờ (Quận 1)
Có những người ở quê giàu lên nhờ cứ
cắt đất ra mà bán dần, tiêu xài thoải mái, xây nhà, mua xe, mua máy
móc, chưng diện, v.v... Nhưng rồi họ sẽ tiến tới đâu khi không còn
đất để bán và các món tiền này cũng hết đi. Tôi có dịp về thăm một
lô đất của người bạn ở vùng ven Sàigòn, cũng mừng vì những ngôi nhà
nhỏ trên những lô đất gần đấy đã có vẻ bớt rách nát. Những người
sống ở đó giờ đây ăn mặc cũng khá tươm tất, đã có da có thịt không
gầy gò như vài năm trước. Nhưng hỏi ra mới biết lao động chính trong
gia đình là những đứa bé 5, 7 tuổi. Tối tối các cô cậu bé tí này đi
trộm mủ cao su ở những rừng cao su gần đó đem về cho cha mẹ bán. Đời
sống gia đình nhờ thế mà khá lên. Căn bản không có, cái gốc không
có, cái ngọn sẽ tươi được bao lâu?
Rất nhiều cửa hàng ở Sàigòn thấy mở cả
ngày mà số lượng bán buôn thật ít ỏi. Giá thuê mặt bằng lại quá mắc,
rồi rất nhiều chi phí khác sẽ khiến cho các chủ cửa hàng này cầm cự
được bao lâu. Hiện nay các siêu thị, các cửa hàng tổng hợp bắt đầu
mọc lên như nấm. Vào các cửa hàng này không sợ mua hớ, chất lượng
cũng đảm bảo hơn nên sẽ là một mối đe dọa lớn cho các tay buôn và
cửa hiệu nhỏ. Có lẽ vì thế nên dạo này giá nhà mặt tiền đã hơi chựng
xuống. Vào các quán ca nhạc, một vài quán đông khách, nhưng cũng có
những quán vào các tối trong tuần số khách loe hoe đếm trên đầu ngón
tay, tiền sở hụi nặng quá các người chủ sẽ chống chỏi được bao lâu.
Có
những người đang giàu và sẽ giàu mãi lên nhưng với đa số dân, đời
sống kinh tế chật vật, bảo hiểm y tế không có, nếu gặp một biến cố
nào, khi đau ốm cuộc sống gia đình sẽ ra sao. Đi vào một tiệm gội
đầu, nhìn các cô gái gội đầu và massages cho khách mà thấy ngậm
ngùi. Gương mặt các cô cúi xuống, những ngón tay nhỏ bé nắn bóp
những cánh tay to lớn của những người khách ngoại quốc, cam chịu đến
não lòng.
Thành phố càng ngày càng đông, sức
sống ngần ngật nhưng có vẻ như quá tải. Nhịp độ tăng trưởng quá
nhanh nhưng không cân xứng. Các cửa hàng dịch vụ, nhà hàng, các khu
ăn chơi mọc lên như nấm nhưng con số các trường công lập, các nhà
thương công hình như không nhiều thay đổi. Nhiều người giàu quá giàu
nhưng vẫn rất nhiều người còn quá nghèo. Cái giàu lộ rõ, cái nghèo
chìm hơn nhưng mênh mang như những tiếng thở dài.
Sài gòn bây giờ càng ngày càng muôn
mặt, nhưng buổi sáng vẫn rộn rã với hình ảnh các học sinh, sinh viên
mắt sáng trong tươi vui đến lớp, hàng đoàn người xe tấp nập, và …
những chùm phượng đỏ đã bắt đầu nở trên cao, những cành hoa điệp vẫn
còn vàng óng và một số đường phố vẫn rợp bóng lá me xanh. Cuộc sống
vẫn còn đầy niềm tin và hi vọng, có đúng không…?
Công
việc lạc quyên để cứu trợ đồng bào bị nạn
bảo lụt ở miền Trung Việt Nam, sẽ
không được nhiều người biết đến, nếu không có những tờ giấy dán tại các cửa
tiệm bán thực phẩm của người Việt tại trung tâm Oslo.
Thứ bảy
21.11.2009 cũng là ngày đẹp trời, so với những ngày trước đó, vì không
tuyết, không mưa và nhiệt độ tương đối cũng ấm. Người đến dự buổi văn nghệ
lạc quyên cảm thấy ấm hơn, sau khi đi nhiều bậc tam cấp để xuống dưới tầng
hầm cuối cùng của nhà thờ mang tên St. Magnus Katolske Menighet, tại
Romeriksgata 1, 2003 Lillestrøm. Không khí thêm ấm cúng vì cách trang hoàng
tại đia điểm này. Hai lá cờ Việt Nam và Na Uy được phủ dọc hai cột trước sấn
khấu. Huy hiệu của VINOF, càng nhìn người xem càng thấy ý nghĩa đặc biệt của
nó.
Duy chỉ
có một hai điều hơi trục trặc trong chương trình. Không chào cờ Na Uy. Ðể
tôn trọng quy định của nhà thờ (đang diễn ra cuộc lễ ở tầng lầu trên cùng),
việc trình chiếu video clip hơi lâu và việc anh Hội trưởng hội Vinof nói lời
khai mạc, như để trám vào thời gian chết đó. Tuy nhiên, nội dung của bài nói
chuyện có lẽ đã đem đến sự thông cảm nơi mọi người. Mọi việc đều là ”cây nhà
lá vườn” …và chỉ có mỗi mục đích là chia xẻ những khốn khó của đồng bào ruột
thịt tại quê nhà.
Không
khí náo nhiệt, ấm cúng hơn nơi phần văn nghệ của ban nhac. Họ không hát
karaoke bằng máy video như thường lê. Ban văn nghệ chơi nhạc cụ như tất cả
các ban nhạc chuyên nghiệp khác....và chơi có rất có hồn, rất sống động. Có
lẽ vì vậy mọi người hay gọi lối chơi nhạc như vầy là chơi "nhạc sống"
chăng?!... Phần khán giả, họ hăng hái tham gia việc ca hát. Và phần disco
vào phần cuối chương trình có lẽ làm những người tham dự quên đi cái lạnh ở
bên ngoài.Những người lớn tuổi ra về sớm hơn. Thanh niên kéo dài cuộc vui
lâu hơn, quá giờ ấn định của chương trình là 12:00 khuya. Ngày mai, chủ
nhât. Chắc không mấy ai trong nhóm thanh niên dự chơi buổi văn nghệ sẽ phải
thức sớm như thường lệ. Hy vọng trong những lần tổ chức văn nghệ sắp đến,
giới trẻ sẽ thật sự vui thích với chương trình như thế.
Tổng kết
sơ khởi được loan báo tại chổ, cho biết tổng số tiền thu được có thể lên đến
20.000 Kr (nói có thể, vì trong thư mời đã nói rõ là, tiền bán thức ăn, nước
uống sẽ được đưa vào số tiền cứu trợ, sau khi khấu trừ việc mua nguyên, vật
liệu; và việc khấu trừ sẽ được ban ẩm thực cho biết trong vài ngày sau).
kết qủa lạc quyên
trong "Đêm nhạc thính phòng cứu trợ bảo lụt miền trung", thứ bảy 21.11.2009.
Sau buổi
văn nghệ cứu trợ, điều làm mọi người cảm thấy có thể nói là hài lòng và vui
vẻ là: Tuy số người tham dự không đông lắm, nhưng tình cảm dành cho đồng bào
tại quê nhà khá lớn, qua số tiền đóng góp đó và qua số tiền của những người,
tuy không đến được, nhưng đã gửi đến trương mục của Hội một số tiền đáng kể.
er en av de ti vinnerne av årets Top10-kåring, 2008
Hardt arbeid er
veien til topps
Det finnes
ikke én enkel vei til suksess i Norge. Men
viljen til å arbeide hardt og målbevisst er
viktig for å lykkes. Spesielt for minoriteter.
I 1982 kjempet Hiep Hoang
(44) for livet på en båt i Sør-Kina havet. Den 18 år gamle
gutten flyktet fra hjemlandet sitt Vietnam og ble plukket opp av en
norsk båt. Etter ti måneder i en flyktningeleir kom han til sitt nye
hjemland i nord.
Finans
Direktør/CFO, Apply AS (oil & gas)
“Som innvandrer har han klart å oppnå høy status og har hatt flere
høye lederstillinger i store organisasjoner, noe som er et sjeldent
fenomen.”
27 år senere er Hiep Hoang
finansdirektør i oljeservices-konsernet Apply og har hatt
lederjobber i ulike firmaer gjennom årene.
–Årene i Norge har vært som en
reise med både oppturer og nedturer. Som for alle andre innvandrere
har det for meg vært mye jobbing og hard satsing for å komme,
forteller Hoang.
Han har vært bevisst på å
arbeide hardt og satse på det han er god i.
–Å tørre å følge min egen vei
har vært viktig, dessuten å satse på «beste kvalitet» istedenfor
«det er bra nok».
Akseptere rammene.
Hiep Hoang synes det er viktig
å formidle at det også gjelder å akseptere de rammene man har, bruke
de kortene man får utdelt, uten å bli frustrert.
–Som innvandrere må vi
akseptere at kravene er høyere, og vi må prestere og levere enda
bedre enn andre. Innvandrere må ta ekstra initiativ, eller finne
andre måter for å komme innenfor og bli akseptert.
Her er Top 10
innvandrere i 2008
De
vinnere for 2008 er:
1.
Florentina Harbo Moldova 31 år, kom til Norge i
2005
2. Olga
Holter Russland 42 år, kom til Norge i 1993
3. Nalan
Koc Tyrkia 46 år, kom til Norge i 1985
4.
Veronica Morino Italia 35 år, kom til Norge i
1998
5. Xiuhua
Zhang Kina 51 år, kom til Norge i 1997
6. Thomas
Anglero USA 42 år, kom til Norge i 1996
7. Senaid
Kobilica Bosnia-Herzegovina 34 år, kom til Norge
i 1999
8. Hiep
Hoang Vietnam 44 år, kom til Norge i 1982
9. Ranjith
Molegoda Sri Lanka 49 år, kom til Norge i 1984
10. Khalid
Salimi Pakistan 54 år, kom til Norge i 1976
Målsettingen med Top 10 er å synliggjøre
positive rollemodeller med internasjonal
bakgrunn. Vi belyser den faktiske kompetansen og
engasjementet som finnes hos internasjonale
kvinner og menn i Norge. Gjennom å løfte frem
personer som har lykkes i å integrere seg i det
norske arbeidsmarkedet ønsker vi å inspirere, og
å bidra til å fremme multikultur og
internasjonalisme, toleranse og integrasjon i
det norske samfunnet, sier Lisa Cooper, daglig
Leder, Leadership Foundation står bak kåringen.
Dr. Phuong Ngoc Nguyen er en
av de ti vinnerne av årets Top10-kåring, 2005
Dr. Phuong Ngoc Nguyen
Fastlege,
spesialist i allmennmedisin og universitetslektor. Phuong er 55 år,
og har vært i Norge i 30 år.
Han
var med i den første puljen vietnamesiske båtflyktninger som kom til
Norge i 1975. Phuong hadde da kun en plastpose med skjorte og bukse,
og er i dag etablert som lege og universitetslektor. Han har
engasjert seg mye i arbeidet for flyktninger, først gjennom
Flyktningehjelpen og seinere som leder av Grønland helsesenter og
fastlegeordningen, der han nå har 65 % pasienter med
minoritetsbakgrunn.
Av ikke-vestlige innvandrere er
vietnameserne blant dem som har klart seg best i Norge. Hva kan det
skyldes?
En kald høstdag for temmelig
nøyaktig 30 år siden landet det første flyet med vietnamesiske
båtflyktninger på Værnes lufthavn i Trøndelag. De var tjue i tallet:
barn, foreldre, noen enslige ungdommer – alle i tynne bomullsklær og
nesten uten bagasje.
Noen uker seinere landet et nytt fly, denne gangen med seksti om
bord. I løpet av noen få år skulle 500 vietnamesiske båtflyktninger
finne nytt hjem i Trondheim. Det var neppe vinterkalde Norge de
hadde sett for seg som framtidig fedreland, alle disse som la ut på
åpent hav i små båter. Men til Trondheim kom de, og i Trondheim har
de blitt, svært mange av dem. I dag bor rundt 900 personer med
vietnamesisk bakgrunn i Trondheim. På landsbasis er de nærmere 20
000. Og skal vi tro statistikkene, er det få med ikke-vestlig
bakgrunn som har klart seg så bra som nettopp vietnameserne. I
Trondheim som ellers i landet.
Hva var det mottaksapparatet
gjorde den gangen, som åpenbart må ha vært riktig?
Eller kanskje vi heller bør spørre: Hva er det vietnameserne selv
har gjort?
Usedvanlig
fleksible
Blant dem som ventet i ankomsthallen denne oktoberdagen i 1979, var
en ung sosionom ved navn
Berit Berg.
Hennes samlede arbeidserfaring var fjorten dagers fartstid ved
Flyktningerådets nyopprettede kontor i Trondheim.
– Vi hadde et budsjett, noen
leiligheter, plenty idealisme og masse god vilje. For øvrig hadde vi
ikke særlig peiling, medgir hun.
I dag er Berg avdelingsleder
ved NTNU Samfunnsforskning, Senter for mangfold og inkludering. Og
etter 30 år med flyktninger og innvandrere som arbeidsfelt har hun
særdeles god peiling:
– Sett med norske øyne, kan vi godt kalle vietnameserne i Trondheim
en suksess. Men den handler ikke mye om hva vi gjorde. Årsakene
ligger definitivt i vietnameserne selv!
De har vært usedvanlig fleksible og tilpasningsdyktige. De ville bli
integrert. De ville være en del av «den norske harmonien». Og
kanskje de i større grad enn andre har vært villig til å ta imot det
de fikk, og godta ordningene slik de var.
– Men om vi ser prosessen som en samhandling, er det opplagt at
deres inviterende, ikke-konfronterende væremåte, og deres
arbeidsomhet, også har passet oss nordmenn svært godt, slår
forskeren fast.
Hjemme er
Norge
I mai ga Berit Berg og Kirsten Lauritsen (førstelektor ved Høgskolen
i Nord-Trøndelag) ut boka
Eksil og livsløp.
Her har de intervjuet flyktninger som kom fra Chile, Vietnam, Iran
og Somalia i årene mellom seint 1970-tall og tidlig 1990-tall. De
har også snakket med andregenerasjonen: de som kom som småbarn,
eller som er født her.
Undersøkelsen bekrefter at vietnameserne på flere områder skiller
seg ut fra de andre nasjonalitetene, blant annet ved å betrakte
Norge som «hjemme». Vietnam er nok «hjemlandet» – man savner det,
man drar kanskje på ferie dit. Men man vender ikke tilbake. Hjemme,
det er her.
– Det har selvfølgelig å gjøre med at de har vært her lenge. Men
også med at de tidlig innså at de antagelig aldri kunne vende
tilbake. En slik erkjennelse gir en helt annen motivasjon for
integrering, sier Berg. – Chilenerne, for eksempel, som kom omtrent
samtidig, hadde en mye sterkere idé om at eksilet var høyst
midlertidig. De skulle snart hjem igjen, trodde de, og hadde derfor
på langt nær samme motivasjon for å bli integrert.
– Mer enn kanskje noen annen flyktninggruppe har vietnameserne vært
opptatt av å skaffe seg et liv her og bruke de mulighetene som
fantes her. De har møtt utfordringene, brettet opp ermene, stått i
tungt arbeid. Uten å la seg knekke, men også uten åpne
konfrontasjoner. Men i det stille har de gjennomført en revolusjon:
Ingen andre, nordmenn inkludert, har så skoleflinke og så høyt
utdannede sønner og døtre!
Utdanningsrevolusjonen
Av de første 80 båtflyktningene Berit Berg tok imot, var det to–tre
som hadde en eller annen form for utdanning. De fleste var fiskere
og hjemmearbeidende med gjennomsnittlig fem års grunnskole. Seinere
kom folk med mer skolegang, men i den eldre generasjonen er
utdanningsnivået jevnt over lavt.
Med ungene deres forholder det
seg oppsiktsvekkende annerledes: Ikke bare får de best karakterer av
alle i videregående skole (så vidt slått av srilankerne). De tar
også høyere utdanning i mye større grad enn befolkningen som helhet
gjør. Jenter som gutter.
Foto: Thor Nielsen
– Mor og far har jobbet for
oss!
Foreldrene mine ville aller helst at jeg skulle bli
ingeniør.
Det sier Vu Lâm fra Haugesund. Han kom til Norge i 1985,
fire måneder gammel, og er sønn av foreldre som selv hadde
høyskoleutdanning fra hjemlandet.
– Det ville nok vært greit om jeg hadde blitt noe annet
også, men de var tydelige på at jeg minst måtte skaffe meg
en bachelorgrad, sier han.
Vu mener at vietnamesiske foreldre er svært opptatt av at
barna skal ta høyere utdannelse.
– De jobber hardt og legger alt til rette for at vi skal få
det. For eksempel har mine foreldre aldri villet at jeg
skulle ta meg deltidsjobb. Jeg skulle konsentrere meg om
skole og studier, mens de tok seg av finansene.
Lise Vy Quyên Vu studerer til bioingeniør ved Høgskolen i
Sør-Trøndelag. Hennes foreldre tilhører den aller første
gruppen båtflyktninger som kom til Trondheim, i 1979. De tok
selv videregående skole og yrkesutdanning her, begge to.
Lise har samme inntrykk som Vu:
– Noen foreldre presser kanskje hardt på. Men de er veldig
opptatt av at vi skal benytte de mulighetene som finnes, og
få en lysere framtid enn de selv hadde.
Lise og Vu er henholdsvis leder og nestleder i den
vietnamesiske studentforeningen i Trondheim. Den ble
opprettet for mange år siden, da de første vietnamesiske
studentene kunne mindre norsk og hadde færre norske venner.
Nå er vietnamesisk ungdom mer og mer sammen med norsk
ungdom, men foreningen har fortsatt en sosial funksjon og er
et sted der man kan ta vare på sin «vietnamesiskhet».
– Foreldrene mine er veldig glad for at jeg er med der. Jeg
synes også selv det er en fordel å beholde en fot i den
vietnamesiske tradisjonen, sier Lise. – Vi merker for
eksempel at de som nå henger mest sammen med norske venner,
har begynt å snakke dårligere vietnamesisk.
– Men hvis vi sammenlikner unge vietnamesere i Norge og
andre land, er fortsatt de norske mye flinkere, presiserer
Vu.
«Vi har ennå ikke vært villige til å
tilby førstegenerasjonen jobb eller god nok norskopplæring.».Berit
Berg, NTNU Samfunnsforskning.
Til å begynne med var det
statusyrkene ingeniør, lege og jurist som toppet statistikken. Nå
velger de unge vietnameserne mer etter interesser og forutsetninger,
og vi finner andregenerasjonen i alle fag og retninger på
universiteter og høgskoler.
– Vi har sett en inspirasjon
og en motivering – og sikkert også et press – fra
foreldregenerasjonen, som vi knapt finner i andre innvandrergrupper,
sier Berg.
– Riktignok har utdanning alltid hatt høy status i Vietnam.
Flyktningene innså straks hvilke muligheter barna deres fikk i
Norge. Men dette er foreldre som selv har manglet både skole og
norskkunnskaper og kjennskap til det norske utdanningssystemet. De
færreste har kunnet følge opp barnas skolegang på samme måte som
norske foreldre. Likevel har de sørget for at ungene gjennomfører,
det er en enorm innsats! At også jentene har blitt så oppmuntret, er
spesielt gledelig.
Fredelig
kriminalitet
En av de få statistikkene hvor vietnameserne likevel ikke kommer
utpreget heldig ut, er kriminalstatistikken. Antall straffedømte er
over landsgjennomsnittet og på linje med gjennomsnittet for
ikke-vestlige innvandrere. De fleste dommene gjelder vinnings-,
narkotika- eller trafikk-kriminalitet.Til gjengjeld er det ingen
gruppe som er så lite utsatt for tyveri, skadeverk, vold og trusler
som vietnameserne. Politistasjonssjef Ove Sem ved Sentrum
politistasjon i Trondheim har kontakt med ulike innvandrergrupper,
og vet vanligvis hvem som steller med hva. Han kan fornøyd slå fast
at trondheimsstatistikken trolig er bedre enn landsstatistikken:
– Siden 2002 har vi i Sør-Trøndelag politidistrikt hatt bare 25
rettskraftige dommer mot personer født i Vietnam, forteller han. (Én
person kan ha flere dommer på seg, antall lovbrytere er derfor
lavere.)
Det er ikke mye. Og tallene blir bedre år for år. – Det er ikke ofte
vi ser vietnamesiske navn på listene våre i dag. I fjor ble det
avsagt bare én dom, sier Sem. Politistasjonssjefen bekrefter at det
stort sett er i narkotika- og vinningssaker vietnameserne opptrer. I
voldssaker er de så godt som fraværende. – Vi har hatt to
voldsdommer i løpet av disse snart sju årene, og jeg kan ikke komme
på ett eneste tilfelle av gjengslagsmål her i byen, sier han. Ove
Sem vil nødig komme med bastante forklaringsmodeller, men tror det
kan henge sammen med minst tre forhold:
– For det første er mange av
dem buddhister; det er jo en fredelig religion. For det andre ferdes
de i liten grad der volden utøves. De driver ikke gatelangs i
Midtbyen natt til lørdag og søndag, som andre grupperinger gjør. Og
for det tredje er mitt inntrykk at de er bedre integrert enn andre
ikke-vestlige innvandrere. Det samme gjelder for øvrig kinesere,
indere og srilankere; vi har nesten aldri problemer med dem heller.
Forblir
vietnamesere
Om vietnameserne aldri så mye erklærer Norge som «hjemme» og må sies
å være usedvanlig godt integrert: De er og blir vietnamesere.
– Det handler om tankegang og innstilling, sier Berg. – Mine
informanter sier selv at når det gjelder ting som nærhet,
fortrolighet og det å dele bekymringer, går de helst til sine egne –
slik vi selv gjør. Og de gifter seg helst med sine egne. Men ellers
sier de at de plukker det beste fra begge kulturer.
Velferd, likestilling og åpenhet fra oss, høflighet og respekt fra
sin egen kultur. Men de synes nok at nordmenn oppfatter dem nokså
unyansert. Og selvsagt er ikke historien om vietnamesere i Norge
bare solskinn. Berit Berg er snar med å påpeke:
– Jeg har opplevd nordmenns skepsis. Jeg har opplevd tynn og elendig
organisert morsmålsundervisning. Og vi har ennå ikke vært villige
til å tilby førstegenerasjonen jobb eller god nok norskopplæring!
De
viktigste grepene
Blant de gruppene som klarer seg dårligst i dagens Norge, finner vi
somalierne. Her er både utdanningsnivået og sysselsettingen lav, og
problemene tilsvarende store.
– Men de har vært her kort
tid, vietnameserne lenge. Det blir interessant å se hvordan dette er
om 15 år, sier Berg.
Om forskeren skal oppsummere de tre viktigste grepene for god
integrering, blir det disse:
– Vi må jobbe med holdninger hos unger i skoler og barnehager. Vi
sier så fint at integrering er en toveissak, men i praksis legger vi
hele byrden på den ene parten. Vi må tilby språkopplæring og
tilrettelegging av utdanning, også for dem som kom før det
introduksjonsprogrammet som finnes nå. Og vi må gi flyktninger og
asylsøkere en så god start som mulig. Å putte en ung, enslig mann
inn i et hybelhus med 50 andre unge menn av ulike nasjonaliteter, er
ikke veldig lurt. Bolig er en viktig integreringsarena, og her kan
myndighetene gjøre noe.
– Det er viktigere med praksis enn med proklamasjoner, slår Berit
Berg fast. – Og vi må våge å diskutere tingene. I dag har vi
overlatt debatten til Fremskrittspartiet. Spør du meg om integrering
i Norge er mislykket, så svarer jeg nei. Men her finnes mørke
flekker og svarte hull som vi er nødt til å se på. Og jobben er
minst like mye majoritetens, altså vår.
Vietnamesisk melakoli
Nguyen Minh Tuan
skriver om hvordan han opplever å bo i Norge som vietnamesisk
flyktning.
NORGE HAR TATT I MOT
vietnamesiske flyktninger siden 1975. Etter 30 år teller
norsk-vietnameserne rundt 18 500 personer. Dersom vi ser tilbake til
de først ankomne, den gang ungdommer, er de nå enten i aktiv
arbeidsalder; rundt 50 år eller nærmere 60 år gamle. I løpet av
denne korte tiden i det andre hjemlandet har tre generasjoner kommet
til.
Vietnamesere flest er sterkt påvirket av
konfusianismen og betrakter familielivet som det viktigste.
Familien er bygget på arven som forfedrene har lagt for
etterkommende generasjoner. «Mennesker og fulgene har sitt opphav,
nemlig redet eller hjemmet», og hjemlandet er stedet hvor det hele
startet. Samtidig har vi ordtak som «Å tenke på elven når man
drikker dens vann». Derfor skal man ikke kimse over å kalle Norge
«det andre hjemlandet». Tvert i mot vil det fremheve vår vilje i å
integrere oss i det norske samfunnet, og samtidig å minne oss om
våre forpliktelser ovenfor dette landet, som har gitt oss tilflukt.
Med rettigheter følger også plikter.
Vi lever i Norge, tilpasser oss skikk og bruk etter norske normative
verdier. Men, til syvende og sist er dette kun et ytterlag. Kjernen
er fortsatt vietnamesisk, og det ytre laget kommer av så fort man er
kommet inn døra hjemme. Dette kultursjokket har vietnamesere måttet
utsette seg for gjennom tre generasjoner.
LENGSLER. De unge nyankomne i 1975 tok med mange minner i
bagasjen. Bilder av bygda, gamle skoler med taket dekket av grønn
mose, fønikshalens blomst. De tok med seg ao dài
(tradisjonelle klær) og konisk hatt.
De tok med seg minner om bøfler i rismarkene, og de små hyttene hvor
hele familien samlet seg. Disse minnene er hellige. I land med liten
vietnamesisk befolkning, slik som Norge, gjør det godt å mimre over
slike bilder, gjennom dem kan man gjennkjenne slektskap, og dele
både sorg og glede i eksilet.
SAVNER
HJEMLANDET: Mange av båtflyktningene som kom til Norge savner
hjemlandet. Men de vil ikke dra tilbake så lenge Vietnams regime
blir sittende.
SAMHOLD BLANT VIETNAMESERE I NORGE. Få flyktninger har
forespeilet seg en gjenforening med sine kjære etter å ha flyktet
fra det kommunistisk regimet i Vietnam, å flykte fra Vietnam betydde
det samme som å si adjø til familien. Det samme skjedde også for
internflyktninger under borgerkrigen. Å treffe hverandre var
vanskelig nok selv om man befant seg i samme land.
Gleden av å være i frihet kan noen gang synes mindre enn savnet
etter familien og hjemlandet. Mange vietnamesere er vant til å leve
i en stor kjernefamilie, og den er som sagt det viktigste i livet.
Man savner morsmålet sitt, og blir fort knyttet til de som snakker
det samme språket i det nye landet. Gjennom aktiviteter og samlinger
har vietnamesere funnet igjen noe av hjemlandet. Det har for mange
virket stabiliserende. Mange vietnamesiske organisasjoner ble dannet
og blomstret opp. I første omgang lokale initiativer, som etterhvert
ble koblet sammen. Etterhvert har vi til og med fått en
paraplyorganisasjon for vietnamesiske flyktninger i Norge, godt
hjulpet av Flyktningeorganisasjonen.
Å FØLE SEG FREMMED. På tross av samhold innad i vietnamesiske
miljøer, har den enkeltes tilpasninger vært komplisert. Dette
skyldes først og fremst språkbarrierer. Vietnamesere flest er ikke
helt fremmede for andre språk, i Vietnam har mange lært seg fransk
eller engelsk. Men, de færreste vietnamesere hadde kunnskaper om
Norge før de kom til landet. I den grad man visste noe, begrenset
det seg ofte til at det var kaldt og mye snø, og at nordmenn stammer
fra vikinger.
Det norske språk blir brukt av noen få millioner mennesker, det
snakkes kun innenfor det geografiske området Norge, og innehar så
mange forskjellige dialekter! Det er begrenset hvor mye man klarer å
lære seg på 240 timer med norsk språkundervisning.
Forøvrig blir det vanskeligere å lære et nytt språk jo eldre en er.
For å mestre et språk, må man snakke og bruke språket. Det er ikke
så lett når det mangler situasjoner der en naturlig kommer i snakk
med nordmenn. Dessuten, skulle det oppstår uenighet, vil som oftest
vietnameseren smile og resignere.
Det å være i eksil, i et fremmed land, kan gjøre deg feig,
selvtilliten forsvinner. For best å ivareta det felles rykte, og
ikke minst uttrykke takknmelighet ovenfor nordmenn, prøver
vietnamesere flest å innrette seg som best de kan, selv om det
skulle bety at de går på akkord med egen kultur. Nykommerne er
innesluttede, og bedre er det ikke med nordmennene. Resultatet er en
lite vellykket integreringsprosess.
ISOLASJON. Vietnamesiske båtflyktninger var lykkelige over å
bli tatt opp i en norsk båt. Riktignok ønsket de seg kanskje til
varmere land med flere slektninger og landsmenn, men lettelsen over
å slippe unna pirater på havet var enorm. Etterhvert har
flyktningene etablert seg i Norge.
Mange har fått seg jobb, men mange lever et ensformig liv der alle
dager er like. Legger man til de store samfunnsmessige forskjellene,
klimaet og dårlige kår, er det forståelig at de skyves ut i en ensom
isolasjon. Man blir mismodig.
De som er så heldige og har familier virker som magneter på de
enslige. Jo kaldere det er ute, dess sterkere er familievarmen.
Helgene er korte men meningsfylte. Verdier blir skapt inni hjemmene,
for utenfor er det mørkt og kaldt, og i høytidene har mange nordmenn
dratt på hytta uansett.
ARBEID OG UTDANNELSE. Som så mange andre innvandrere og
flyktninger, ble og blir vietnamesere ofte hyret til ufaglært
arbeid. Noen ganger fordi man ikke får utdannelsen sin godkjent i
Norge, men også ofte på grunn av språkbarrieren og at det er
vanskelig å orientere seg i det norske jobbmarkedet.
Men, man må også stille spørsmål ved norske mediers fremstilling av
de vietnamesiske flyktningene. Enkelte venstreradikale krefter mente
at vietnamesere sviktet hjemlandet sitt, da det trengte dem som
verst. De var kanskje ikke oppmerksomme på at flyktningene ellers
ville blitt forfulgt og lividert av nord-vietnamesiske myndigheter.
FREMTIDEN. De siste årene har unge med vietnamesisk bakgrunn
utviklet seg til de flittigste blandt studentene med
innvandrerbakgrunn. En stor andel vietnamesere mellom 30 og 40 år
har høyere utdanning. Likevel er det norske jobbmarkedet vanskelig å
ta seg inn i. Akkurat nå hersker det stor splittelse innad i
miljøet. Noen vietnamesere har levd hele sitt voksne liv i Norge og
ønsker å fortsette med det. De føler kanskje at de ikke har noe de
skulle ha sagt likevel i Vietnam.
Andre reiser til hjemlandet med verdifull utdannelse og masser av
pågangsmot i bagasjen. Enkelte kommer skuffet hjem.
Vietnamesere i Norge faller mellom to stoler: Man er ikke fullt ut
nordmann for nordmennene, og man blir ikke nødvendigvis motatt med
åpne armer blant vietnameserne heller, stridens kjerne er hva som er
genuint vietnamesisk, hva er best for landet, og hva er best for en
selv og familien.
Fremtiden ligger hos de unge, men nå må vi søke å samle kreftene.